Violet
Baigiang
8tuoilaptrinh

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Ngũ Kinh

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lại thị hồng vân
Ngày gửi: 11h:00' 02-07-2015
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 18
Số lượt thích: 0 người
1.Kinh lễ
2.Kinh thi
3.Kinh thư
4.Kinh Xuân thu
5.Kinh dịch
NGŨ KINH GỒM
1. Kinh lễ
“TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN”
禮經 HOẶC 禮記
Là cuốn sách đầu tiên của Ngũ kinh, sách mẹ của cả bộ Tứ thư
Kinh Lễ hay còn gọi là Lễ ký quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước và những tấm gương có Lễ.

Học giả thời Hán là Đới Đức đã dựa vào bản do Lưu Hướng thu thập gồm 130 thiên rồi tổng hợp giản hoá còn 85 thiên gọi là Đại Đới Lễ ký, sau đó cháu Đới Đức là Đới Thánh lại đơn giản hoá Đại Đới Lễ ký còn 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt lệnh, Minh Đường vị vàNhạc ký, tổng cộng là 49 thiên, được gọi là Tiểu Đới Lễ ký

Đường bị thất lạc quá nửa, hiện nay chỉ còn 39 thiên, do đóTiểu Đới Lễ ký là bản Kinh Lễ thông dụng hiện nay.

duy trì và ổn định trật tự xã hội nhiễu nhương cuối thời Xuân thu.. Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sách Luận Ngữ).
DANH MỤC 49 THIÊN
Khúc lễ thượng (hai thiên)
Khúc lễ hạ (hai thiên)
Đàn cung thượng
Đàn cung hạ
Vương chế
Nguyệt lệ
Tăng tử vấn
Văn Vương thế tử
Lễ vận
Lễ khí
Giao đặc sinh
Nội tắc
Ngọc tảo
Minh đường vị
Tang phục tiểu kí
Đại truyện
Thiếu nghi
Học ký
Nhạc ký ( sau này tách ra , phát triển thành Nhạc kinh sau này thất truyền )
Tạp ký thượng
Tạp ký hạ
Tang đại ký
Tế pháp
Tế nghĩa
Tế thống
Kinh giải
Ai công vấn
Trọng nghi yên cư
Khổng tử nhàn cư
Phường ký
Trung dung ( sau này tách ra thành Tứ thư)
Biểu ký
Truy y
Bôn tang
Vấn tang
Phục vấn
Gian truyện
Tam niên vấn
Thâm y
Đầu hồ
Nho hành
Đại học
Quan nghĩa


Hôn nghĩa
Hương ẩm tữu nghĩa
Xạ nghĩa
Yến nghĩa
Sính nghĩa
Trang phục tứ chế

Tóm tắt bốn chủ đề lớn
Chuyện về những người giũa Lễ(Khổng tử , cua chúa , quan chức , sĩ tử)
Tục lệ quan –hôn-tang-tế
Tu dưỡng bản thân theo chữ Lễ với quan điểm Nho gia
Quy định lễ nghi giao tiếp trong xã hội.
Kinh Lễ ngày nay còn lại có 49 thiên.
Hai thiên đầu tiên (1,2) gọi là “Khúc Lễ” (nghi lễ khuc chiết, cụ thể rõ ràng) có tính phổ biến, thông dụng cho mọi người.
“Khúc lễ” chủ yếu nói cách ứng xử trong sinh hoạt thường ngày, chưa phải là những dịp lễ quan trọng hoặc việc lớn. Nhưng khúc lễ lại có phạm vi ứng dụng phổ biến hơn cả.
Người ta không trải qua được việc nhỏ (lễ nhỏ) thì làm sao được việc lớn !
Sách Trung Dung nói “Lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên”. Uy nghi có nghĩa là “vẻ mặt, trang phục, hành vi, lời nói đúng mực khi giao tiếp .


Khúc Lễ gồm 6 chủ đề
Lễ đối với cha mẹ
Lễ đối với bậc trưỡng lão
Lễ đối với thầy giáo
Lễ giới hạn giữa nam và nữ
Lễ giáo dục thiếu niên nhi đồng
Lễ sinh hoạt rộng rãi.
(1) Lễ đối với cha mẹ (trích)
1. Mùa lạnh con phải xem cha mẹ mặc đủ ấm chưa, mùa hạ xem cha mẹ đủ thoáng mát chưa, hằng đêm trải giường cho cha mẹ. Buổi sớm phải đến vấn an cha mẹ, để ý tình trang sức khỏe của song thân
2. Con cái nếu cần đi ra ngoài phải thưa bẩm, được cho phép mới đi. Khi trở về phải đến trình diện cha mẹ để cha mẹ yên tâm. Đi tới đâu phải có nơi chốn nhất định và báo cho cha mẹ biết. (.v.v…)

2. Kinh thi
Do Khổng tử sưu tập, biên tập làm môn học văn chương duy nhất trong bộ Ngũ kinh.
Kinh Thi gồm có 311 thiên. Trong số đó, chỉ có 305 thiên là đầy đủ, còn 6 thiên kia chỉ có đề mục nhưng không có lời. Theo bản Mao Thi, Kinh Thi gồm có ba phần như sau:
Quốc phong( văn học dân gian)
Quốc phong là những bài ca dao của dân tộc các nước chư hầu, đuợc nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên, chia làm 15 quyển, mỗi quyển một nước, gồm có:
1. Chính phong: Chu nam (nhà Chu) và Thiệu nam (Chính phong: ca dao chính thức)
2. Biến phong: Bội phong, Dung phong, Vệ phong, Vương phong, Trịnh phong, Tề phong, Ngụy phong, Đường phong, Tần phong, Cối phong, Tào phong, Mân phong (hoặc Bân phong).
(biến phong: ca dao rải rác nơi khác, phụ)
(biến phong: ca dao rải rác nơi khác, phụ)
Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát nơi triều đình. Nhã chia ra làm 2 phần:
1. Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp các buổi yến tiệc quí tộc (74 thiên).
2. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử hợp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).
Tụng (văn chương bác học/ văn học viêt)
Tụng nghĩa là ngợi khen, gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên, chia làm:
1. Chu tụng: 31 thiên. (Ca tụng nhà Chu)
2.Lỗ tụng :4 thiên
3.Thương tụng :5 thiên
Trong Kinh Thi có lục nghĩa là: Phong, Nhã, Tụng, phú, tỷ, hứng. Phong, Nhã, Tụng là trỏ bộ phận của âm nhạc còn phú, tỷ, hứng tức là các thể văn của Phong, Nhã, Tụng.
Ba thể phú, tỷ và hứng nói về kỹ thuật làm thơ. Chỉ rõ tên, nói rõ việc, ấy là phú. Thấy việc hư hỏng đương thời mà không dám nói rõ, dùng phép so sánh kín đáo để phóng thích, ấy là thể tỷ. Mượn vật để nói nên lời là thể hứng. Sự bất đồng giữa tỷ và hứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói rõ ý chính, thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi nói rõ ý chính ra.

Do nội dung Kinh Thi gồm có ba phần lớn (Phong, Nhã, Tụng) và ba thể (phú, tỷ, hứng) mà cổ nhân đã gọi là sáu nghĩa của Kinh Thi. Riêng về Phong, Nhã, Tụng, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy theo quan điểm của mỗi học giả, nhưng có thể thừa nhận cách phân lọai trong Mao Thi là tương đối hợp lý.
QUỐC PHONG (GỒM 159 THIÊN/ BÀI):
Chu Nam (Chính phong) (có 11 thiên):
1.Quan thư:tương tự
2.Cát đàm :Phận sự người vợ lo dệt vải
3.Quyền nhỉ:Vợ nhớ chồng .
4.Nam hữu cù mộc :chúc người quân tử.
5.Chung tư:chúc đông con.
6.Đào yêu:khen thục nữ lập gia đình.
7.Thố tứ:khen người có tài cán .
8. Phù dĩ:Phụ nữ an nhàn đi hái trái.
9.Hàn quảng : khen phụ nữ đã trở lại đoan trang được người kính nể.
10.Nhữ phần :Vợ chồng vẫn trung thành .
11.Lân chi chỉ:Khen tặng dòng dõi của Văn vương.
Thiệu Nam (Chính phong)(14 thiên):
1. Thước sào: Khen tặng người con gái chư hầu được lấy chồng.
2.Phái phiên:Khen tặng vợ chư hầu lo cho việc cúng tế
4. Thái tần: Khen tặng vợ quan đại phu lo việc cúng tế.
5.Cam đường:Kính giữ di tích của Thiệu Bá.
6. Hành lộ: Con gái lấy lẽ giữ mình mà cự tuyệt người con trai vô lễ.
7.Cao dương:Khen quan lại y phục bình thường , dáng thảnh thơ tự đắc.
8.Ẩn kỳ lôi:Vợ nhớ chồng mong chồng mau trở về.
9.Biểu hữu mai :con gái lo được gả kịp thời.
10.Tiểu tinh :phận thiếp được hầu hạ vua.
11.Giang hữu tự: Vợ chính rước các hầu thiếp đi theo .
12.Dã hữu tử khuân:lời người con gái chế giễu người yêu.
13. Hà bỉ nũng hĩ : khen con gái nhà Chu ciung kính hòa thuận đi lấy chồng .
14.Trâu ngu :Chư hầu đi săn có nhân đạo.
Bội phong ( 19 thiên):
1. Bách chu: Tình cảnh người vợ cả bị bỏ rơi.
2.Lục y : Tình cảm vợ chính bị lạnh lùng , hầu thiếp được thân mến .
3.Yến yến :Vợ chính thương nhớ đưa tiễn nàng hầu thiếp về quê.
4.Nhật nguyệt:Lời than thở của người vợ bị phụ bạc.
5.Chung phong:Cảnh người vợ sống với người chồng cuồng si ngu dại.
6. Kích cổ: Nỗi lòng người lính chiến phải xa cách vợ nhà.
7. Khải phong: Lời con tự trách không khéo thờ mẹ để mẹ đi tái giá.
8. Hùng trĩ: Vợ nhớ tưởng chồng đang đi làm ở xa.
9. Bào hữu khổ diệp: Lời than của người bị gò bó tình yêu.
10. Cốc phong: Nỗi lòng người vợ bị chồng đuổi đi.
11. Thức vi: Lời của bề tôi trách vua chịu hèn hạ nương tựa nước ngoài.
12. Mao khâu: Kẻ lưu vong trách nước ngoài không chịu tiếp cứu.
13. Giản hề: Lời người hiền bất đắt chí chịu làm chức phận khiêm nhường.
14. Tuyền thủy: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở nước xa, nhớ nhà muốn trở về.
15. Bắc môn: Cảnh nghèo khó của quan lại thời loạn.
16. Bắc phong: Nước sắp loạn, rủ nhau đi tỵ nạn.
17. Tĩnh nữ: Lời ước hẹn tình yêu.
18. Tân đài: Nỗi lòng người con gái gặp ông chồng hèn hạ loạn luân.
19. Nhị tử thừa chu: Lời thương xót hai anh em giành nhau cái chết.
Dung phong ( 10 thiên ):
1. Bách chu: Lời người góa phụ thủ tiết.
2. Tường hữu từ: Chê dâm ô trong bọn vua chúa
3. Quân tử giai lão: Tả dung sắc người đẹp mà kém đức hạnh.
4. Tang trung: Lời ước hẹn tình yêu.
5. Thuần chi bôn bôn: Lời trách kẻ loạn luân dâm ô.
6. Đính chi phương tring: Khen vua chăm lo xây dựng quốc gia.
7. Đế đống: Lời gái đi tìm người yêu.
8. Tướng thử: Lời châm biếm kẻ vô lễ thiếu uy nghi.
9. Can mao: Việc quan chức biết thăm viếng người hiền.
10. Tái trì: Lời người con gái nóng lòng về thăm nước đã mất.
Vệ phong ( 10 thiên )
1. Kỳ úc: Lời khen tặng vua tu thân
2. Khảo bàn: Tình cảnh người hiền ở ẩn.
3. Thạc nhân: Tả người đẹp và quyền quý được rước dâu.
4. Manh: Lời người con gái trách người yêu phụ bạc.
5. Trúc can: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở xa nhớ nhà.
6. Hoàn lan: Lời châm biếm vua còn nhỏ mà tự kiêu.
7.Cát lũy : Lời than thỡ của người quân tử gặp thời loạn loại không sống vui.
8. Bá hề: Nỗi lòng nhớ chồng.
9. Hữu hồ: Nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá.
10. Mộc qua: Lời tặng đáp để kết giao với nhau.


Vương phong ( 10 thiên )
1. Thử ly: Nỗi cảm xúc thời xưa đã điêu tàn.
2. Quân tử vu dịch: Nỗi nhớ chồng đi sai dịch nơi xa.
3. Quân tử dương dương: Cảnh thanh nhã khi chồng về xum họp.
4. Dương chi thủy: Nỗi lòng người lính đóng đồn ở xa nhớ vợ.
5. Trung cốc hữu thôi: Lời than thở của người vợ bị đuổi bỏ.
6. Thố viên: Nỗi lòng của người quân tử gặp thời loạn không vui sống
7. Cát lũy: Lời than thở của người dân trôi nổi trong thời loạn lạc.
8. Thái cát: Tưởng nhớ tha thiết tình nhân.
9. Đại xa: Đắm đuối yêu nhau nhưng còn sợ pháp luật không dám bày tỏ.
10. Khâu trung hữu ma: Lời giễu yêu của cô gái khi tình nhân không đến.
Trịnh phong (20 thiên )
1. Tri y: tình của nhân dân mến đãi quan hiền tài.
2. Thương Trọng tử: bị gò bó, cô gái dặn người yêu không nên đến nhà tìm.
3. Thúc vu điền: lời khen tặng Cung Thúc Đoạn.
4. Thanh nhân: tình cảnh quân đội rã rời nhụt chí chiến đấu.
5. Cao cầu: lời khen tặng quan chức không đổi thay tiết tháo.
6. Tuân đại lộ: người con gái trách chồng ruồng bỏ.
7. Nữ viết kê mình: Vợ thương chồng, lo phụng sự chồng chu đáo.
8. Hữu nữ đồng xa: tả người con gái đẹp đi chung xe.
9. Sơn hữu phù tô: lời con gái đang yêu trêu ghẹo tình nhân.
10. Thác hề: người con gái nhiệt tình tỏ ý mời trai cùng ca hát nhảy múa.
11. Giảo đồng: lời đùa giỡn giữa cô gái với người yêu.
12. Khiên thường: lời cô gái vui đùa với người yêu.
13. Phong: cô gái hối hận không đưa người yêu.
14. Đông môn chi thiêu: cô gái tỏ tình với người yêu.
15. Phong vũ: cô gái hả hê khi gặp người yêu.
16. Tử khâm: cô gái mong nhớ người yêu.
17. Dương chi thủy: khuyên gười yêu giữ trọn niềm tin giữa hai người.
18. Xuất kỳ đông môn: lòng trung thành mến thương vợ.
19. Dã hữu man thảo: trai gái gặp nhau và cũng vừa lòng thích ý.
20. Trân vĩ: trai gái thừa dịp dạo chơi để trao ân tình.
Tề phong ( 11 thiên ):
1. Kê minh: lời người hiền phi khuyên vua dậy sớm.
2. Tuyền: lời châm biếm vua quan ham săn bắn mà quên việc chính trị.
3. Trử: chàng rể chờ rước cô dâu.
4. Đông phương chi nhật: trai gái yêu nhau hoà thuận với nhau.
5. Đông phương vị minh: lời châm biếm quan coi tính giờ sai.
6. Nam Sơn: lời châm biếm bọn vua chúa anh em thông dâm.
7. Phủ điền: lời khuyên chớ dục tốc mà bất đạt.
8. Lô linh: lời khen tặng vua đi săn.
9. Tệ cẩu: châm biếm người đàn bà loạn luân được tự do trở về thông dâm với anh ruột.
10. Tái khu: châm biếm người đàn bà thông dâm với anh ruột.
11. Y ta: khen Lỗ Trang Công đủ tài mà không ngăn được mẹ.

Ngụy phong ( 7 thiên )
1. Cát cú: châm biếm người keo kiệt.
2. Phần tứ nhu: châm biếm người cần kiệm không trúng lễ.
3. Viên hữu đào: nỗi lo buồn của người hiểu biết với thời cuộc bấy giờ.
4. Trắc hộ: nỗi lo buồn của cha mẹ, anh em người đi quân dịch.
5. Thập mẫu chi gian: chính trị hỗn loạn, người hiền lo trở về ở ẩn.
6. Phạt đàn: người quân tử chẳng chịu ngồi không mà hưởng.
7. Thạc thử: dân chúng hận vua bội bạc mới bỏ đi nơi khác.
Đường phong ( 11 thiên )
1. Tất suất: lời răn cũng nên vui chơi, nhưng không nên thái quá, phải lo công việc của mình.
2. Sơn hữu xu: ai rồi cũng chết, nên cũng nên vui chơi.
3. Dương chi thủy: dân chúng chở che, ủng hộ người quân tử dựng nước.
4. Tiêu liêu: khen tặng cây tốt trái nhiều.
5. Trù mậu: lời trai gái mừng rỡ vì được thành vợ chồng.
6. Đệ đỗ: lời than trách của người không anh em mà cũng không được ai giúp đỡ.
7. Cao cầu:lời than phiền quan lại hống hách không ưa dân.
8. Vô y: lời kiêu ngạo của kẻ soán ngôi mà trở nên danh chính ngôn thuận do hối lộ.
9. Hữu đệ chi đỗ: vua mong hậu đãi bậc hiền tài.
10. Cát sinh: lời chung thủy của người vợ lính quân dịch mong nhớ chồng.
11. Thái linh: chớ nghe gièm pha.
Tần phong ( 10 thiên )
1. Xa lân: tìm được vua đáng thờ.
2. Tứ thiết: vua tôi hòa hiệp cùng đi săn bắn.
3. Tiểu nhung: chinh phụ khen nhớ chồng.
4. Kiêm gia: đi tìm người hiền.
5. Chung Nam: lời dân khen tặng vua mình.
6. Hoàng điểu: dân thương tiếc người có tài mà bị chôn sống theo vua.
7. Thần phong: vợ nhớ chồng vắng nhà.
8. Vô y: binh sĩ thương nhau lo việc chiến đấu.
9. Vị dương: tiễn người cậu ra đi.
10. Quyền dư: lời than của người hiền lần lần bị bạc đãi.
Trần phong ( 10 thiên )
1. Uyển khâu: người hoang đãng múa hát vui chơi.
2. Đông môn chi phần: trai gái tụ hợp múa hát trao ân tình.
3. Hoàng môn: người ở ẩn dễ tính sống thế nào cũng được.
4. Đông môn chi trì: trai gái nói chuyện mà hiểu lòng nhau.
5. Đông môn chi dương: trai gái hẹn mà không gặp.
6. Mộ môn: kẻ ác được cảnh cáo mà không biết hối cãi.
7. Phong hữu thước sào: lo buồn vì người yêu bị kẻ khác lừa bịp.
8. Nguyệt xuất: nhớ người đẹp mà lòng ưu sầu.
9. Tru Lâm: châm biếm vua thông dâm với vợ quan.
10. Trạch bì: đau đớn nhớ thương mà không được gặp người yêu.
Tào phong ( 4 thiên )
1. Phù du: ngao ngán người đời ham mê vật chất mà muốn trở về ở yên.
2. Hậu nhân: lời châm biếm đứa tiểu nhân được làm quan to.
3. Thi cưu: khen tặng người quân tử chuyên nhất công bình, đủ tài đức trị yên thiên hạ.
4. Hạ tuyền: thương tiếc nhà Chu không còn cường thịnh như xưa.
Bân phong (7 thiên )
1. Thất nguyệt: những công việc phải làm quanh năm của nhân dân.
2. Xi hiêu: chim tận tụy bảo vệ ổ qua cơn giông bão.
3. Đông Sơn: tình cảnh khi chinh chiến trở về.
4. Phá phủ: quân sĩ khổ nhọc nhưng vẫn kính mến chủ tướng.
5. Phạt kha: việc gì cũng có đường lối noi theo.
6. Cửu vực: dân mến tiếc Chu công.
7. Lang bạt: thái độ ung dung của Chu công.
GHI CHÚ
DÂN CA 15 NƯỚC BẮC SÔNG HOÀNG HÀ
PHONG
國風是《詩經》中的前160篇,收各諸侯國民歌(「風」)。
章次
章名
注釋
所含目次
01 周南 Chu Nam 東周王朝直接統治區(大致包括今河南的洛陽、偃師、鞏縣、溫縣、沁陽、濟源、孟津一帶地方)內受到「南音」影響的民歌 001-011
02 召南 Thiệu Nam 召國及其南部之民歌 012-025
03 邶風 Bắc phong 邶國民歌 026-044
04 鄘風 Dung phong 鄘國民歌 045-054
05 衛風 Vệ phong 衛國民歌 055-064
國風 QUỐC PHONG
06 王風 Vương phong 王,是「王畿」的簡稱,即東周王朝的直接統治區。和周南不同,王風所含的是東周國當地的固有音樂。 065-074
07 鄭風 Trịnh phong 鄭國民歌 075-095
08 齊風 Tề phong 齊國民歌 096-106
09 魏風 Ngụy phong 魏國民歌 107-113
10 唐風 Đường phong 唐國民歌 114-125
11 秦風 Tần phong 秦國民歌 126-135
12 陳風 Đông phong 陳國民歌 136-145
13 檜風 Cối phong 檜國民歌 146-149
14 曹風 Tào phong 曹國民歌 150-153
15 豳風 Bân phong 豳國民歌 154-160

Chú thích: mục 06: 王風 “vương” tức là [vương kỳ] gọi đơn giản, tức khu vực cai trị của Đông Chu vương triều và Chu Nam, Vương phong là âm nhạc truyền thống vùng Đông Chu quốc.

Tiểu nhã
1. Lộc minh: Đãi đằng tân khách để vua tôi quyến luyến nhau.
2. Tứ mẫu: Nỗi lòng của bề tôi vì việc vua sai mà không phụng dưỡng được cha mẹ.
3. Hoàng hoàng giả hoa: Bề tôi lo công việc của vua sai.
4. Thường đệ: Anh em, vợ con thì bao giờ cũng quý hơn bạn hữu.
5. Phạt mộc: Tìm bạn bè, hậu đãi bạn bè.
6. Thiên bảo: Lời của bề tôi cúc tụng vua.
7. Thái vi: Nỗi lòng người chiến sĩ lúc ra đồn thú và lúc trở về.
8. Xuất xa: Quân đội đi và trở về sau khi thắng trận.
9. Đệ đồ: Vợ mong chồng đi quân dịch mau trở về.
10. Nam cai (không có lời thơ).
11. Bạch hoa (không có lời thơ).
12. Hoa thử (không có lời thơ).
13. Ngư ly: Các món để ăn uống đãi khách rất nhiều và ngon.
14. Do canh: (không có lời thơ).
15. Nam hữu gia ngư: Món ăn vật uống ngon lành đem ra đãi khách.
16. Sùng khâu (không có lời thơ).
17. Nam sơn hữu đài: Lời chủ nhân chúc tụng tân khách.
18. Do nghi: (không có lời thơ).
19. Lục tiêu: Lời thiên tử chúc tụng tân khách.
20. Trẫm lộ: Chư hầu có uy nghi đứng đắn đến chầu Thiên tử được đãi đằng yến tiệc.
21. Đồng cung: Thiên tử đãi yến và ban cung cho chư hầu.
22. Tinh tinh giả nga: Lòng chủ nhân ham thích tân khách.
23. Lục nguyệt: Cảnh trạng tướng lãnh đem quân đánh giặc.
24. Thái khỉ: Quân đội ra đánh dẹp giặc rợ làm phản.
25. Xa công: Thiên tử đi săn cùng chư hầu.
26. Cát nhật: Thiên tử đi săn.
27. Hồng nhạn: Dân chúng lưu lạc nghèo khổ được vua cứu giúp.
28. Đình liệu: Thiên tử nôn nao sắp ra triều gặp chư hầu.
29. Miễn thủy: Buồn đời loạn lạc tình đời biến đổi.
30. Hạc minh: Trong cái dở có cái hay, trong cái hay có cái dở. Hay dở đắp đổi nhau.
31. Kỳ phủ: Quân sĩ đi quân dịch oán trách quan chỉ huy.
32. Bạch câu: Mong lưu giữ được người hiền tài.
33. Hoàng điểu: Dân lưu lạc đến nước khác cũng ở không yên, ý muốn trở về.
34. Ngã hành kỳ dã: Vì chồng phụ bạc, vợ bỏ trở về.
35. Tư can: Vua xây dựng cung thất mà ở, rồi sinh con cái.
khổ.
38. Chính nguyệt: Buồn than đời điên đảo, nhân dân sầu khổ, tình đời thoái hóa 36. Vô dương: Việc vua nuôi bò dê.
37. Tiệt nam sơn: Trách thừa tướng tham bạo bất công khiến nhân dân cùng



39. Thập nguyệt chỉ giao: Dân chúng hoạn nạn vì bọn tiểu nhân được trọng dụng.
40. Vũ vô chính: Trách trời, trách vua, trách quan trong thời biến loạn.
41. Tiểu mân: Than triều đình toàn kẻ tiểu nhân, ra làm quan không tránh khỏi tai họa.
42. Tiểu uyển: Lời khuyên răn nhau phải giữ mình để tránh họa.
43. Tiểu biển: Lời than trách vua cha.
44. Xảo ngôn: Khuyên vua chớ nghe lời sàm nịnh.
45. Hạ nhân tư: Trách mắng đứa tiểu nhân đã lánh mặt.
46. Hạng bá: Trách mắng đứa siểm nịnh đã hại mình.
47. Cốc phong: Trách bạn vì tiểu tiết mà quên nhau.
48. Lục nga: Nhớ ơn cha mà tự trách mình.
49. Đại đông: Thương dân nghèo khổ vì bị vua bóc lột.
50. Tứ nguyệt: Thương xót mình mà trách vua bất tài.
51. Bắc sơn: Phiền trách vua không công bình, quan kia nhàn rảnh.
52. Vô tương đại xa: Chớ lo nghĩ điều ưu phiền.
53. Tiểu minh: Than thân mình mà răn bạn đồng liêu.
54. Cổ chung: Trách vua đương thời mà nhớ tiếc vua xưa.
55. Sở từ: Lo cày cấy để có vật phẩm cúng tế thần linh.
56. Tín Nam Sơn: Lo trồng trọt để có vật phẩm cúng tế thần linh.
57. Phủ điền: Lo cúng tế để được mùa.
58. Đại điền: Công việc nhà nông.
59. Chiêm bỉ lạc hỉ: Lời chư hầu khen tặng Thiên tử.
* “Nhất nhật thiên thu” (Một ngày, ngàn năm): Bài thơ Thái Cát (采葛) trong Kinh Thi có viết: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề (一日不見、如三秋兮), nghĩa là “Một ngày không gặp mặt bằng ba năm xa cách”.

(Không có Đại nhã)
Kinh thư
Kinh Thư (書經 Shū Jīng): là một cuốn trong bộ sách Ngũ Kinh của Trung Quốc, ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ trước Khổng Tử. Khổng Tử biên tập lại để giúp các vua chúa đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn và tránh tàn bạo như Kiệt, Trụ.
NỘI DUNG
Kinh Thư bao gồm :
Ngu thư (ghi chép về đời Nghiêu và Thuấn , nhà Ngu),
Hạ thư (ghi chép về vua Vũ và nhà Hạ),
Thương thư (ghi chép về Thành Thang và nhà Thương)
Chu thư (ghi chép về nhà Chu).
Ngu thư gồm các thiên:
Nghiêu Điển
Thuấn Điển
Đại Vũ mô
Cao Dao mô
Ích Tắc
Hạ thư gồm các thiên:
Vũ Cống
Cam Thệ
Ngũ Tử chi ca
Dận Chinh
Thương thư gồm các thiên:
Thang Thệ
Trọng Hủy chi cáo
Thang Cáo
Y Huấn
Tứ Mệnh
Tồ Hậu
Thái Giáp thượng
Thái Giáp trung
Thái Giáp hạ
Hàm Hữu nhất đức
Bàn Canh thượng
Bàn Canh trung
Bàn Canh hạ
Thuyết Mệnh thượng
Thuyết Mệnh trung
Thuyết Mệnh hạ
Cao Tông dung nhật
Tây Bá kham lê
Vi Tử
Chu thư gồm các thiên:
Thái Thệ thượng
Thái Thệ trung
Thái Thệ hạ
Mục Thệ
Vũ Thành
Hồng Phạm
Lữ Ngao
Kim Đằng
Đại Cáo
Vi Tử chi mệnh
Khang Cáo
Tửu Cáo
Tử Tài
Triệu Cáo
Lạc Cáo
Đa Sĩ
Vô Dật
Quân Thích
Thái Trọng chi mệnh
Đa Phương
Lập Chính
Chu Quan
Quân Trần
Cố Mệnh
Khang Vương chi cáo
Tất Mệnh
Quân Nha
Quynh Mệnh
Lữ Hình
Văn Hầu chi mệnh
Phí Thệ
Hai tư tưởng tiêu biểu của Kinh Thư
1. “Vương đạo lạc thổ” (Đường vua, đất vui [ chương Hồng Phạm (洪範) viết:
Vô hữu tác hảo, tuân vương chi đạo (無有作好、遵王之道),
nghĩa là “Yêu chớ theo cách thiên vị, hãy theo đạo Vương”.
2. “Quy mã phóng ngưu” (Trả ngựa, thả bò)
[chương Vũ Thành 武成), sau khi Vũ Vương (nhà Chu) đã trả thù đối với Trụ Vương (nhà Thương), có viết: Quy mã ư Hoa Sơn chi dương, phóng ngưu ư Đào Lâm chi dã (歸馬于華山之陽、放牛于桃林之野),
nghĩa là “Trả ngựa ở hướng nam của núi Hoa Sơn và thả con bò ở đồng của rừng Đào Lâm“, tức là chiến tranh đã được kết thúc rồi.
Kinh xuân thu
Xuân Thu (tiếng Trung Quốc: 春秋; phiên âm la tinh: Chūnqiū), cũng được gọi là Lân Kinh (麟經) là bộ biên niên sử nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 tr.CN tới năm 481 tr.CN. Đây là văn bản lịch sử Trung Quốc sớm nhất còn lại và được ghi chép theo các quy tắc sử biên niên. Văn bản cực kỳ súc tích, và nếu chúng ta bỏ toàn bộ những lời phê bình, nội dung dài khoảng 16.000 nghìn từ, vì thế chỉ có thể hiểu được nghĩa của nó với sự hỗ trợ của những lời bình của các học giả thời xưa, theo truyền thống Tả Truyện.
Theo truyền thống, cuốn sách này được coi là do Khổng Tử biên soạn (theo giả thuyết củaMạnh Tử), nó được đưa vào trong bộ Ngũ Kinh của văn học Trung Quốc.
Nội dung
Thời cổ đại Trung Quốc, “Xuân Thu” là một từ hoán dụ thường được dùng để chỉ tổng thể khoảng thời gian trong năm (mùa xuân và mùa thu đại diện cho cả năm), và cũng thường được dùng làm tiêu đề cho những cuốn biên niên sử của nhiều nước chư hầu Trung Quốc giai đoạn đó. Ví dụ, chương Minh Quỷ trong cuốn Mặc Tử đã đề cập tới nhiều cuốn Biên niên sử Xuân Thu của nhà Chu, nước Yên, nước Tống và nước Tề. Tất cả các văn bản đó hiện đều không còn; chỉ cuốn biên niên sử nước Lỗ còn tồn tại.
Phạm vi sự kiện được ghi chép trong cuốn sách chỉ tập trung vào các quan hệ ngoại giaogiữa các nước chư hầu phong kiến, các liên minh và các hành động quân sự, cũng như những sự kiện sinh tử bên trong gia đình hoàng gia. Cuốn biên niên sử cũng ghi chép về các sự kiện thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, động đất, nạn châu chấu và nhật thực, bởi vì những sự kiện đó được xem là phản ánh sự ảnh hưởng của trời đối với thế giới loài người.
Các sự kiện được miêu tả theo trật tự thời gian, đầu tiên là niên hiệu của vua nước Lỗ, mùa, mùa, tháng và ngày theo năm âm lịch. Kết cấu biên niên được tuân thủ chặt chẽ, tới mức liệt kê bốn mùa trong mỗi năm thậm chí khi không có sự kiện nào xảy ra ở thời điểm đó.
Văn phong ngắn gọn và giọng điệu khách quan.
GNLT
Kinh dịch
Nguyên văn: Dịch kinh
易經
Biên dịch: Nguyễn Hiến Lê
Giải đoán 64 quẻ
(Giang Nam lãng tử biên tập)
Nguồn gốc Kinh dịch:
Hoàng đế Phục Hy vạch ra 64 quẻ dựa theo Hà đồ và Lạc thư (thần linh ban cho hai bảo bối).
Chu Văn Vương giải thích “hoán từ”
Chu Cơ Đán con thứ của ngài tiếp tục giải “Hào từ”
Sau nữa Khổng tử giải thành “Dịch truyện” (Thập dực: 10 cánh chim)

Mỗi quẻ có 6 hào, một từ/hào gọi là Hào từ.
Giảng quẻ : Khái quát, từng hào rồi kết luận.
DANH MỤC 64 QUẺ
Thượng kinh
Thuần Khôn
Thủy Lôi Truân
Sơn Thủy Mông
Thủy Thiên Nhu
Thiên Thủy Tụng
Địa Thủy Sư
Thủy Địa Tỷ
Phong Thiên Tiểu Súc
Thiên Trạch Lý
Địa Thiên Thái
Thiên Địa Bĩ
Thiên Hỏa Đồng Nhân
Hỏa Thiên Đại Hữu
Địa Sơn Khiêm
Lôi Địa Dự
Trạch Lôi Tùy
Sơn Phong Cổ
Địa Trạch Lâm
Phong Địa Quan
Hỏa Lôi Phệ Hạp
Sơn Hỏa Bí
Sơn Địa Bác
Địa Lôi Phục
Thiên Lôi Vô Vọng
Sơn Thiên Đại Súc
Sơn Lôi Di
Trạch Phong Đại Quá
Thuần Khảm
Thuần Ly
Trạch Sơn Hàm
Lôi Phong Hằng
Thiên Sơn Độn
Lôi Thiên Đại Tráng
Hỏa Địa Tấn
Địa Hỏa Minh Di
Phong Hỏa Gia Nhân
Hỏa Trạch Khuê
Thủy Sơn Kiển
Lôi Thủy Giải
Sơn Trạch Tổn
Phong Lôi Ích
Trạch Thiên Quải
Thiên Phong Cấu
Trạch Địa Tụy
Địa Phong Thăng
Trạch Thủy Khốn
Thủy Phong Tỉnh
Trạch Hỏa Cách
Hỏa Phong Đỉnh
Thuần Chấn
Thuần Cấn
Phong Sơn Tiệm
Lôi Trạch Quy Muội
Lôi Hỏa Phong
Hỏa Sơn Lữ
Thuần Tốn
Thuần Đoài
Phong Thủy Hoán
Thủy Trạch Tiết
Phong Trạch Trung Phu
Lôi Sơn Tiểu Quá
Thủy Hỏa Ký Tế
Hỏa vị tế
 
Gửi ý kiến