Bài 15. Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: qvsg
Người gửi: Hồ Thanh Bình
Ngày gửi: 21h:22' 01-11-2012
Dung lượng: 6.9 MB
Số lượt tải: 74
Nguồn: qvsg
Người gửi: Hồ Thanh Bình
Ngày gửi: 21h:22' 01-11-2012
Dung lượng: 6.9 MB
Số lượt tải: 74
Số lượt thích:
0 người
Kính chào thầy cô và các bạn tham gia vào buổi thuyết trình của nhóm 2
Bi 15
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VÀ
PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
I.BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
II.MỘT SỐ THIÊN TAI CHỦ YẾU
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
III- CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Môi trường ở nước ta:
Tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường
Biểu hiện: sự gia tăng các loại thiên tai và sự biến đổi về khí hậu
Nguyên nhân: Do con người khai thác, tác động quá mức vào môi trường tự nhiên.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất
Phải sử dụng hợp lí tài nguyên và đảm bảo chất lượng môi trường sống cho con người.
I.BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
II.MỘT SỐ THIÊN TAI CHỦ YẾU
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
NHỮNG
THIÊN TAI
THƯỜNG
XẢY RA
Ở
NƯỚC TA
Bão
Ngập l?t
Lũ quét
Hạn hán
Thiên tai
khác
Bão
BÃO NHIỆT ĐỚI (Tropical Storm)
Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu. Bão biển nhiệt đới là danh từ được dịch từ tiếng Anh "tropical cyclone" hoặc "tropical storm". Theo định nghĩa quốc tế, bão biển nhiệt đới phải có gió nhanh hơn 63 km/giờ (cấp 8, 34 knots). Nếu gió yếu hơn 63 km/giờ, gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression). Nếu gíó mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12, 64 knots), bão được gọi là bão to với cuồng phong (typhoon). Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (super typhoon) với gió nhanh hơn 241 km/giờ. Xin xem Bảng Cấp Gió để biết thêm định nghĩa các cấp gió.
Bão có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào khu vực phát sinh:
+ Bão hình thành trên Đại Tây Dương: hurricanes
+ Bão hình thành trên Thái Bình Dương: typhoons
+ Bão hình thành trên Ấn Độ Dương: cyclones
Cấu tạo của 1 cơn bão gồm các phần sau: mắt bão (the eye), thành mắt bão (the eyewall), dải mây (rainbands) và lớp mây ti dày đặc phía trên (the Dense Cirrus Overcast)
Điều kiện cơ bản để hình thành bão là nhiệt độ cao và những vùng dồi dào hơi nước: khi nhiệt độ cao sẽ làm cho hơi nước bốc lên mạnh và bị đấy lên cao, tại khu vực đó 1 tâm áp thấp hình thành. Do sự chênh lệch khí áp, không khí ở khu vực lân cận sẽ tràn vào.Tại tâm bão (mắt bão) không khí chuyển từ trên xuống dưới, xung quanh tâm bão: không khí bốc mạnh lên cao ngưng tụ thành 1 bức tường mây dày đặc, tạo ra những cơn mưa cực lớn và gió xoáy rất mạnh. Khi đi vào đất liền hoặc vùng biển lạnh ở các vĩ độ cao, bão mất nguồn năng lượng bổ sung từ không khí nóng ẩm trên biển, cộng với đó là ảnh hưởng của lực ma sát với mặt đất nên suy yếu dần và tan đi.
Ảnh: Bão Số 9 (Durian) hình thành và di chuyển vào Việt Nam
Ở Việt Nam, bão phát sinh từ tháng 5 đến tháng 12 trên khu vực biển Đông. Sau khi đạt tới trình độ phát triển mạnh, bão di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây, về phía đất liền và thường tan đi khi đã đổ bộ vào bờ biển. Từ Bắc vào Nam mùa bão chậm dần phù hợp với sự di chuyển của dải hội tụ nhiệt đới: từ Móng Cái - Thanh Hoá (tháng 7,8), Thanh Hoá - Quảng Trị (tháng 9), Quảng Trị - Bồng Sơn (tháng 10), Bồng Sơn - TPHCM (tháng 11), TPHCM - Cà Mau (tháng 12).
Năm 2006 là năm xuất hiện nhiều trận bão mạnh: bão Chanchu (5/2006), bão Xangsane và Cimaron (10/2006), Chebi (11/2006), bão Durian và Utor (12/2006). Các cơn bão gây thiệt hại lớn cho người dân (đặc biệt là các khu vực gần biển)
NGẬP LỤT
NGẬP LỤT
Lụt có thể xảy ra khi mực nước sông dâng cao do lũ lớn làm tràn ngập và phá hủy các công trình, nhà cửa dọc theo sông
Lụt có thể làm hại, gây hư hỏng hay sập đổ hoàn toàn các công trình giao thông như cầu, cống, đường tàu, hệ thống thoát nước, nhà cửa,...
Gây thương vong: người và động vật bị chết đuối hoặc bị thương do tai nạn do ngập nước gây ra
Lũ lụt thường xảy ra hàng năm tại vùng đồng bằng.
Hiện nay vùng chịu ngập lụt nghiêm trọng nhất là đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Nguyên nhân: mưa bão rộng , lũ tập trung trong các hệ thống sộng lớn, mặt đất thấp, xung quanh có đê sông, đê biển bao bọc. Mật độ xây dựng cao cũng làm cho mức độ ngập lụt thêm nghiêm trọng.
Ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long.
Các cơn lũ bắt đầu khi nước sông Cửu Long dâng cao làm ngập vùng Savannakhet và Pakse ở miền Nam Lào rồi đến vùng Kratie ở miền Đông Kampuchea. Nước lũ từ thượng lưu theo sông Tiền và sông Hậu chảy vào nước ta rồi thoát ra biển Đông. Mùa lũ thường kéo dài từ cuối tháng 6 cho đến cuối tháng 12 và được chia ra ba giai đoạn:
Trong giai đoạn 1, từ tháng 7 đến tháng 8, nước lũ chảy vào các kinh và các mương rạch thiên nhiên vùng Đồng tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Cao điểm lũ lụt xảy ra trong giai đoạn 2 khi mực nước sông Tiền ở Tân Châu cao hơn 4,2 m, và mực nước sông Hậu ở Châu Đốc cao hơn 3,5 m. Giai đoạn 3 bắt đầu từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến cuối tháng 12
Như trên đã trình bày lũ lụt ở ĐBSCL bắt đầu do nước lũ ở thượng lưu sông Cửu Long. Nước lũ vùng thượng lưu do đâu mà có? Hàng năm những trận bão biển và gió mùa Tây Nam đã gây nên những trận mưa lớn làm mực nước sông Cửu Long dâng cao. Đặc biệt vào năm 2000, gió mùa bắt đầu sớm hơn đến 6-8 tuần. Những trận mưa lớn vào tháng 7 ở phía Bắc Lào và vùng Tây Nam Trung Hoa đã nâng cao mực nước sông Cửu Long ở Vạn Tượng
Mực nước cứ dâng cao trong vòng hai tháng tới. Đến cuối tháng 8, sông chính và các sông phụ ở Nam Lào đả tràn bờ. Cộng thêm những cơn bão biển Đông đã liên tiếp mang đến những trận mưa lớn ở miền Trung nuớc ta, những tỉnh thành miền Đông nước Kampuchea, và vùng ĐBSCL
.. Đến đầu tháng 10 đã có một vùng biển nội địa sâu đến 2 m, phá hoại các đê đập và cô lập hoá nhiều làng mạc ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Tiền Giang. Cơn lũ năm 2000 đã gây nên những tổn thất nặng nề nhất từ trước đến nay ở miền Nam. Trong số gần 1000 người bị thiệt mạng, 80% là trẻ em, và hơn 500,000 gia đình đã phải xin cứu trợ.
Theo thống kê, các đập ở Vân Nam, Trung Hoa chỉ ảnh hưởng tối đa 2% lưu lượng sông Cửu Long; hơn 50% lưu lượng này do các sông phụ ở Lào chảy vào. Các đập thủy điện có thể không ảnh hưởng gì mấy đến lũ lụt, nhưng có nhiều ảnh hưởng tai hại đến môi sinh, nông nghiệp và ngư nghiệp của ĐBSCL.
Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu, còn có nhiều lý do thường được nhắc đến như các đập thủy điện ở thượng nguồn Trung Hoa, sự di dân đến những vùng lũ lụt, nạn phá rừng và hệ thống kinh thủy nông và đê đập ngăn mặn.
Sự di dân đến những vùng như Đồng Tháp có thể gây thêm nhiều thiệt hại hơn, vì các di dân mới này thường đến từ những vùng ít lũ lụt cho nên họ không quen với các biện pháp đề phòng lũ lụt. Họ sống trong những căn nhà đơn sơ, nỗi trên mặt nước nên dể bị hư hại. Đa số nạn nhân chết đuối vì lũ lụt là trẻ em, vì hàng ngày các trẻ em thường ở nhà một mình, không được các người lớn trông coi.
Hậu quả của ngập lụt diện rộng:
1)Hậu quả trước mắt:
Phá hủy vật chất: Lụt có thể làm hại, gây hư hỏng hay sập đổ hoàn toàn các công trình giao thông như cầu, cống, đường tàu, hệ thống thoát nước, nhà cửa,...
Thương vong: người và động vật bị chết đuối hoặc bị thương do tai nạn do ngập nước gây ra.
2) Ảnh hưởng lâu dài
Ảnh hưởng đến nước sinh hoạt nói riêng và nguồn nước nói chung: nước bị ô nhiễm do nước mang theo các chất thải từ cống, rãnh, ao hồ tràn lên đường phố, nhà, khu vực các vòi nước công cộng,... Gây khan hiếm nước uống và nhiều tình trạng khác.
Bệnh cho người và động vật: do vệ sinh kém, do các bệnh truyền nhiễm dựa vào nước để phán tán. Một ví dụ điển hình là dịch tả.
Thiệt hại trong nông nghiệp: gây ngập các khu vực trồng trọt nên có thể làm giảm năng suất, là nguyên nhân gây ra mất mùa, gây khan hiếm lương thực. Nhiều loài thực vật không có khả năng chịu úng bị chết.
Lũ quét
Lũ quét là một dòng chảy với lưu lượng, vận tốc lớn và xuất hiện trong thời gian ngắn ở những khu trũng, thường hay xuất hiện ở vùng miền núi.
Biểu hiện
Thời gian hoạt động
Miền Bắc:từ tháng 6->10
Miền Nam:từ tháng 10->12
Nơi hay xảy ra
Lũ quét thường xảy ra ở những lưu vực sông suối miền núi, nơi có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, mất lớp phủ thực vật, bề mặt đất dễ bị bóc mòn khi có mưa lớn
Thiệt hại về tính mạng và tài sản của dân cư….
Nhaø cöûa, caàu… coáng ... bò cuoán troâi
Hậu quả
Rất nhiều người bị mất tích
Và biết bao người bị mất mạng
Nhà cửa bị cuốn trôi hư hại
Diện tích lúa, hoa màu bị ngập, lũ quét phá hỏng
Hư hỏng hệ thống đường,cản trở giao thông
Độ cao (m)
1000 -
0 -
Biển Đông
Nước từ miền đồi núi chảy đổ xuống
Miền đồi núi
Đồng bằng
Thường xảy ra lũ quét
Thường xảy ra ngập lụt
NGUYÊN NHÂN GÂY RA LŨ QUÉT VÀ NGẬP LỤT
Nguyên nhân
- Địa hình dốc.
- Mưa nhiều, tập trung theo mùa.
- Rừng bị chặt phá.
Địa hình dốc
Mưa nhiều, tập trung theo mùa.
Rừng bị chặt phá.
Đốt rừng
- Trồng rừng, quản lý và sử dụng đất đai hợp lý.
- Canh tác hiệu quả trên đất dốc.
Quy hoạch các điểm dân cư. Chủ động hơn, chúng ta cần có sự phân khoanh vùng nguy hiểm có nhiều khả năng xảy ra lũ quét, sạt lở đất để có các bước bố trí dân cư và tổ chức sản xuất hợp lý
Tăng cường công tác cảnh báo, dự báo sớm nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất;
Biện pháp phòng chống
Hạn hán
1.Hạn hán là gì?
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh...
2. Những nguyên nhân nào gây ra hạn hán?
Nguyên nhân gây ra hạn hán có nhiều song tập trung chủ yếu là 2 nguyên nhân chính:
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân khách quan
Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt.
Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn.
Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh
Nguyên nhân chủ quan
Do con người gây ra, trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước;
Vệc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước;
Bố trí công trình không phù hợp. Vùng cần nhiều nước lại bố trí công trình nhỏ, còn vùng thiếu nước (nguồn nước tự nhiên) lại bố trí xây dựng công trình lớn.
3. Hạn hán được phân loại như thế nào?
Theo tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được phân ra 4 loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội.
Trong vòng 40 năm qua, có không ít những năm hạn nặng và hạn nghiêm trọng. Ở Bắc Bộ những năm xảy ra hạn nặng vào vụ đông xuân là 1959,1961, 1970, 1984, 1986, 1989, 1993, 1998 và vào vụ hè là: 1960, 1961, 1963, 1964. Trung Bộ và Nam Bộ có hạn trong các năm 1983, 1987, 1988, 1990, 1992, 1993, 2003, 2004 đặc biệt hạn rất nghiêm trọng vào năm 1993 và năm 1998.
Thiên tai hạn hán thiếu nước năm 1997-1998
Mùa mưa năm 1997 kết thúc sớm hơn 1 tháng.
Các đợt nắng nóng gay gắt xảy ra liên tục và kéo dài từ 15-29 ngày trong tháng 3, 4, 5/1998 ở Nam Bộ và tháng 6, 7, 8/1998 ở Trung Bộ.
Nhiều nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cung cấp nước tưới và sinh hoạt.
Hậu quả
Hạn hán, thiếu nước mùa khô 1997-1998 nghiêm trọng nhất, hầu như bao trùm cả nước, gây thiệt hại nghiêm trọng: Lúa đông xuân, hè thu, lúa mùa bị hạn trên 750.000ha (mất trắng trên 120.000ha); cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn trên 236.000ha (bị chết gần 51.000ha); 3,1 triệu người thiếu nước sinh hoạt. Tổng số thiệt hại về kinh tế khoảng 5.000 tỷ đồng. Chính phủ đã phải trợ giúp hàng chục tỷ đồng để cung cấp nước sinh hoạt cho 18 tỉnh. Những thiệt hại khác chưa thống kê và tính toán hết được như vấn đề kinh tế, môi trường, xói mòn, sa mạc hoá, thiếu ăn, suy dinh dưỡng, khủng hoảng tinh thần và giảm sút sức khoẻ của hàng triệu người.
Năm 2001, các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị là những tỉnh bị hạn nghiêm trọng. Các tháng 6 và 7 hầu như không mưa. Chỉ riêng ở Phú Yên, hạn hán đã gây thiệt hại cho 7200 ha mía, 500 ha sắn, 225 ha lúa nước và 300 ha lúa nương.
Các nhóm khu vực về đặc trưng khô hạn phổ biến tại Việt Nam
Nêu các vùng hay xảy ra hạn hán ở nước ta. Cần làm gì để giảm nhẹ tác hại do hạn hán ?
Miền Bắc: tại các thung lũng khuất gió như: Yên Châu, sông Mã (Sơn La), Lục Ngạn (Bắc Giang), mùa khô kéo dài 3-4 tháng.-Miền Nam: thời kỳ khô hạn kéo dài 4-5 tháng ở đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. -Vùng ven biển cực Nam Trung Bộ mùa khô kéo dài 6-7 tháng.
Biện pháp giảm nhẹ tác hại: xây dựng các công trình thuỷ lợi hợp lý…
ĐỘNG ĐẤT
Động Đất
Động đất là gì
Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung lay của mặt đất
Nguyên nhân
Do lãnh thổ VN nằm gần vành đai lửa TBD
Thời gian và đia điêm thường xuất hiện Động đất
Rất Bất Ngờ Không Đoán Trước Được
Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn. Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất
Nhiều trận động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có thể gây ra sóng thần, hoặc có thể vì đáy biển bị biến dạng hay vì đất lở dưới đáy biển.
Tác hại
Sương Muối
Sương Muối là gì
là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ và trắng như muối ngay trên mặt đất, bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và lạnh. Sương muối chỉ có màu trắng giống như tinh thể muối chứ nó thật không có vị mặn.
Nguyên Nhân
Nếu nhiệt độ mặt đất giảm xuống 0⁰C hay thấp hơn, hơi nước sẽ ngưng kết thành thể rắn, xốp, có màu trắng như muối nên gọi là sương muối
Thời gian va đia điêm thường xuất hiện SƯƠNG MUỐI
Ở nước ta, hiện tượng sương muối thường xẩy ra trong các tháng mùa đông, nhất là vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2.
Nơi hàng năm xuất hiện sương muối nhiều nhất là các tỉnh vùng núi Bắc Bộ, một số nơi trung du tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hòa Bình cũng có hiện tượng này.
Các tỉnh Trung Trung Bộ trở vào đến Nam Bộ hầu như không có hiện tượng sương muối.
Theo ước tính, hàng năm vào mùa đông có vùng đến 70-80% diện tích cao su bị hại do lạnh và sương muối. Cũng theo kết quả khảo sát của nhóm thực hiện đề tài, trong những năm qua, sương muối đã làm hàng nghìn hecta cà phê không ra quả và chết dần. Đặc biệt là các đợt rét kéo dài năm 2008 và mới đây nhất là đợt rét năm 2011, nhiều diện tích cao su bị héo lá, chết ngọn. Riêng đợt rét năm 2011, khoảng 5% diện tích cao su đã trồng của 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên đều bị hại.
Tác hại
Mưa đá
Lốc xoáy ở Sóc trăng
III- CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường ở Việt Nam dựa trên những nguyên tắc chung của chiến lược bảo vệ toàn cầu (WSC) do IUCN đề xuất. Chiến lược đảm bảo sự bảo vệ đi đôi với sự phát triển bền vững.
Các nhiệm vụ chiến lược đề ra là:
- Duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu và các hệ thống sống có ý nghĩa quyết định đến đời sống con người;
- Đảm bảo sự giàu có của đất nước về vốn gien các loài nuôi trồng cũng như các loài hoang dại, có liên quan đến lơi ích lâu dài của nhân dân Việt Nam và của cả nhân loại
- Đảm bảo việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên tự nhiên, điều khiển việc sử dụng trong giới hạn có thể hồi phục được;
- Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với yêu cầu về đời sống con người;
- Phấn đấu đạt tới trạng thái ổn định dân số ở mức cân bằng với khả năng sử dụng hợp lí các tài nguyên tự nhiên.
Để thực hiện được các nhiệm vụ chiến lược quốc gia trên, ngày 10 tháng 1 năm 1994, Nhà nước đã ban hành luật bảo vệ môi trường.
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, kiểm soát và cải tạo môi trường
Luật bảo vệ môi trường nêu mục tiêu nhằm phòng, chống, khắc phục sự suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường để đảm bảo một môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường của khu vực và của toàn cầu.
Vì thế, để mỗi người dân hiểu và thi hành luật, trong điều luật đã giải thích nội dung, nhiệm vụ của việc bảo vệ môi trường và quy định bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân.
Luật cũng đã quy định rõ sự thống nhất quản lí của nhà nước về bảo vệ môi trường, trách nhiệm thi hành pháp luật bảo vệ môi trường của mỗi tổ chức, cá nhân, quy định khen thưởng và xử lí vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân trong việc thi hành luật.
1
2
5
4
8
7
6
3
1. Gồm 16 kí tự:
Khai thác quá mức, không hợp lí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường đã làm gia tăng các thiên tai này?
Ô CHỮ CỦNG CỐ KIẾN THỨC
M Ô I T R Ư Ờ N G S Ố N G
2. G?m 8 kí t?:
Dy l khu v?c thu?ng x?y ra ng?p l?t trn di?n r?ng do bo, mua l?n gy ra?
3. G?m 9 kí t?:
D? gi?m tình tr?ng lu qut, xĩi mịn d?t khu v?c d?i ni c?n cĩ gi?i php ny?
4. G?m 8 kí t?:
Ch?ng ng?p ng, lu l?t ? d?ng b?ng v xĩi mịn ? mi?n ni c?n di dơi v?i bi?n php ny?
5. G?m 7 kí t?:
Dy l m?t trong nh?ng nguyn nhn gĩp ph?n gy nn tình tr?ng ng?p l?t ? vng d?ng b?ng nu?c ta?
6. Gồm 12 kí tự:
Đây là một trong những biện pháp tránh được thiệt hại về tài sản và tính mạng do lũ quét cho dân cư ở vùng núi nước ta?
7. Gồm 7 kí tự:
Một trong những công trình nhằm giảm hậu quả của ngập lụt?
8. Gồm 5 kí tự:
Đây là một trong những thiên tai khác xảy ra ở nước ta đặc biệt là vào thời tiết nóng bức?
Bi 15
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VÀ
PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
I.BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
II.MỘT SỐ THIÊN TAI CHỦ YẾU
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
III- CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Môi trường ở nước ta:
Tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường
Biểu hiện: sự gia tăng các loại thiên tai và sự biến đổi về khí hậu
Nguyên nhân: Do con người khai thác, tác động quá mức vào môi trường tự nhiên.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất
Phải sử dụng hợp lí tài nguyên và đảm bảo chất lượng môi trường sống cho con người.
I.BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
II.MỘT SỐ THIÊN TAI CHỦ YẾU
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
NHỮNG
THIÊN TAI
THƯỜNG
XẢY RA
Ở
NƯỚC TA
Bão
Ngập l?t
Lũ quét
Hạn hán
Thiên tai
khác
Bão
BÃO NHIỆT ĐỚI (Tropical Storm)
Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu. Bão biển nhiệt đới là danh từ được dịch từ tiếng Anh "tropical cyclone" hoặc "tropical storm". Theo định nghĩa quốc tế, bão biển nhiệt đới phải có gió nhanh hơn 63 km/giờ (cấp 8, 34 knots). Nếu gió yếu hơn 63 km/giờ, gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression). Nếu gíó mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12, 64 knots), bão được gọi là bão to với cuồng phong (typhoon). Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (super typhoon) với gió nhanh hơn 241 km/giờ. Xin xem Bảng Cấp Gió để biết thêm định nghĩa các cấp gió.
Bão có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào khu vực phát sinh:
+ Bão hình thành trên Đại Tây Dương: hurricanes
+ Bão hình thành trên Thái Bình Dương: typhoons
+ Bão hình thành trên Ấn Độ Dương: cyclones
Cấu tạo của 1 cơn bão gồm các phần sau: mắt bão (the eye), thành mắt bão (the eyewall), dải mây (rainbands) và lớp mây ti dày đặc phía trên (the Dense Cirrus Overcast)
Điều kiện cơ bản để hình thành bão là nhiệt độ cao và những vùng dồi dào hơi nước: khi nhiệt độ cao sẽ làm cho hơi nước bốc lên mạnh và bị đấy lên cao, tại khu vực đó 1 tâm áp thấp hình thành. Do sự chênh lệch khí áp, không khí ở khu vực lân cận sẽ tràn vào.Tại tâm bão (mắt bão) không khí chuyển từ trên xuống dưới, xung quanh tâm bão: không khí bốc mạnh lên cao ngưng tụ thành 1 bức tường mây dày đặc, tạo ra những cơn mưa cực lớn và gió xoáy rất mạnh. Khi đi vào đất liền hoặc vùng biển lạnh ở các vĩ độ cao, bão mất nguồn năng lượng bổ sung từ không khí nóng ẩm trên biển, cộng với đó là ảnh hưởng của lực ma sát với mặt đất nên suy yếu dần và tan đi.
Ảnh: Bão Số 9 (Durian) hình thành và di chuyển vào Việt Nam
Ở Việt Nam, bão phát sinh từ tháng 5 đến tháng 12 trên khu vực biển Đông. Sau khi đạt tới trình độ phát triển mạnh, bão di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây, về phía đất liền và thường tan đi khi đã đổ bộ vào bờ biển. Từ Bắc vào Nam mùa bão chậm dần phù hợp với sự di chuyển của dải hội tụ nhiệt đới: từ Móng Cái - Thanh Hoá (tháng 7,8), Thanh Hoá - Quảng Trị (tháng 9), Quảng Trị - Bồng Sơn (tháng 10), Bồng Sơn - TPHCM (tháng 11), TPHCM - Cà Mau (tháng 12).
Năm 2006 là năm xuất hiện nhiều trận bão mạnh: bão Chanchu (5/2006), bão Xangsane và Cimaron (10/2006), Chebi (11/2006), bão Durian và Utor (12/2006). Các cơn bão gây thiệt hại lớn cho người dân (đặc biệt là các khu vực gần biển)
NGẬP LỤT
NGẬP LỤT
Lụt có thể xảy ra khi mực nước sông dâng cao do lũ lớn làm tràn ngập và phá hủy các công trình, nhà cửa dọc theo sông
Lụt có thể làm hại, gây hư hỏng hay sập đổ hoàn toàn các công trình giao thông như cầu, cống, đường tàu, hệ thống thoát nước, nhà cửa,...
Gây thương vong: người và động vật bị chết đuối hoặc bị thương do tai nạn do ngập nước gây ra
Lũ lụt thường xảy ra hàng năm tại vùng đồng bằng.
Hiện nay vùng chịu ngập lụt nghiêm trọng nhất là đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Nguyên nhân: mưa bão rộng , lũ tập trung trong các hệ thống sộng lớn, mặt đất thấp, xung quanh có đê sông, đê biển bao bọc. Mật độ xây dựng cao cũng làm cho mức độ ngập lụt thêm nghiêm trọng.
Ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long.
Các cơn lũ bắt đầu khi nước sông Cửu Long dâng cao làm ngập vùng Savannakhet và Pakse ở miền Nam Lào rồi đến vùng Kratie ở miền Đông Kampuchea. Nước lũ từ thượng lưu theo sông Tiền và sông Hậu chảy vào nước ta rồi thoát ra biển Đông. Mùa lũ thường kéo dài từ cuối tháng 6 cho đến cuối tháng 12 và được chia ra ba giai đoạn:
Trong giai đoạn 1, từ tháng 7 đến tháng 8, nước lũ chảy vào các kinh và các mương rạch thiên nhiên vùng Đồng tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Cao điểm lũ lụt xảy ra trong giai đoạn 2 khi mực nước sông Tiền ở Tân Châu cao hơn 4,2 m, và mực nước sông Hậu ở Châu Đốc cao hơn 3,5 m. Giai đoạn 3 bắt đầu từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến cuối tháng 12
Như trên đã trình bày lũ lụt ở ĐBSCL bắt đầu do nước lũ ở thượng lưu sông Cửu Long. Nước lũ vùng thượng lưu do đâu mà có? Hàng năm những trận bão biển và gió mùa Tây Nam đã gây nên những trận mưa lớn làm mực nước sông Cửu Long dâng cao. Đặc biệt vào năm 2000, gió mùa bắt đầu sớm hơn đến 6-8 tuần. Những trận mưa lớn vào tháng 7 ở phía Bắc Lào và vùng Tây Nam Trung Hoa đã nâng cao mực nước sông Cửu Long ở Vạn Tượng
Mực nước cứ dâng cao trong vòng hai tháng tới. Đến cuối tháng 8, sông chính và các sông phụ ở Nam Lào đả tràn bờ. Cộng thêm những cơn bão biển Đông đã liên tiếp mang đến những trận mưa lớn ở miền Trung nuớc ta, những tỉnh thành miền Đông nước Kampuchea, và vùng ĐBSCL
.. Đến đầu tháng 10 đã có một vùng biển nội địa sâu đến 2 m, phá hoại các đê đập và cô lập hoá nhiều làng mạc ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Tiền Giang. Cơn lũ năm 2000 đã gây nên những tổn thất nặng nề nhất từ trước đến nay ở miền Nam. Trong số gần 1000 người bị thiệt mạng, 80% là trẻ em, và hơn 500,000 gia đình đã phải xin cứu trợ.
Theo thống kê, các đập ở Vân Nam, Trung Hoa chỉ ảnh hưởng tối đa 2% lưu lượng sông Cửu Long; hơn 50% lưu lượng này do các sông phụ ở Lào chảy vào. Các đập thủy điện có thể không ảnh hưởng gì mấy đến lũ lụt, nhưng có nhiều ảnh hưởng tai hại đến môi sinh, nông nghiệp và ngư nghiệp của ĐBSCL.
Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu, còn có nhiều lý do thường được nhắc đến như các đập thủy điện ở thượng nguồn Trung Hoa, sự di dân đến những vùng lũ lụt, nạn phá rừng và hệ thống kinh thủy nông và đê đập ngăn mặn.
Sự di dân đến những vùng như Đồng Tháp có thể gây thêm nhiều thiệt hại hơn, vì các di dân mới này thường đến từ những vùng ít lũ lụt cho nên họ không quen với các biện pháp đề phòng lũ lụt. Họ sống trong những căn nhà đơn sơ, nỗi trên mặt nước nên dể bị hư hại. Đa số nạn nhân chết đuối vì lũ lụt là trẻ em, vì hàng ngày các trẻ em thường ở nhà một mình, không được các người lớn trông coi.
Hậu quả của ngập lụt diện rộng:
1)Hậu quả trước mắt:
Phá hủy vật chất: Lụt có thể làm hại, gây hư hỏng hay sập đổ hoàn toàn các công trình giao thông như cầu, cống, đường tàu, hệ thống thoát nước, nhà cửa,...
Thương vong: người và động vật bị chết đuối hoặc bị thương do tai nạn do ngập nước gây ra.
2) Ảnh hưởng lâu dài
Ảnh hưởng đến nước sinh hoạt nói riêng và nguồn nước nói chung: nước bị ô nhiễm do nước mang theo các chất thải từ cống, rãnh, ao hồ tràn lên đường phố, nhà, khu vực các vòi nước công cộng,... Gây khan hiếm nước uống và nhiều tình trạng khác.
Bệnh cho người và động vật: do vệ sinh kém, do các bệnh truyền nhiễm dựa vào nước để phán tán. Một ví dụ điển hình là dịch tả.
Thiệt hại trong nông nghiệp: gây ngập các khu vực trồng trọt nên có thể làm giảm năng suất, là nguyên nhân gây ra mất mùa, gây khan hiếm lương thực. Nhiều loài thực vật không có khả năng chịu úng bị chết.
Lũ quét
Lũ quét là một dòng chảy với lưu lượng, vận tốc lớn và xuất hiện trong thời gian ngắn ở những khu trũng, thường hay xuất hiện ở vùng miền núi.
Biểu hiện
Thời gian hoạt động
Miền Bắc:từ tháng 6->10
Miền Nam:từ tháng 10->12
Nơi hay xảy ra
Lũ quét thường xảy ra ở những lưu vực sông suối miền núi, nơi có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, mất lớp phủ thực vật, bề mặt đất dễ bị bóc mòn khi có mưa lớn
Thiệt hại về tính mạng và tài sản của dân cư….
Nhaø cöûa, caàu… coáng ... bò cuoán troâi
Hậu quả
Rất nhiều người bị mất tích
Và biết bao người bị mất mạng
Nhà cửa bị cuốn trôi hư hại
Diện tích lúa, hoa màu bị ngập, lũ quét phá hỏng
Hư hỏng hệ thống đường,cản trở giao thông
Độ cao (m)
1000 -
0 -
Biển Đông
Nước từ miền đồi núi chảy đổ xuống
Miền đồi núi
Đồng bằng
Thường xảy ra lũ quét
Thường xảy ra ngập lụt
NGUYÊN NHÂN GÂY RA LŨ QUÉT VÀ NGẬP LỤT
Nguyên nhân
- Địa hình dốc.
- Mưa nhiều, tập trung theo mùa.
- Rừng bị chặt phá.
Địa hình dốc
Mưa nhiều, tập trung theo mùa.
Rừng bị chặt phá.
Đốt rừng
- Trồng rừng, quản lý và sử dụng đất đai hợp lý.
- Canh tác hiệu quả trên đất dốc.
Quy hoạch các điểm dân cư. Chủ động hơn, chúng ta cần có sự phân khoanh vùng nguy hiểm có nhiều khả năng xảy ra lũ quét, sạt lở đất để có các bước bố trí dân cư và tổ chức sản xuất hợp lý
Tăng cường công tác cảnh báo, dự báo sớm nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất;
Biện pháp phòng chống
Hạn hán
1.Hạn hán là gì?
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh...
2. Những nguyên nhân nào gây ra hạn hán?
Nguyên nhân gây ra hạn hán có nhiều song tập trung chủ yếu là 2 nguyên nhân chính:
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân khách quan
Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt.
Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn.
Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh
Nguyên nhân chủ quan
Do con người gây ra, trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước;
Vệc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước;
Bố trí công trình không phù hợp. Vùng cần nhiều nước lại bố trí công trình nhỏ, còn vùng thiếu nước (nguồn nước tự nhiên) lại bố trí xây dựng công trình lớn.
3. Hạn hán được phân loại như thế nào?
Theo tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được phân ra 4 loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội.
Trong vòng 40 năm qua, có không ít những năm hạn nặng và hạn nghiêm trọng. Ở Bắc Bộ những năm xảy ra hạn nặng vào vụ đông xuân là 1959,1961, 1970, 1984, 1986, 1989, 1993, 1998 và vào vụ hè là: 1960, 1961, 1963, 1964. Trung Bộ và Nam Bộ có hạn trong các năm 1983, 1987, 1988, 1990, 1992, 1993, 2003, 2004 đặc biệt hạn rất nghiêm trọng vào năm 1993 và năm 1998.
Thiên tai hạn hán thiếu nước năm 1997-1998
Mùa mưa năm 1997 kết thúc sớm hơn 1 tháng.
Các đợt nắng nóng gay gắt xảy ra liên tục và kéo dài từ 15-29 ngày trong tháng 3, 4, 5/1998 ở Nam Bộ và tháng 6, 7, 8/1998 ở Trung Bộ.
Nhiều nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cung cấp nước tưới và sinh hoạt.
Hậu quả
Hạn hán, thiếu nước mùa khô 1997-1998 nghiêm trọng nhất, hầu như bao trùm cả nước, gây thiệt hại nghiêm trọng: Lúa đông xuân, hè thu, lúa mùa bị hạn trên 750.000ha (mất trắng trên 120.000ha); cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn trên 236.000ha (bị chết gần 51.000ha); 3,1 triệu người thiếu nước sinh hoạt. Tổng số thiệt hại về kinh tế khoảng 5.000 tỷ đồng. Chính phủ đã phải trợ giúp hàng chục tỷ đồng để cung cấp nước sinh hoạt cho 18 tỉnh. Những thiệt hại khác chưa thống kê và tính toán hết được như vấn đề kinh tế, môi trường, xói mòn, sa mạc hoá, thiếu ăn, suy dinh dưỡng, khủng hoảng tinh thần và giảm sút sức khoẻ của hàng triệu người.
Năm 2001, các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị là những tỉnh bị hạn nghiêm trọng. Các tháng 6 và 7 hầu như không mưa. Chỉ riêng ở Phú Yên, hạn hán đã gây thiệt hại cho 7200 ha mía, 500 ha sắn, 225 ha lúa nước và 300 ha lúa nương.
Các nhóm khu vực về đặc trưng khô hạn phổ biến tại Việt Nam
Nêu các vùng hay xảy ra hạn hán ở nước ta. Cần làm gì để giảm nhẹ tác hại do hạn hán ?
Miền Bắc: tại các thung lũng khuất gió như: Yên Châu, sông Mã (Sơn La), Lục Ngạn (Bắc Giang), mùa khô kéo dài 3-4 tháng.-Miền Nam: thời kỳ khô hạn kéo dài 4-5 tháng ở đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. -Vùng ven biển cực Nam Trung Bộ mùa khô kéo dài 6-7 tháng.
Biện pháp giảm nhẹ tác hại: xây dựng các công trình thuỷ lợi hợp lý…
ĐỘNG ĐẤT
Động Đất
Động đất là gì
Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung lay của mặt đất
Nguyên nhân
Do lãnh thổ VN nằm gần vành đai lửa TBD
Thời gian và đia điêm thường xuất hiện Động đất
Rất Bất Ngờ Không Đoán Trước Được
Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn. Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất
Nhiều trận động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có thể gây ra sóng thần, hoặc có thể vì đáy biển bị biến dạng hay vì đất lở dưới đáy biển.
Tác hại
Sương Muối
Sương Muối là gì
là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ và trắng như muối ngay trên mặt đất, bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và lạnh. Sương muối chỉ có màu trắng giống như tinh thể muối chứ nó thật không có vị mặn.
Nguyên Nhân
Nếu nhiệt độ mặt đất giảm xuống 0⁰C hay thấp hơn, hơi nước sẽ ngưng kết thành thể rắn, xốp, có màu trắng như muối nên gọi là sương muối
Thời gian va đia điêm thường xuất hiện SƯƠNG MUỐI
Ở nước ta, hiện tượng sương muối thường xẩy ra trong các tháng mùa đông, nhất là vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2.
Nơi hàng năm xuất hiện sương muối nhiều nhất là các tỉnh vùng núi Bắc Bộ, một số nơi trung du tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hòa Bình cũng có hiện tượng này.
Các tỉnh Trung Trung Bộ trở vào đến Nam Bộ hầu như không có hiện tượng sương muối.
Theo ước tính, hàng năm vào mùa đông có vùng đến 70-80% diện tích cao su bị hại do lạnh và sương muối. Cũng theo kết quả khảo sát của nhóm thực hiện đề tài, trong những năm qua, sương muối đã làm hàng nghìn hecta cà phê không ra quả và chết dần. Đặc biệt là các đợt rét kéo dài năm 2008 và mới đây nhất là đợt rét năm 2011, nhiều diện tích cao su bị héo lá, chết ngọn. Riêng đợt rét năm 2011, khoảng 5% diện tích cao su đã trồng của 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên đều bị hại.
Tác hại
Mưa đá
Lốc xoáy ở Sóc trăng
III- CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường ở Việt Nam dựa trên những nguyên tắc chung của chiến lược bảo vệ toàn cầu (WSC) do IUCN đề xuất. Chiến lược đảm bảo sự bảo vệ đi đôi với sự phát triển bền vững.
Các nhiệm vụ chiến lược đề ra là:
- Duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu và các hệ thống sống có ý nghĩa quyết định đến đời sống con người;
- Đảm bảo sự giàu có của đất nước về vốn gien các loài nuôi trồng cũng như các loài hoang dại, có liên quan đến lơi ích lâu dài của nhân dân Việt Nam và của cả nhân loại
- Đảm bảo việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên tự nhiên, điều khiển việc sử dụng trong giới hạn có thể hồi phục được;
- Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với yêu cầu về đời sống con người;
- Phấn đấu đạt tới trạng thái ổn định dân số ở mức cân bằng với khả năng sử dụng hợp lí các tài nguyên tự nhiên.
Để thực hiện được các nhiệm vụ chiến lược quốc gia trên, ngày 10 tháng 1 năm 1994, Nhà nước đã ban hành luật bảo vệ môi trường.
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, kiểm soát và cải tạo môi trường
Luật bảo vệ môi trường nêu mục tiêu nhằm phòng, chống, khắc phục sự suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường để đảm bảo một môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường của khu vực và của toàn cầu.
Vì thế, để mỗi người dân hiểu và thi hành luật, trong điều luật đã giải thích nội dung, nhiệm vụ của việc bảo vệ môi trường và quy định bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân.
Luật cũng đã quy định rõ sự thống nhất quản lí của nhà nước về bảo vệ môi trường, trách nhiệm thi hành pháp luật bảo vệ môi trường của mỗi tổ chức, cá nhân, quy định khen thưởng và xử lí vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân trong việc thi hành luật.
1
2
5
4
8
7
6
3
1. Gồm 16 kí tự:
Khai thác quá mức, không hợp lí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường đã làm gia tăng các thiên tai này?
Ô CHỮ CỦNG CỐ KIẾN THỨC
M Ô I T R Ư Ờ N G S Ố N G
2. G?m 8 kí t?:
Dy l khu v?c thu?ng x?y ra ng?p l?t trn di?n r?ng do bo, mua l?n gy ra?
3. G?m 9 kí t?:
D? gi?m tình tr?ng lu qut, xĩi mịn d?t khu v?c d?i ni c?n cĩ gi?i php ny?
4. G?m 8 kí t?:
Ch?ng ng?p ng, lu l?t ? d?ng b?ng v xĩi mịn ? mi?n ni c?n di dơi v?i bi?n php ny?
5. G?m 7 kí t?:
Dy l m?t trong nh?ng nguyn nhn gĩp ph?n gy nn tình tr?ng ng?p l?t ? vng d?ng b?ng nu?c ta?
6. Gồm 12 kí tự:
Đây là một trong những biện pháp tránh được thiệt hại về tài sản và tính mạng do lũ quét cho dân cư ở vùng núi nước ta?
7. Gồm 7 kí tự:
Một trong những công trình nhằm giảm hậu quả của ngập lụt?
8. Gồm 5 kí tự:
Đây là một trong những thiên tai khác xảy ra ở nước ta đặc biệt là vào thời tiết nóng bức?







hay