Ngoài chương trình SGK

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thiện Quỳnh Như
Ngày gửi: 21h:07' 17-11-2020
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 41
Nguồn:
Người gửi: Trần Thiện Quỳnh Như
Ngày gửi: 21h:07' 17-11-2020
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 41
Số lượt thích:
0 người
Ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam
22-12-1944
“ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN “ là do chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa từ dân mà ra, vì dân phục vụ
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Ngày 22-12-1944, tại Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập với 34 chiến sĩ, do đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy
Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau khi thành lập gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ đã chấp hành chỉ thị “ phải thắng trận đầu “
Chiến công
Tiêu diệt 2 đồn địch
Giết chết 2 tên đồn trưởng
- Bắt sống lính và thu toàn bộ vũ khí
Lực lượng đặc công tinh nhuệ, niềm tự hào của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Lực lượng cảnh sát biển
Lực lượng nữ sĩ chiến sĩ thông tin
Thượng cờ 2 tàu tên lửa tấn công nhanh của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Ý nghĩa: Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của Hồ Chủ tịch tuy ngắn nhưng rất súc tích bao gồm các vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự của Đảng ta:
-- Vấn đề kháng chiến toàn dân, động viên và vũ trang toàn dân
-- Nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng 3 thứ quân, phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang
-- Nguyên tắc tác chiến và chiếnn thuật du kích của lực lượng vũ trang
Mười lời thề danh dự của đội viên Việt Nam Tuyên
truyền Giải phóng quân
“Chúng tôi đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, xin lấy danh dự
của một người chiến sỹ cứu quốc mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh. Xin
thề:”
Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật-Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới
Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp chỉ huy, khi nhận được mệnh lệnh gì sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác
Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước
Lúc nào cũng khẩn trương hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sỹ tiên phong giết giặc cứu nước
Tuyệt đối giữ bí mật cho bộ đội về nội dung tổ chức, về các cấp chỉ huy, tuyệt đối giữ bí mật cho tất cả các đoàn thể cứu quốc
Khi ra trận nếu bị quân địch bắt được, thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội
Hết sức ái hộ bạn chiến đấu cũng như bản thân, hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận
Hết sức giữ gìn vũ khí, không bao giờ để vũ khí hư hỏng, hay rơi vào tay quân thù
Khi tiếp xúc với dân sẽ làm đúng ba điều răn: "không lấy của dân" – "không dọa nạt dân"- "không quấy nhiễu dân" và ba điều nên: "kính trọng dân" – "giúp đỡ dân" – "bảo vệ dân", để gây lòng tin cậy đối với dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí giết giặc cứu nước
Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình, giữ tư cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh Giải phóng quân và Quốc thể của Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay có 7 lực lượng
Lục quân
PHÒNG KHÔNG – KHÔNG QUAN
HẢI QUÂN
BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
CẢNH SÁT BIỂN
TÁC CHIẾN KHÔNG GIAN MẠNG
BẢO VỆ LĂNG CHỦ TỊCH
II. Quân đội Nhân dân Việt Nam và các cuộc kháng chiến:
Hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ chiến thắng trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau năm 1954, bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam tại miền Nam (dưới vĩ tuyến 17) cùng với thành viên Việt Minh (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích
Du kích Nam bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam
Bộ đội vượt Trường Sơn vào miền Nam.
Năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam với 1,26 triệu quân chủ lực và địa phương, đứng thứ tư thế giới về số lượng (sau Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ) và tương đương với các nước Đông Nam Á khác cộng lại, cùng với hàng triệu dân quân, du kích, tự vệ, so sánh với dân số Việt Nam lúc đó đứng hàng 15 trên thế giới.
• Lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm (thập niên 1980) được phát triển lên đến 1,6 - 2 triệu quân thường trực, xếp hạng thứ 4 thế giới về quân số.
Theo Wikipedia Quân đội nhân dân Việt Nam tính tới ngày 3/2/2014:
-Số quân tại ngũ là 482.000 người
-Số Quân dự phòng là 5.040.000 người
Nhận thức đầy đủ trách nhiệm , tích cực, tự giác học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
tích cực tham gia vào các hoạt động quốc phòng an ninh của Học viện
Góp phần vào việc xây dựng tiềm lực QP-AN,sự nghiệp BVTQ hòa bình ổn định, xây dựng tiềm lực, thế trận QPTD
Trách nhiệm của HS
Giờ học GDQP của học sinh THPT
CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE
NHÓM 2
LỚP 12H
 







Các ý kiến mới nhất