Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2
TSThS

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 036 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Tuần 30. Nguyễn Du

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Nhật Linh
Ngày gửi: 21h:37' 07-04-2011
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 67
Số lượt thích: 0 người
Nguyễn Du
(1765-1820)
Tổ 3 -Lớp 10A -Trường THPT chuyên Lam Sơn
A/ Vài nét về tiểu sử
B/ Sự nghiệp văn chương
I. Các sáng tác chính
II. Vài nét về Nguyễn Du trong tác phẩm chữ Hán
III. Vài nét về Nguyễn Du trong tác phẩm chữ Nôm
C/ Đánh giá chung:
MỤC LỤC
A. Vài nét về tiểu sử
 Nguyễn Du(1765-1820),tên chữ là Tố Như,hiệu là Thanh Hiên và Hồng Sơn hiệp lộ,Nam Hải điếu đồ
Quê ở Nghi Xuân,Hà Tĩnh,một vùng đất giàu truyền thống văn hoá, sinh ở Thăng Long đất kinh kì.Là gia đình đại quý tộc phong kiến có truyền thống khoa bảng văn chương .
Nguyễn Du sinh ra và sống trọn vẹn vào giai đoạn
cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX-một giai đoạn
lịch sử đầy biến động.Do vậy cuộc đời của Nguyễn Du cũng trải qua không ít thăng trầm
- Ông bế tắc trong tư tưởng chính trị : do nặng lòng với Lê Trịnh mà ông định dấy binh chống Tây Sơn. Việc chẳng thành, ông phải dấn thân vào 15 năm gió bụi.
- Những năm tháng lưu lạc ông sống cực khổ nên
hiểu rõ tình cảnh khổ đau của nhân dân, hình thành gốc nhân đạo sâu và vững
Nguyễn Du làm quan triều Nguyễn với tâm trạng bất đắc trí. Ông được cử đi xứ Trung Quốc(1813).
Đến 1820 định đi xứ lần hai thì bị bệnh và mất
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du
B. Sự nghiệp văn chương
I. Các sáng tác chính
1.Sáng tác bằng chữ Hán:
Hiện nay còn 249 bài thơ chữ Hán
do Nguyễn Du viết vào các thời kỳ khác nhau
Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.
Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.
Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.




2.Các tác phẩm chữ Nôm
Truyện Kiều.( Đoạn trường tân thanh)
Văn chiêu hồn (tức Văn tế mười loại chúng sinh), hiện chưa rõ thời điểm sáng tác.
Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.
Sinh tế Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.
II. Vài nét về Nguyễn Du trong tác phẩm chữ Hán

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, nhân cách của ông. Các bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác giả.
Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn.
Thơ Nguyễn Du viết khi đi sứ có ba nhóm đáng chú ý:
_ Một là ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao
thượng và phê phán những nhân vật phản diện.
_ Hai là phê phán xã hội phong kiến chà đạp
quyền sống con người.
_ Ba là cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội,
bị đọa đày hắt hủi…
1.Tâm sự hoài cổ và nỗi niềm cô độc của Nguyễn Du trong các
tác phẩm chữ Hán:
- Xuyên suốt các tác phẩm chữ Hán của Nguyễn Du là một tâm trạng hoài cổ,là tâm sự của một con người không có chính nghĩa, hoàn toàn cô độc giữa thời đại, bế tắc trong cái nhìn và tư tưởng.
- Nguyễn Du bị ràng buộc bởi quan niệm “tôi trung không thờ hai chủ”, ông chống Tây Sơn nhưng không hăng hái lắm. Tuy nhiên niềm tin của ông đối với nhà Lê cũng bị lung lay. Đó cũng là lý do ông không có lấy một bài thơ ca ngợi triều đại nhà Lê. Ông từng có ý định chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp, bởi chưa bắt đầu mà ông đã nản chí lắm rồi:
‘Tráng sĩ bạc đầu bi hướng thiên’
(Tráng sĩ đầu bạc bi thương ngẩng nhìn trời)
- Nguyễn Du hoàn toàn bị mất phương hướng, thậm chí ông không có cả lí tưởng của riêng mình. Đến cuối cùng nhà Lê hoàn toàn bị tiêu diệt, chỉ còn là bóng ma của một thời tàn,tất cả ý đồ khôi phục hoàn toàn sụp đổ. Đó cũng là nguyên nhân tại sao thơ chữ Hán của ông luôn mang tâm trạng chán trường như tiếng thở dài ngao ngán cho thế cuộc.
- Ông quay lưng lại với bọn quan lại ức hiếp dân lành, nhưng ông cũng không thể đến được với nhân dân, không tìm ra được ở đời sống và khát vọng của nhân dân cái sức lực tinh thần cần thiết, do vậy ông hoàn toàn lạc lõng giữa thời đại. Do vậy tâm trạng ông nhuốm màu bi quan, cô độc. Một phần cũng vì Nguyễn Du có những tư tưởng, tình cảm đi trước thời đại.
Tâm sự day dứt suốt đời của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán không chỉ là cảnh
ngộ riêng tư, cũng không chỉ là sự yêu mến hay chán ghét đối với một triều đại này
hay triều đại khác.Tầm sâu sắc của nhà thơ là chỗ qua những biểu hiện cụ thể của
cuộc sống,của tâm trạng con người trong tác phẩm, Nguyễn Du muốn đi đến một
nhận thức có tính bản chất về xã hội.

2, Thái độ của Nguyễn Du trong các tác phẩm chữ Hán:

Phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người
Suốt cả cuộc đời mình,ông luôn phải chứng kiến cảnh những con người đau khổ và bất hạnh, những con người bị đẩy vào đường cùng bởi một xã hội phong kiến thối nát,xấu xa và đang trên đường xuống dốc suy tàn.Những cảnh đó đập vào mắt nhà thơ nhức nhối đau đớn, lòng ông mang nặng nỗi đau đời,nỗi đau đời đã dằn vặt,day dứt ông không nguôi.
‘ Nhân tình nhắm mắt chưa xong
Biết ai hậu thế khóc cung Tố Như ’
Nguyễn Du khinh bỉ và chán ghét chế độ ấy.. Xã hội gì mà những người lương thiện phải chịu khổ cực, còn những kẻ ngu dốt, độc ác lại đứng đầu xã hội, cầm cán công công lí? Quan lại toàn một lũ “nhai xé thịt người ngọt xớt như đường.

Nguyễn Du là người hơn ai hết hiểu được nỗi đau đời,hơn ai hết hiểu được cảnh đời dối gian đen bạc. Hiểu nhưng ông bất lực. Sinh ra trong một gia đình có nhiều người làm quan nhưng Nguyễn Du có cuộc sống gần gũi với nhân dân hiểu được nỗi đau đớn mà nhân dân phải gánh chịu.
Cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi

Nội dung quan trọng hàng đầu trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những người nhỏ bé,thấp cổ bé họng. Người ăn xin, hát rong, những người lao động nặng…..vốn bị xã hội cú coi rẻ được nhà thơ nói đến bằng một tấm lòng trân trọng,thương yêu.
Trong đó có lẽ đau đớn nhất là người phụ nữ,tủi nhục nhất là kiếp đàn bà:
“Tây hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn.
Phong vận kì oan ngã tự cư”
Ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao
thượng và phê phán những nhân vật phản diện.

Đây là phần trong sáng và đáng trân trọng nhất của các tập thơ chữ Hán, đó chính là những yêu ghét của nhà thơ. Ở vào thời của Nguyễn Du biết yêu ghét không phải là chuyện dễ.
Nguyễn Du đã vạch trần tội ác của tên bạo chúa nhà Minh bằng những lời lẽ phẫn nộ hay là những lời nguyền rủa trước tượng Tần Cối và mắng vợ hắn
Nguyễn Du khinh bỉ bọn đặt công danh phú quý lên trên mọi tình nghĩa trên đời.
“Họ đi ra ngựa ngựa xe xe, họ ở nhà vênh vênh váo váo
Đứng ngồi bàn tán tựa ông Cao, ông Quỳ”
Cuối cùng Nguyễn Du đi đến một sự khái quát hoá cao độ về tầng lớp thống trị:
“ Bất lộ trảo nha dữ giác độc.
Giảo tước nhân nhục cam như di”
Nguyễn Du đã đướng trên lập trường nhân dân mà nhìn bọn chúng, Nguyễn Du đã trút tất cả căm giận của nhân dân lên đầu bọn ăn thịt người ấy, một sự căm giận chọc thủng cái màn dày đặc của hàng nghìn năm lịch sử, và đáng sợ như nhau đối với bọn gian thần
Ông thương cảm cho những kiếp tài hoa bạc phận sống trong một thời đại thất điên bát đảo, hỗn loạn, họ bị quăng đi quật lại trong đớn đau.
Bên cạnh đó là sự ca ngợi, đồng cảm với những nhân cách cao thượng,những tài năng hiếm có.

III.Vài nét về Nguyễn Du trong tác phẩm chữ Nôm
1. Văn tế thập loại chúng sinh (Văn tế mười loại chúng sinh)
-Được viết bằng thể thơ song thất lục bát.
- Thể hiện một phương diện quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm Nguyễn Du. Theo quan niệm xưa,hồn của người chết bất hạnh cần được siêu sinh tịnh đọ.Nguyễn Du viết bài thơ chiêu hồn cho nhiều hạng người khác nhau,kể cả những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc. Song tấm lòng nhân ái của nhà thơ vẫn hướng về những thân phận nhỏ bé,dưới đáy xã hội. Do giá trị nhân đạo sâu sắc mà Văn chiêu hồn được phổ biến rộng rãi,kể cả trong phạm vi nhà chùa.
- Văn chiêu hồn chính là một tiếng khóc lớn cất lên từ tâm hồn vĩ đại và cao cả Nguyễn Du. Trong một xã hội mục rỗng bạo tàn, Tố Như cất tiếng khóc cho tất cả những số phận bi thảm của con người. Tất cả họ khi sống dù là mũ cao áo rộng,là những thư sinh nho sĩ,là những người cùng đinh chân lấm tay bùn….nhưng khi chết đi đều là những cô hồn thất thểu,vất vưởng,khổ đau không nơi nương tựa.Tố Như khóc họ,khóc cho tất cả,thương cho tất cả, dù khi họ sống ông vẫn phân biệt rõ ràng kẻ ngay người gian, kẻ ông yêu người ông ghét.Não nùng biết mấy những câu thơ đầy máu hoà nước mắt:
“Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng”
2.Truyện Kiều(Đoạn trường tân thanh)
a.Nguồn gốc và sự sáng tạo của Nguyễn Du:
*Nguồn gốc:
-Truyện Kiều được sáng tác trên cơ sở cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc “Kinh Vân Kiều Truyện”.
-Chưa xác định thời gian sáng tác cụ thể
b.Sự sáng tạo của Nguyễn Du
-Về thể loại: Từ một tiểu thuyết viết bắng văn xuôi, Nguyễn Du đã kế thừa truyền thống nghệ thuật thơ Nôm,khúc ngâm,thơ trữ tình và ca dao để sáng tạo ra một truyện thơ đầy chất tiểu thuyết và trữ tình
Thể thơ lục bát
-Biến một câu truyện tình khổ bình thường thành một tiếng kêu đứt ruột mới
-Bỏ qua các mưu mẹo,tàn nhẫn,dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân để tạo ra một thế giới nhân vật đầy sống động
* Truyện Kiều là bài ca về tự do và ước mơ công lý:
-Tình yêu Kim-Kiều vượt lên mọi quy định của lễ giáo phong kiến để đôi trai gái được tự do đính ước
-Ước mơ công lý: xây dựng hình ảnh Từ Hải là hiện thân anh hùng xuất chúng,có hoài bão lớn lao và gửi gắm vào nhân vật khát vọng làm chủ cuộc đời,trả ân,báo oán.
Khinh thường những kẻ luồn cúi
* Truyện Kiều là tiếng khóc cho số phận con người
-Khóc thương cho thân phận người đàn bà tài hoa bạc mệnh
-Khóc thương cho tình yêu trong sáng,chân thành bị tan vỡ
-Khóc thương cho tình cốt nhục bị chia lìa
-Khóc thương cho nhân phẩm bị chà đạp: Kiều “Thanh lâu hai lượt,thanh y hai lần”
* Truyện Kiều là bản cáo trạng đanh thép đối với các thế lực đen tối thể hiện qua ba phương diện:
-Tố cáo về quyền sống con người bị chà đạp
-Tố cáo các thế lực đen tối
-Lên án những tác động làm tha hoá con người của đồng tiền
* Truỵên Kiều là tiếng nói hiểu đời:Giá trị của Truyện Kiều không chỉ ở lý tưởng của Nguyễn Du hay sự phê phán các thế lực đen tối,mà còn ở tấm lòng hiểu đời,bao dung của tác giả thấm sâu vào từng lời,từng chi tiết.Chính sự hiểu đời đã khiến cho ngòi bút nhà thơ đạt đến một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc.Nhân vậtcủa ông không công thức,một chiều mà có đời sống tâm lý phong phú,chân thực

Giá trị tư tưởng truyện Kiều
a.Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
-Khắc hoạ chân thật chân dung nhân vật sống động,gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
-Nhân vật vừa có nét điển hình,vừa có nét riêng nổi bật
-Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật
b.Mẫu mực của nghệ thuật tự sự và trữ tình của thể thơ lục bát
-Trần thuật,giới thiệu nhân vật làm cảnh vật hiện lên như bộc lộ trực tiếp tình cảm nhân vật, khiến độc giả không thể nào quên
VD:Sở Khanh,Mã Giám Sinh…..
-Vượt lên trên sự kể chuyện đơn giản để trở thành tiểu thuyết bằng thơ. Thơ lục bát trong truyện Kiều đã vượt qua hình thức mộc mạc,dân dã để trở thành hình thức trang nhã,cổ điển.
c.Nghệ thuật sử dụng ngôn từ:
- Ngôn ngữ thi ca phong phú,chính xác, đẹp đẽ
- Sử dụng từ ngũ Hán-Việt hợp lý
- Sử dụng lời ăn tiếng nói nhân dân. Có sự kết hợp giữ ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân
- Sử dụng từ ngũ chính xác,tinh vi (Vd;miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh)
Giá trị nghệ thuật truyện Kiều
Nhận định về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong truyện Kiều,sách Văn học lớp 10 có viết:
“Có thể nói trong văn học cổ không có nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật như Nguyễn Du,nhất là nội tâm nhân vật Thuý Kiều”
Đánh giá về nghệ thuật “Truyện Kiều”,nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét:
“Tiếng nói Việt Nam trong Truyện Kiều như là làm bằng ánh sáng vậy”
C. Đánh giá chung:

I. Dặc diểm nội dung:
*Nét nổi bật về nội dung trong sáng tác Nguyễn Du là sự đề cao xúc cảm,tức đề cao “tình”
*Chữ “tình”chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong sáng tác Nguyễn Du:
-Đó là sự cảm thông sâu sắc của tác giả dành cho cuộc sống và con người, đặc biệt là dành cho những con người nhỏ bé,bất hạnh,dành cho người phụ nữ.
-Đó là triết lý của nhà thơ về cuộc đời,về thân phận con người thường mang tính khái quát cao và thấm đẫm cảm xúc. Ý nghĩa xã hội sâu sắc của thơ ca Nguyễn Du gắn chặt với tình đời,tình người bao la của nhà thơ.
-Nguyễn Du là người đầu tiên trong văn học trung đại đã nêu lên mộtcách tập trung vấn đề về thân phận người phụ nữ có sắc đẹp và tài năngvăn chương nghệ thuật(thơ,nhạc….). Ông đã đề cập đến một vấn đề rất mới,nhưng cũng rất quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học:xã hội cần phải trân trọng những giá trị tinh thần và chủ nhân sáng tạo ra những giá trị tinh thần đó.
=> Nguyễn Du là tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đề cao hạnh phúc con người tự nhiên,trần thế

- Thơ chữ Nôm đã thể hiện tài năng nghệ thuật Nguyễn Du. Nguyễn Du nắm vững và góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân tộc, làm giàuđẹp cho tiếng Việt. Khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.
:
- Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác,nắm vững nhiều thể thơ Trung Quốc. Thơ chữ Hán của ông ở thể thơ nào cũng có bài xuất sắc.

II. Đặc điểm nghệ thuật
Với sự tham gia của các thành viên:
-Đỗ Hồng Nhung
-Phương Quỳnh Mai
-Dương Thị Thu Thảo
-Vũ Phương Anh
-Phạm Hà Thu
-Tào Thị Thu Hiền
-Trịnh Linh Giang
-Trịnh Hồng Nhung
-Nguyễn Diệu Linh
-Nguyễn Thị Phương Thảo
CẢM ƠN ĐÃ THEO DÕI
TỔ 3
 
Gửi ý kiến