Bài 20. Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Việt Trinh
Ngày gửi: 02h:57' 22-01-2024
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 449
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Việt Trinh
Ngày gửi: 02h:57' 22-01-2024
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 449
Số lượt thích:
0 người
NGHỊ LUẬN
VỀ VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ
I. Bài học. Tìm hiểu bài nghị luận
về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
Ví dụ: Đọc văn bản “Tri thức
là sức mạnh”, trả lời câu hỏi
a, b, c, d (trang 35, 36)
TRI THỨC LÀ SỨC MẠNH
[1] Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xit
Bê-cơn (Thế kỉ XVI-XVII) đã nói một câu
nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Sau này
Lê-nin, một người thầy của cách mạng vô
sản thế giới lại nói cụ thể hơn: “Ai có tri
thức thì người ấy có được sức mạnh”. Đó là
một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy, không
phải ai cũng hiểu được tư tưởng ấy.
[2]
Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta
kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của
công ti Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm
nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra
nguyên nhân. Người ta phải mời đến
chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và
làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải
trả cho ông 10.000 đôla. Nhiều người cho
Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền.
Nhưng trong giấy biên nhận Xten-mét-xơ
ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đôla.
Tiền tìm ra chỗ vạch đường thẳng ấy là
9999 đôla”. Rõ ràng người có tri thức thâm
hậu có thể làm được những việc mà nhiều
người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu
không biết cách chữa thì cỗ máy kia có
thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu
được không!?
[3] Tri thức cũng là sức mạnh của cách
mạng. Bác Hồ của chúng ta sau chuyến đi
Pháp năm 1946 trở về đã thu hút được
nhiều nhà trí thức Việt Nam danh tiếng đi
theo kháng chiến như kĩ sư Trần Đại Nghĩa,
tiến sĩ Nguyễn văn Huyên, các bác sĩ Tôn
Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, nhà toán học Tạ
Quang Bửu,…Các nhà trí thức ấy đã đem
tri thức của mình mà xây dựng các ngành
giới, giáo dục, y tế,…góp phần to lớn đưa
cuộc kháng chiến đến thành công. Trong
cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mĩ, các giáo sư Đàm
Trung Đồn, Vũ Đình Cự đã huy động tri
thức góp phần phá thủy lôi nổ chậm của
địch, khai thông bến cảng. Và ngày nay, các
nhà khoa học nông nghiệp, như Bùi Huy
Đáp, Vũ Tuyên Hoàng,…đã lai tạo giống
lúa mới, góp phần tăng sản lượng nông
nghiệp, làm cho nước ta không chỉ có đủ
lương thực mà còn trở thành một trong
những nước đứng hàng đầu về xuất khẩu
gạo trên thế giới.
[4] Tri thức có sức mạnh to lớn như thế
nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa
biết quý trọng tri thức. Họ coi việc học chỉ
là để có mảnh bằng mong sau này tìm việc
kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ
không biết rằng, muốn biến nước ta thành
một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân
chủ, văn minh, sánh vai các nước trong khu
vực và thế giới cần phải có biết bao nhà tri
thức tài năng trên mọi lĩnh vực!
(Hương Tâm)
Vấn đề
Văn
được
bảnbàn
trênđến
bànthuộc
về vấn
lĩnh
đềvực
gì? nào?
Vấn đề nghị luận: Giá trị của tri thức
khoa học và vai trò của người tri thức
trong sự phát triển của xã hội.
Thuộc lĩnh vực tưtưởng
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng, đạo đức, lối sống,... của con người
Nêu nội dung (luận điểm)
mỗi đoạn văn trong văn bản.
[1] Nêu vấn đề nghị luận (tri thức là sức mạnh
và người có tri thức là người có sức mạnh).
[2] Sức mạnh của tri thức trong lao động.
[3] Sức mạnh của tri thức trong cách mạng.
[4] Phê phán một số người không biết coi trọng
tri thức, sử dụng tri thức không đúng chỗ.
Văn bản sử dụng phép lập
luận chủ yếu nào? Em có
nhận xét gì về cách lập
luận?
[2]
Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta
kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của
công ti Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm
nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra
nguyên nhân. Người ta phải mời đến
chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và
làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải
trả cho ông 10.000 đôla. Nhiều người cho
Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền.
Nhưng trong giấy biên nhận Xten-mét-xơ
ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đôla.
Tiền tìm ra chỗ vạch đường thẳng ấy là
9999 đôla”. Rõ ràng người có tri thức thâm
hậu có thể làm được những việc mà nhiều
người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu
không biết cách chữa thì cỗ máy kia có
thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu
được không!?
[3] Tri thức cũng là sức mạnh của cách
mạng. Bác Hồ của chúng ta sau chuyến đi
Pháp năm 1946 trở về đã thu hút được
nhiều nhà trí thức Việt Nam danh tiếng đi
theo kháng chiến như kĩ sư Trần Đại Nghĩa,
tiến sĩ Nguyễn văn Huyên, các bác sĩ Tôn
Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, nhà toán học Tạ
Quang Bửu,…Các nhà trí thức ấy đã đem
tri thức của mình mà xây dựng các ngành
giới, giáo dục, y tế,…góp phần to lớn đưa
cuộc kháng chiến đến thành công. Trong
cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mĩ, các giáo sư Đàm
Trung Đồn, Vũ Đình Cự đã huy động tri
thức góp phần phá thủy lôi nổ chậm của
địch, khai thông bến cảng. Và ngày nay, các
nhà khoa học nông nghiệp, như Bùi Huy
Đáp, Vũ Tuyên Hoàng,…đã lai tạo giống
lúa mới, góp phần tăng sản lượng nông
nghiệp, làm cho nước ta không chỉ có đủ
lương thực mà còn trở thành một trong
những nước đứng hàng đầu về xuất khẩu
gạo trên thế giới.
- Văn bản sử dụng phép lập luận: Phân tích,
chứng minh, giải thích, tổng hợp.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục
- Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận này
là phải làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng, đạo
lí bằng cách giải thích, chứng minh, so
sánh, đối chiếu, phân tích,… để chỉ ra chỗ
đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó,
nhằm khẳng định tư tưởng của người viết.
Văn bản có thể chia làm mấy phần? Chỉ ra
nhiệm vụ từng phần và mối quan hệ của
chúng với nhau?
[1] Mở bài.
Nêu vấn đề nghị luận::giá trị của tri thức và
vai trò của người trí thức.
[2], [3] Thân bài.
Giải quyết vấn đề: chứng minh và khẳng định
sức mạnh của tri thức.
[2] Dẫn chứng: Chuyên gia Xten-mét-xơ… cứu một
cỗ máy thoát khỏi số phận một đống phế liệu.
[3] Dẫn chứng: Bác Hồ thu hút nhiều nhà trí thức
lớn tham gia đóng góp cho kháng chiến: Trần Đại
Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Đặng
Văn Ngữ, Tạ Quang Bửu..
[4] Kết bài.
Kết thúc vấn đề: Phê phán những biểu hiện
không coi trọng tri thức.
[1] Mở bài. Nêu vấn đề nghị luận.
[2], [3] Thân bài. Giải quyết vấn đề bằng phép
lập luận chứng minh, kết hợp với phân tích,
tổng hợp, giải thích, đối chiếu.
[4] Kết bài. Kết thúc vấn đề
Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba phần;
có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn chính
xác, sinh động.
I. Bài học. Tìm hiểu bài nghị luận về
một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng, đạo đức, lối sống,... của con người.
- Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận
này là phải làm sáng tỏ các vấn đề tư
tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng
minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,… để
chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư
tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của
người viết.
- Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba
phần; có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn
chính xác, sinh động.
(Ghi nhớ trang 36)
II. Luyện tập
Vận dụng. So sánh điểm giống nhau và
khác nhau giữa:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng
đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo
lí.
Nghị luận về một sự
Nghị luận về một vấn đề tư
tưởng, đạo lí
Giống việc, hiện tượng đời sống
Đều là dạng bài nghị luận xã hội (trình bày ý kiến, nhận
xét,…về một vấn đề xã hội)
Đối tượng là một sự - Đối tượng là những vấn đề
việc hoặc hiện tượng thuộc lĩnh vực tư tưởng hoặc
trong đời sống.
đạo đức, lối sống của con
ngưười.
- Từ một sự việc, hiện - Dùng giải thích, phân tích,
tượng đời sống mà nêu ra chứng minh… làm sáng tỏ các
tư tưởng, đạo lí quan trọng đối
những vấn đề tư tưởng.
với đời sống con người.
-
Khác
Bài tập trang 36. Đọc văn bản
“Thời gian là vàng”, trả lời các câu
hỏi bên dưới.
THỜI GIAN LÀ VÀNG
Ngạn ngữ có câu:Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời
gian thì không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh
nặng, nếu kịp thời chữa chạy thì sống, để chậm thì chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu,
biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hoá đúng lúc là lãi,
không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại
ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho
bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng
không kịp.
(Phương Liên)
a. Văn bản trên thuộc loại nghị luận nào?
- Văn bản nghị luận về vấn đề tưởng, đạo
lý.
b. Văn bản nghị luận về vấn đề gì? Chỉ
ra các luận điểm chính của văn bản đó?
b. Văn bản nghị luận về vấn đề gì? Chỉ
ra các luận điểm chính của văn bản đó?
- Văn bản bàn về giá trị của thời gian.
- Các luận điểm chính:
+ Thời gian là sự sống
+ Thời gian là thắng lợi
+ Thời gian là tiền.
+ Thời gian là tri thức.
c. Phép lập luận chủ yếu trong văn bản là gì?
Cách lập luận ấy có sức thuyết phục không?
- Phép lập luận chủ yếu là phân tích và chứng
minh. Lập luận có sức thuyết phục vì: Các luận
điểm được triển khai theo lối phân tích để
chứng tỏ thời gian là vàng. Sau mỗi luận điểm
là một dẫn chứng chứng minh làm luận điểm có
sức thuyết phục khẳng định lại vấn đề nghị
luận nêu tư tưởng, quan điểm của người viết.
Hướng dẫn học tập.
1. Bài cũ.
- Học thuộc bài (phần ghi nhớ; phân biệt bài nghị
luận về một sự việc, hiện tượng với bài nghị luận về
một vấn đề tư tưởng, đạo lí)
- Làm hoàn chỉnh các bài tập.
2. Bài mới: Chuẩn bị bài: Cách làm bài nghị luận
về một vấn đề tư tưởng đạo lí trang 51 54
VỀ VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ
I. Bài học. Tìm hiểu bài nghị luận
về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
Ví dụ: Đọc văn bản “Tri thức
là sức mạnh”, trả lời câu hỏi
a, b, c, d (trang 35, 36)
TRI THỨC LÀ SỨC MẠNH
[1] Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xit
Bê-cơn (Thế kỉ XVI-XVII) đã nói một câu
nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Sau này
Lê-nin, một người thầy của cách mạng vô
sản thế giới lại nói cụ thể hơn: “Ai có tri
thức thì người ấy có được sức mạnh”. Đó là
một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy, không
phải ai cũng hiểu được tư tưởng ấy.
[2]
Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta
kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của
công ti Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm
nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra
nguyên nhân. Người ta phải mời đến
chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và
làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải
trả cho ông 10.000 đôla. Nhiều người cho
Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền.
Nhưng trong giấy biên nhận Xten-mét-xơ
ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đôla.
Tiền tìm ra chỗ vạch đường thẳng ấy là
9999 đôla”. Rõ ràng người có tri thức thâm
hậu có thể làm được những việc mà nhiều
người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu
không biết cách chữa thì cỗ máy kia có
thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu
được không!?
[3] Tri thức cũng là sức mạnh của cách
mạng. Bác Hồ của chúng ta sau chuyến đi
Pháp năm 1946 trở về đã thu hút được
nhiều nhà trí thức Việt Nam danh tiếng đi
theo kháng chiến như kĩ sư Trần Đại Nghĩa,
tiến sĩ Nguyễn văn Huyên, các bác sĩ Tôn
Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, nhà toán học Tạ
Quang Bửu,…Các nhà trí thức ấy đã đem
tri thức của mình mà xây dựng các ngành
giới, giáo dục, y tế,…góp phần to lớn đưa
cuộc kháng chiến đến thành công. Trong
cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mĩ, các giáo sư Đàm
Trung Đồn, Vũ Đình Cự đã huy động tri
thức góp phần phá thủy lôi nổ chậm của
địch, khai thông bến cảng. Và ngày nay, các
nhà khoa học nông nghiệp, như Bùi Huy
Đáp, Vũ Tuyên Hoàng,…đã lai tạo giống
lúa mới, góp phần tăng sản lượng nông
nghiệp, làm cho nước ta không chỉ có đủ
lương thực mà còn trở thành một trong
những nước đứng hàng đầu về xuất khẩu
gạo trên thế giới.
[4] Tri thức có sức mạnh to lớn như thế
nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa
biết quý trọng tri thức. Họ coi việc học chỉ
là để có mảnh bằng mong sau này tìm việc
kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ
không biết rằng, muốn biến nước ta thành
một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân
chủ, văn minh, sánh vai các nước trong khu
vực và thế giới cần phải có biết bao nhà tri
thức tài năng trên mọi lĩnh vực!
(Hương Tâm)
Vấn đề
Văn
được
bảnbàn
trênđến
bànthuộc
về vấn
lĩnh
đềvực
gì? nào?
Vấn đề nghị luận: Giá trị của tri thức
khoa học và vai trò của người tri thức
trong sự phát triển của xã hội.
Thuộc lĩnh vực tưtưởng
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng, đạo đức, lối sống,... của con người
Nêu nội dung (luận điểm)
mỗi đoạn văn trong văn bản.
[1] Nêu vấn đề nghị luận (tri thức là sức mạnh
và người có tri thức là người có sức mạnh).
[2] Sức mạnh của tri thức trong lao động.
[3] Sức mạnh của tri thức trong cách mạng.
[4] Phê phán một số người không biết coi trọng
tri thức, sử dụng tri thức không đúng chỗ.
Văn bản sử dụng phép lập
luận chủ yếu nào? Em có
nhận xét gì về cách lập
luận?
[2]
Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta
kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của
công ti Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm
nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra
nguyên nhân. Người ta phải mời đến
chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và
làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải
trả cho ông 10.000 đôla. Nhiều người cho
Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền.
Nhưng trong giấy biên nhận Xten-mét-xơ
ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đôla.
Tiền tìm ra chỗ vạch đường thẳng ấy là
9999 đôla”. Rõ ràng người có tri thức thâm
hậu có thể làm được những việc mà nhiều
người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu
không biết cách chữa thì cỗ máy kia có
thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu
được không!?
[3] Tri thức cũng là sức mạnh của cách
mạng. Bác Hồ của chúng ta sau chuyến đi
Pháp năm 1946 trở về đã thu hút được
nhiều nhà trí thức Việt Nam danh tiếng đi
theo kháng chiến như kĩ sư Trần Đại Nghĩa,
tiến sĩ Nguyễn văn Huyên, các bác sĩ Tôn
Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, nhà toán học Tạ
Quang Bửu,…Các nhà trí thức ấy đã đem
tri thức của mình mà xây dựng các ngành
giới, giáo dục, y tế,…góp phần to lớn đưa
cuộc kháng chiến đến thành công. Trong
cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mĩ, các giáo sư Đàm
Trung Đồn, Vũ Đình Cự đã huy động tri
thức góp phần phá thủy lôi nổ chậm của
địch, khai thông bến cảng. Và ngày nay, các
nhà khoa học nông nghiệp, như Bùi Huy
Đáp, Vũ Tuyên Hoàng,…đã lai tạo giống
lúa mới, góp phần tăng sản lượng nông
nghiệp, làm cho nước ta không chỉ có đủ
lương thực mà còn trở thành một trong
những nước đứng hàng đầu về xuất khẩu
gạo trên thế giới.
- Văn bản sử dụng phép lập luận: Phân tích,
chứng minh, giải thích, tổng hợp.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục
- Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận này
là phải làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng, đạo
lí bằng cách giải thích, chứng minh, so
sánh, đối chiếu, phân tích,… để chỉ ra chỗ
đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó,
nhằm khẳng định tư tưởng của người viết.
Văn bản có thể chia làm mấy phần? Chỉ ra
nhiệm vụ từng phần và mối quan hệ của
chúng với nhau?
[1] Mở bài.
Nêu vấn đề nghị luận::giá trị của tri thức và
vai trò của người trí thức.
[2], [3] Thân bài.
Giải quyết vấn đề: chứng minh và khẳng định
sức mạnh của tri thức.
[2] Dẫn chứng: Chuyên gia Xten-mét-xơ… cứu một
cỗ máy thoát khỏi số phận một đống phế liệu.
[3] Dẫn chứng: Bác Hồ thu hút nhiều nhà trí thức
lớn tham gia đóng góp cho kháng chiến: Trần Đại
Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Đặng
Văn Ngữ, Tạ Quang Bửu..
[4] Kết bài.
Kết thúc vấn đề: Phê phán những biểu hiện
không coi trọng tri thức.
[1] Mở bài. Nêu vấn đề nghị luận.
[2], [3] Thân bài. Giải quyết vấn đề bằng phép
lập luận chứng minh, kết hợp với phân tích,
tổng hợp, giải thích, đối chiếu.
[4] Kết bài. Kết thúc vấn đề
Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba phần;
có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn chính
xác, sinh động.
I. Bài học. Tìm hiểu bài nghị luận về
một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng, đạo đức, lối sống,... của con người.
- Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận
này là phải làm sáng tỏ các vấn đề tư
tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng
minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,… để
chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư
tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của
người viết.
- Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba
phần; có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn
chính xác, sinh động.
(Ghi nhớ trang 36)
II. Luyện tập
Vận dụng. So sánh điểm giống nhau và
khác nhau giữa:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng
đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo
lí.
Nghị luận về một sự
Nghị luận về một vấn đề tư
tưởng, đạo lí
Giống việc, hiện tượng đời sống
Đều là dạng bài nghị luận xã hội (trình bày ý kiến, nhận
xét,…về một vấn đề xã hội)
Đối tượng là một sự - Đối tượng là những vấn đề
việc hoặc hiện tượng thuộc lĩnh vực tư tưởng hoặc
trong đời sống.
đạo đức, lối sống của con
ngưười.
- Từ một sự việc, hiện - Dùng giải thích, phân tích,
tượng đời sống mà nêu ra chứng minh… làm sáng tỏ các
tư tưởng, đạo lí quan trọng đối
những vấn đề tư tưởng.
với đời sống con người.
-
Khác
Bài tập trang 36. Đọc văn bản
“Thời gian là vàng”, trả lời các câu
hỏi bên dưới.
THỜI GIAN LÀ VÀNG
Ngạn ngữ có câu:Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời
gian thì không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh
nặng, nếu kịp thời chữa chạy thì sống, để chậm thì chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu,
biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hoá đúng lúc là lãi,
không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại
ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho
bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng
không kịp.
(Phương Liên)
a. Văn bản trên thuộc loại nghị luận nào?
- Văn bản nghị luận về vấn đề tưởng, đạo
lý.
b. Văn bản nghị luận về vấn đề gì? Chỉ
ra các luận điểm chính của văn bản đó?
b. Văn bản nghị luận về vấn đề gì? Chỉ
ra các luận điểm chính của văn bản đó?
- Văn bản bàn về giá trị của thời gian.
- Các luận điểm chính:
+ Thời gian là sự sống
+ Thời gian là thắng lợi
+ Thời gian là tiền.
+ Thời gian là tri thức.
c. Phép lập luận chủ yếu trong văn bản là gì?
Cách lập luận ấy có sức thuyết phục không?
- Phép lập luận chủ yếu là phân tích và chứng
minh. Lập luận có sức thuyết phục vì: Các luận
điểm được triển khai theo lối phân tích để
chứng tỏ thời gian là vàng. Sau mỗi luận điểm
là một dẫn chứng chứng minh làm luận điểm có
sức thuyết phục khẳng định lại vấn đề nghị
luận nêu tư tưởng, quan điểm của người viết.
Hướng dẫn học tập.
1. Bài cũ.
- Học thuộc bài (phần ghi nhớ; phân biệt bài nghị
luận về một sự việc, hiện tượng với bài nghị luận về
một vấn đề tư tưởng, đạo lí)
- Làm hoàn chỉnh các bài tập.
2. Bài mới: Chuẩn bị bài: Cách làm bài nghị luận
về một vấn đề tư tưởng đạo lí trang 51 54
 








Các ý kiến mới nhất