Tuần 3. Nguyễn Đình Chiểu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nông Thị Vân
Ngày gửi: 21h:35' 20-11-2011
Dung lượng: 95.0 KB
Số lượt tải: 100
Nguồn:
Người gửi: Nông Thị Vân
Ngày gửi: 21h:35' 20-11-2011
Dung lượng: 95.0 KB
Số lượt tải: 100
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Đình Chiểu
Sự nghiệp sáng tác
Quá trình sáng tác:
Văn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Ðùnh Chiểu. Sự nghiệp của ông còn lớn hơn nhiều. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầy thuốc và là một nhà tư tưởng. Nhưng văn chương của ông đồ sộ đủ đứng thành sự nghiệp riêng.
* Nguyễn Ðình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hầu hết các tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm. Căn cứ vào nội dung có thể chia ra thành hai thời kỳ sáng tác:
Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: Tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay, có tính chất tự truyện.
Lục Vân Tiên
Tác phẩm ca ngợi phẩm chất sáng ngời của chàng
Trai họ Lục, một người con hiếu thảo, một trang
nam nhi có lí tưởng, sẵn sàng quên mình cứu dân
gặp nạn, đánh giặc Ô Qua, chung thuỷ trong tình
yêu, trung thành với bạn bè, nhiệt tâm với chính
nghĩa. Truyện Lục Vân Tiên ca ngợi tình yêu chung
thuỷ của Nguyệt Nga, lòng trung thành của Tiểu
đồng, lòng thẳng ngay của Hớn Minh, Tử Trực. Ông
Quán trong Truyện Lục Vân Tiên đã nêu cao tư
tưởng ghét thương của nhà thơ:
Quán rằng: “Ghét việc tầm phào,
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần”.
Đề cao nghĩa khí, Truyện Lục Vân Tiên cũng là
bản án kết tội những kẻ bất nghĩa, bất nhân như cha
Con Võ Công tráo trở, viên Thái Sư hiểm độc, Trịnh
Hâm, Bùi Kiệm dốt nát, phản trắc, đê tiện.
Dương Từ - Hà Mậu
+ Tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu có ý kiến cho rằng
Tác phẩm được viết sau khi Pháp xâm lược.
+ Một tác phẩm có tính luận đề. Các nhân vật
Dương Từ và Hà Mậu đã đi theo đạo khác, bỏ
gia đình nheo nhóc nhưng sau được giác ngộ trở
về với chính đạo.
- Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn
Đình Chiểu liền chuyển sang lên án mạnh mẽ quân
xâm lược, phê phán triều đình nhu nhược, ngợi ca
tinh thần nghĩa khí và những tấm gương chiến đấu
của nhân dân. Ngòi bút của nhà thơ gắn bó mật thiết
với cuộc sống của người dân mất nước.
Trong bài Chạy giặc, ông tả cảnh “ sẩy đàn tan
nghé” khi giặc đến với niềm xót thương vô hạn:
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Trong bài Ngóng gió đông (Xúc cảnh), Nguyễn Đình
Chiểu vừa thể hiện sự oán trách triều đình vừa biểu lộ
niềm mong mỏi triều đình giúp dân, giữ gìn bờ cõi.
Tiêu biểu hơn hết cho văn thơ yêu nước của ông là
những bài văn tế như:
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm xúc động nhất về người anh hùng nông dân Nam Bộ. Đó là những người quanh năm nghèo khó, chưa từng cầm vũ khí, nhưng khi giặc đến thì xông lên chiến đấu quên mình, biểu thị tinh thần dũng cảm bất khuất, tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự do của dân tộc. Bài văn không chỉ là một anh hùng ca đặc sắc, mà còn là lời bộc bạch gan ruột của những người dân không cam chịu làm nô lệ, thề đánh đến cùng, là lời trách móc thâm trầm đối với thái độ đầu hàng, bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn. Chẳng hạn, các câu: “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”
“ Tập khiên, tập súng, ập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”. “Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh”, “mười tám ban võ nghệ nào đợi tập rèn”
Ngoài ý muốn ca ngợi tinh thần tự giác chiến đấu của các nghĩa sĩ, còn cho thấy quân cơ, quân vệ, những kẻ được trang bị, tập rèn chiến đấu, lẽ ra phải có mặt lúc này thì lại vắng bóng !Thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu là những áng văn bia khắc sâu hình ảnh các anh hùng cứư nước:
Làm người trung nghĩa đáng bia son,
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn.
Cơm áo đền bồi ơn đất nước,
Râu mày vẫn giữ phận tôi con.
Tinh thần hai chữ phau sươn tuyết,
Khí phách ngàn thu rỡ núi non,…
(Thơ điếu Phan Tòng)
Ở giai đoạn này, Nguyễn Đình Chiểu còn viết Ông Ngư, Ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh, một tác phẩm có tính chất đối thoại. Nội dung kể về việc vua Tấn sống dưới ách ngoại bang nên rời quê hương đi lánh giặc. Hai nhân vật là Bào Tử Phược và Mộng Thê Triền bỏ nhà vào núi ở ẩn, làm Ngư, làm Tiều. Được sự dẫn dắt của Đạo Dẫn, họ tìm thấy học đạo, học thuốc để cứu đời.
Hai người gặp Kì Nhân Sư, ông thầy khong chịu hợp tác với giặc, tự xông mắt cho mù. Họ được thầy dạy cho nghề thuốc cứu đời. Con đường đi đến “rừng y’ của hai ẩn sĩ thể hiện tinh thần gắn bó với dân của Nguyễn Đình Chiểu, khác với ẩn sĩ xưa chỉ biết lánh đời. Qua tác phẩm này Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện một tinh thần thương dân và yêu nước mãnh liệt.
Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Ðình Chiểu trở thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuộc ông nhưng ông vẫn một mực từ chối các ân tứ. (Có nhiều giai đoạn về thái độ bất hợp tác của Nguyễn Ðình Chiểu với kẻ thù).
Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ Nam Bộ là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Tấm gương Nguyễn Ðình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào.
Sự nghiệp sáng tác
Quá trình sáng tác:
Văn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Ðùnh Chiểu. Sự nghiệp của ông còn lớn hơn nhiều. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầy thuốc và là một nhà tư tưởng. Nhưng văn chương của ông đồ sộ đủ đứng thành sự nghiệp riêng.
* Nguyễn Ðình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hầu hết các tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm. Căn cứ vào nội dung có thể chia ra thành hai thời kỳ sáng tác:
Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: Tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay, có tính chất tự truyện.
Lục Vân Tiên
Tác phẩm ca ngợi phẩm chất sáng ngời của chàng
Trai họ Lục, một người con hiếu thảo, một trang
nam nhi có lí tưởng, sẵn sàng quên mình cứu dân
gặp nạn, đánh giặc Ô Qua, chung thuỷ trong tình
yêu, trung thành với bạn bè, nhiệt tâm với chính
nghĩa. Truyện Lục Vân Tiên ca ngợi tình yêu chung
thuỷ của Nguyệt Nga, lòng trung thành của Tiểu
đồng, lòng thẳng ngay của Hớn Minh, Tử Trực. Ông
Quán trong Truyện Lục Vân Tiên đã nêu cao tư
tưởng ghét thương của nhà thơ:
Quán rằng: “Ghét việc tầm phào,
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần”.
Đề cao nghĩa khí, Truyện Lục Vân Tiên cũng là
bản án kết tội những kẻ bất nghĩa, bất nhân như cha
Con Võ Công tráo trở, viên Thái Sư hiểm độc, Trịnh
Hâm, Bùi Kiệm dốt nát, phản trắc, đê tiện.
Dương Từ - Hà Mậu
+ Tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu có ý kiến cho rằng
Tác phẩm được viết sau khi Pháp xâm lược.
+ Một tác phẩm có tính luận đề. Các nhân vật
Dương Từ và Hà Mậu đã đi theo đạo khác, bỏ
gia đình nheo nhóc nhưng sau được giác ngộ trở
về với chính đạo.
- Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn
Đình Chiểu liền chuyển sang lên án mạnh mẽ quân
xâm lược, phê phán triều đình nhu nhược, ngợi ca
tinh thần nghĩa khí và những tấm gương chiến đấu
của nhân dân. Ngòi bút của nhà thơ gắn bó mật thiết
với cuộc sống của người dân mất nước.
Trong bài Chạy giặc, ông tả cảnh “ sẩy đàn tan
nghé” khi giặc đến với niềm xót thương vô hạn:
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Trong bài Ngóng gió đông (Xúc cảnh), Nguyễn Đình
Chiểu vừa thể hiện sự oán trách triều đình vừa biểu lộ
niềm mong mỏi triều đình giúp dân, giữ gìn bờ cõi.
Tiêu biểu hơn hết cho văn thơ yêu nước của ông là
những bài văn tế như:
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm xúc động nhất về người anh hùng nông dân Nam Bộ. Đó là những người quanh năm nghèo khó, chưa từng cầm vũ khí, nhưng khi giặc đến thì xông lên chiến đấu quên mình, biểu thị tinh thần dũng cảm bất khuất, tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự do của dân tộc. Bài văn không chỉ là một anh hùng ca đặc sắc, mà còn là lời bộc bạch gan ruột của những người dân không cam chịu làm nô lệ, thề đánh đến cùng, là lời trách móc thâm trầm đối với thái độ đầu hàng, bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn. Chẳng hạn, các câu: “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”
“ Tập khiên, tập súng, ập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”. “Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh”, “mười tám ban võ nghệ nào đợi tập rèn”
Ngoài ý muốn ca ngợi tinh thần tự giác chiến đấu của các nghĩa sĩ, còn cho thấy quân cơ, quân vệ, những kẻ được trang bị, tập rèn chiến đấu, lẽ ra phải có mặt lúc này thì lại vắng bóng !Thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu là những áng văn bia khắc sâu hình ảnh các anh hùng cứư nước:
Làm người trung nghĩa đáng bia son,
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn.
Cơm áo đền bồi ơn đất nước,
Râu mày vẫn giữ phận tôi con.
Tinh thần hai chữ phau sươn tuyết,
Khí phách ngàn thu rỡ núi non,…
(Thơ điếu Phan Tòng)
Ở giai đoạn này, Nguyễn Đình Chiểu còn viết Ông Ngư, Ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh, một tác phẩm có tính chất đối thoại. Nội dung kể về việc vua Tấn sống dưới ách ngoại bang nên rời quê hương đi lánh giặc. Hai nhân vật là Bào Tử Phược và Mộng Thê Triền bỏ nhà vào núi ở ẩn, làm Ngư, làm Tiều. Được sự dẫn dắt của Đạo Dẫn, họ tìm thấy học đạo, học thuốc để cứu đời.
Hai người gặp Kì Nhân Sư, ông thầy khong chịu hợp tác với giặc, tự xông mắt cho mù. Họ được thầy dạy cho nghề thuốc cứu đời. Con đường đi đến “rừng y’ của hai ẩn sĩ thể hiện tinh thần gắn bó với dân của Nguyễn Đình Chiểu, khác với ẩn sĩ xưa chỉ biết lánh đời. Qua tác phẩm này Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện một tinh thần thương dân và yêu nước mãnh liệt.
Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Ðình Chiểu trở thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuộc ông nhưng ông vẫn một mực từ chối các ân tứ. (Có nhiều giai đoạn về thái độ bất hợp tác của Nguyễn Ðình Chiểu với kẻ thù).
Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ Nam Bộ là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Tấm gương Nguyễn Ðình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào.
 







Các ý kiến mới nhất