Tuần 21. Nguyễn Trãi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: No One
Ngày gửi: 07h:59' 16-03-2009
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 137
Nguồn:
Người gửi: No One
Ngày gửi: 07h:59' 16-03-2009
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 137
Số lượt thích:
0 người
Mục lục:
Giới thiệu cuộc đời của Nguyễn Trãi:
Giới thiệu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi:
Tác phẩm
Nội dung thơ văn Nguyễn Trãi
Nghệ thuật thể hiện
Ý nghĩa thơ văn Nguyễn Trãi
trong nền văn học dân tộc.
Tổng kết:
Giới thiệu cuộc đời và thân thế:
Nguyễn Trãi(1380-1442) hiệu là Ức Trai quê làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thường Tín tỉnh Hà Sơn Bình.
Ông là con thứ của Nguyễn Phi Khanh. Tròn 6 tuổi, mẹ mất, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại. Năm 1390, quan Tư đồ cũng mất, Nguyễn Trãi theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê.
Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhưng ông vẫn quyết chí gắng công học tập và nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân.
Nguyễn Trãi với sự nghiệp phò vua
giúp nước:
Năm 1400, vào triều nhà Hồ, ông thi đỗ Thái học sinh, được cử làm quan lớn trong Triều đình.
Năm 1407, giặc Minh sang xâm lược,
Hồ Quý Ly thất bại, Nguyễn Trãi
nghe lời cha trở về tìm đường
cứu nước nhưng bị giặc giam
nơi thành Ðông Quan suốt
mười năm dài.
Năm 1416, ông tìm đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dâng cho Lê Lợi tác phẩm Bình Ngô sách.
Từ đó, ông gắn bó với phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Ông tham gia xây dựng đường lối quân sự, chính trị phù hợp và đảm đương những nhiệm vụ
quan trọng như soạn thảo thư từ địch vận,
tham mưu, vạch ra chiến lược, chiến thuật
cho nghĩa quân.
Năm1428, kháng chiến thành công,
ông được Lê Lợi giao cho soạn bài cáo
Bình Ngô nổi tiếng.
Nguyễn Trãi với sự nghiệp phò vua
giúp nước:
3. Nguyễn Trãi thời hoà bình:
Cuộc chiến chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi được phong chức vị cao trong triều đình và trở thành đầu tàu gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét. Ðặc biệt, sau vụ Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn. Thời kỳ này, ông bắt đầu cay đắng nhận ra sự độc ác của miệng đời:
“Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
Lòng người quanh nữa nước non quanh”
(Bảo kính cảnh giới- bài 9)
Sau đó, ông được tha nhưng không còn được vua tin dùng như trước nữa.
3. Nguyễn trãi thời hoà bình:
Năm 1433, Lê Thái Tổ mất. Triều đình nhà lê bộc lộ nhiều bất công xấu xa Nguyễn Trãi xin về Côn Sơn ở ẩn.
Khi Lê Thái Tôn lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Tả gián nghị đại phu.
Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ ơn hết sức xúc động và lại hăng hái ra giúp nước, chỉnh đốn kỷ cương, đào tạo nhân tài.
Năm 1442, vụ án Lệ Chi Viên xảy ra. Nguyễn Trãi bị can tội giết vua, bị cái án là tru di tam tộc.
Hai mươi năm sau, khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã tiến hành minh oan, phục hồi chức tước và sai Trần Khắc Kiệm tìm lại toàn bộ những tác phẩm bị thất truyền của Nguyễn Trãi.
4/Nhận xét chung:
Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ- chiến đấu chống bạo lực xâm lược và chống gian tà.
Tư tưởng nhân nghĩa là đỉnh cao chói sáng
trong thơ ông. Quan điểm xem văn chương
là vũ khí chiến đấu thể hiện rõ trí tuệ sáng
suốt và bản lĩnh của một thiên tài.
Cuộc đời Nguyễn Trãi cho chúng ta bài
học quý báu về tinh thần nhân đạo,
nhiệt tình chiến đấu, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo.
Về văn:
Tác phẩm Bình Ngô đại cáo: ghi trong Lam Sơn thực lục và Ðại Việt sử ký toàn thư.
Quân sự & chính trị: có Quân trung từ mệnh tập- đây là một tập văn chính luận thư từ địch vận (gồm hơn 70 bức thư, trong đó đa số các bức thư gửi cho tướng tá nhà Minh, phần còn lại là những thư từ viết gửi cho quân ta).
Văn loại: gồm chiếu biểu làm thay cho Lê Lợi.
Băng Hồ di sự lục: soạn năm 1428
Văn bia Vĩnh Lăng: soạn năm 1435
Dư địa chí: soạn năm 1435
Về thơ:
Ức Trai thi tập: gồm 105 bài thơ chữ Hán
Quốc âm thi tập: gồm 254 bài thơ Nôm
(có thể đây là quyển thơ Nôm duy nhất
còn sót lại sau thảm án Lệ Chi viên).
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt) tiêu diệt quân tàn bạo hại nước hại dân (trừ bạo), đem lại yên vui, hạnh phúc cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Thủ Tương Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Đối với Nguyễn Trãi, yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân và cứu nước để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người”.
“Còn một tấc lòng ôm việc nước
Đêm đêm thức nhẵn nẻo sở chung”
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Sức mạnh nhân nghĩa là sức mạnh Việt Nam để chiến thắng thù trong giặc ngoài. Đó là "Đại nghĩa" (nghĩa lớn vì nước vì dân), là lòng "chí nhân" (thương người vô hạn):
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo"
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Lòng căm thù giặc sôi sục, quyết không đội trời chung với quân "cuồng Minh":
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống”
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng "trung hiếu" và niềm "ưu ái" (lo nước, thương dân).
"Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen"
(Thuật hứng - 24)
"Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông"
(Thuật hứng - 5)
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình:
Yêu thiên nhiên: Yêu cây cỏ hoa lá, trăng nước mây trời, chim muông ...
"Hái cúc ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạt nguyệt, tuyết xâm khăn"
"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then"
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình:
Yêu quê hương gia đình: Nguyễn Trãi cũng có cuộc sống thường ngày của mình. Tâm hồn ông luôn gắn bó với quê hương xứ sở gắn bó với cuộc đời lao động cần cù của nhũng người dân quê bình dị:
“Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan chen vãi đậu kê”
“Quê cũ nhà ta thiếu của nào
Rau trong nội, cá trong ao"
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình:
Yêu danh lam thắng cảnh:
"Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáp gươm chìm gẫy bãi bao tầng"
(Cửa biển BạchĐằng)
"Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao dải tua châu đá rủ mành“
(Đề chùa Hoa yên, núi Yên Tử)
c) Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao:
“Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
“Say minh nguyệt, chè ba chén
Thú thanh phong, lều một gian "
"Một tầm lòng son ngời lửa luyện.
Mười năm thanh chức ngọc hồ băng"
Văn chính luận: "Bình Ngô Đại Cáo“,”Quân trung từ mệnh tập” là sự kết hợp giữa sức mạnh của lí tưởng nhân nghĩa yêu nước với khả năng lập luận
chặt chẽ,sắc xảo.
Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi(Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…) lại là sự kết hợp giữa một tư tưởng có tầm vóc lớn lao với một tâm hồn rất nhạy cảm, giàu chất thơ.
Đặc biệt, thơ Nôm của ông là thành tựu có
ý nghĩa mở đầu đặt nền móng cho sự
phát triển mạnh mẽ của thơ ca Tiếng Việt
Nguyễn Trãi là nhà văn có nhiều cống hiến to lớn cho văn học dân tộc.
Là nhà văn chính luận kiệt xuất, ngòi bút chính luận sắc bén giàu nhân nghĩa và đầy tính chiến đấu(Quân trung từ mệnh tập,
Đại cáo bình ngô).
Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là một thế giới thẩm mĩ phong
phú, vừa chữ tình, trí tuệ, vừa hào hùng lãng mạn.
Cửa biển bạch đằnglà bài thơ trữ tình về chiến công
lịch sử một niềm thương cảm đối với các anh hùng xưa.
Đóng của biểnlà bài thơ triết lí khẳng định.
bài học về sức mạnh của nhân dân.
Mộng trong núilà một giấc mơ lãng mạn siêu thoát.
Về thơ nôm, nguyễn Trãi là người sáng tạo tiên phong,
để lại tập thơ xưa nhất và nhiều nhất:những bài thơ
giàu trí tuệ sâu sắc thấm đẫm trãi nghiệm về cuộc đời
ngôn ngữ thơ tinh luyện trong sáng đăng đối.
Nguyễn Trãi là nhà thơ đã sớm đưa tục ngữ
vào tác phẩm. Ông cũng là người đã sáng tạo hình
thức thơ thất ngôn xen lục ngôn, một hình thức
khác với Đường Luật. Có thể nói Nguyễn Trãi
là một nhân vật tài đức có đủ , trí dũng song
toàn trong lịch sự Việt Nam thời phong kiến.
Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa lỗi lạc và cũng là người có số phận bi thương nhất trong lịch sử VN. Ông chẳng những góp phần viết nên các trang hào hùng trong lịch sử giữ nước mà còn góp phần xây đắp nền móng vững chãi cho văn học dân tộc.
Nguyễn Trãi một đời vì nước vì dân, là ngòi bút thiên tài. Bọn gian thần sát hại được ông,chúng đã để lại vết nhơ cho hậu thế. Còn tên tuổi của ông vẫn đời đời bất diệt với non sông
3) Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân , gắn bó thiết tha với cảnh vật thiên nhiên đất nước, thể hiện tình yêu ngôn từ Việt nồng thắm. Năm 1980,Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.
Wed sites:
onthi.com
hocmai.vn
nguyentrai.net
Giới thiệu cuộc đời của Nguyễn Trãi:
Giới thiệu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi:
Tác phẩm
Nội dung thơ văn Nguyễn Trãi
Nghệ thuật thể hiện
Ý nghĩa thơ văn Nguyễn Trãi
trong nền văn học dân tộc.
Tổng kết:
Giới thiệu cuộc đời và thân thế:
Nguyễn Trãi(1380-1442) hiệu là Ức Trai quê làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thường Tín tỉnh Hà Sơn Bình.
Ông là con thứ của Nguyễn Phi Khanh. Tròn 6 tuổi, mẹ mất, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại. Năm 1390, quan Tư đồ cũng mất, Nguyễn Trãi theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê.
Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhưng ông vẫn quyết chí gắng công học tập và nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân.
Nguyễn Trãi với sự nghiệp phò vua
giúp nước:
Năm 1400, vào triều nhà Hồ, ông thi đỗ Thái học sinh, được cử làm quan lớn trong Triều đình.
Năm 1407, giặc Minh sang xâm lược,
Hồ Quý Ly thất bại, Nguyễn Trãi
nghe lời cha trở về tìm đường
cứu nước nhưng bị giặc giam
nơi thành Ðông Quan suốt
mười năm dài.
Năm 1416, ông tìm đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dâng cho Lê Lợi tác phẩm Bình Ngô sách.
Từ đó, ông gắn bó với phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Ông tham gia xây dựng đường lối quân sự, chính trị phù hợp và đảm đương những nhiệm vụ
quan trọng như soạn thảo thư từ địch vận,
tham mưu, vạch ra chiến lược, chiến thuật
cho nghĩa quân.
Năm1428, kháng chiến thành công,
ông được Lê Lợi giao cho soạn bài cáo
Bình Ngô nổi tiếng.
Nguyễn Trãi với sự nghiệp phò vua
giúp nước:
3. Nguyễn Trãi thời hoà bình:
Cuộc chiến chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi được phong chức vị cao trong triều đình và trở thành đầu tàu gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét. Ðặc biệt, sau vụ Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn. Thời kỳ này, ông bắt đầu cay đắng nhận ra sự độc ác của miệng đời:
“Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
Lòng người quanh nữa nước non quanh”
(Bảo kính cảnh giới- bài 9)
Sau đó, ông được tha nhưng không còn được vua tin dùng như trước nữa.
3. Nguyễn trãi thời hoà bình:
Năm 1433, Lê Thái Tổ mất. Triều đình nhà lê bộc lộ nhiều bất công xấu xa Nguyễn Trãi xin về Côn Sơn ở ẩn.
Khi Lê Thái Tôn lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Tả gián nghị đại phu.
Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ ơn hết sức xúc động và lại hăng hái ra giúp nước, chỉnh đốn kỷ cương, đào tạo nhân tài.
Năm 1442, vụ án Lệ Chi Viên xảy ra. Nguyễn Trãi bị can tội giết vua, bị cái án là tru di tam tộc.
Hai mươi năm sau, khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã tiến hành minh oan, phục hồi chức tước và sai Trần Khắc Kiệm tìm lại toàn bộ những tác phẩm bị thất truyền của Nguyễn Trãi.
4/Nhận xét chung:
Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ- chiến đấu chống bạo lực xâm lược và chống gian tà.
Tư tưởng nhân nghĩa là đỉnh cao chói sáng
trong thơ ông. Quan điểm xem văn chương
là vũ khí chiến đấu thể hiện rõ trí tuệ sáng
suốt và bản lĩnh của một thiên tài.
Cuộc đời Nguyễn Trãi cho chúng ta bài
học quý báu về tinh thần nhân đạo,
nhiệt tình chiến đấu, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo.
Về văn:
Tác phẩm Bình Ngô đại cáo: ghi trong Lam Sơn thực lục và Ðại Việt sử ký toàn thư.
Quân sự & chính trị: có Quân trung từ mệnh tập- đây là một tập văn chính luận thư từ địch vận (gồm hơn 70 bức thư, trong đó đa số các bức thư gửi cho tướng tá nhà Minh, phần còn lại là những thư từ viết gửi cho quân ta).
Văn loại: gồm chiếu biểu làm thay cho Lê Lợi.
Băng Hồ di sự lục: soạn năm 1428
Văn bia Vĩnh Lăng: soạn năm 1435
Dư địa chí: soạn năm 1435
Về thơ:
Ức Trai thi tập: gồm 105 bài thơ chữ Hán
Quốc âm thi tập: gồm 254 bài thơ Nôm
(có thể đây là quyển thơ Nôm duy nhất
còn sót lại sau thảm án Lệ Chi viên).
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt) tiêu diệt quân tàn bạo hại nước hại dân (trừ bạo), đem lại yên vui, hạnh phúc cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Thủ Tương Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Đối với Nguyễn Trãi, yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân và cứu nước để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người”.
“Còn một tấc lòng ôm việc nước
Đêm đêm thức nhẵn nẻo sở chung”
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Sức mạnh nhân nghĩa là sức mạnh Việt Nam để chiến thắng thù trong giặc ngoài. Đó là "Đại nghĩa" (nghĩa lớn vì nước vì dân), là lòng "chí nhân" (thương người vô hạn):
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo"
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Lòng căm thù giặc sôi sục, quyết không đội trời chung với quân "cuồng Minh":
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống”
Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc :
Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng "trung hiếu" và niềm "ưu ái" (lo nước, thương dân).
"Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen"
(Thuật hứng - 24)
"Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông"
(Thuật hứng - 5)
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình:
Yêu thiên nhiên: Yêu cây cỏ hoa lá, trăng nước mây trời, chim muông ...
"Hái cúc ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạt nguyệt, tuyết xâm khăn"
"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then"
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình:
Yêu quê hương gia đình: Nguyễn Trãi cũng có cuộc sống thường ngày của mình. Tâm hồn ông luôn gắn bó với quê hương xứ sở gắn bó với cuộc đời lao động cần cù của nhũng người dân quê bình dị:
“Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan chen vãi đậu kê”
“Quê cũ nhà ta thiếu của nào
Rau trong nội, cá trong ao"
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình:
Yêu danh lam thắng cảnh:
"Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáp gươm chìm gẫy bãi bao tầng"
(Cửa biển BạchĐằng)
"Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao dải tua châu đá rủ mành“
(Đề chùa Hoa yên, núi Yên Tử)
c) Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao:
“Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
“Say minh nguyệt, chè ba chén
Thú thanh phong, lều một gian "
"Một tầm lòng son ngời lửa luyện.
Mười năm thanh chức ngọc hồ băng"
Văn chính luận: "Bình Ngô Đại Cáo“,”Quân trung từ mệnh tập” là sự kết hợp giữa sức mạnh của lí tưởng nhân nghĩa yêu nước với khả năng lập luận
chặt chẽ,sắc xảo.
Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi(Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…) lại là sự kết hợp giữa một tư tưởng có tầm vóc lớn lao với một tâm hồn rất nhạy cảm, giàu chất thơ.
Đặc biệt, thơ Nôm của ông là thành tựu có
ý nghĩa mở đầu đặt nền móng cho sự
phát triển mạnh mẽ của thơ ca Tiếng Việt
Nguyễn Trãi là nhà văn có nhiều cống hiến to lớn cho văn học dân tộc.
Là nhà văn chính luận kiệt xuất, ngòi bút chính luận sắc bén giàu nhân nghĩa và đầy tính chiến đấu(Quân trung từ mệnh tập,
Đại cáo bình ngô).
Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là một thế giới thẩm mĩ phong
phú, vừa chữ tình, trí tuệ, vừa hào hùng lãng mạn.
Cửa biển bạch đằnglà bài thơ trữ tình về chiến công
lịch sử một niềm thương cảm đối với các anh hùng xưa.
Đóng của biểnlà bài thơ triết lí khẳng định.
bài học về sức mạnh của nhân dân.
Mộng trong núilà một giấc mơ lãng mạn siêu thoát.
Về thơ nôm, nguyễn Trãi là người sáng tạo tiên phong,
để lại tập thơ xưa nhất và nhiều nhất:những bài thơ
giàu trí tuệ sâu sắc thấm đẫm trãi nghiệm về cuộc đời
ngôn ngữ thơ tinh luyện trong sáng đăng đối.
Nguyễn Trãi là nhà thơ đã sớm đưa tục ngữ
vào tác phẩm. Ông cũng là người đã sáng tạo hình
thức thơ thất ngôn xen lục ngôn, một hình thức
khác với Đường Luật. Có thể nói Nguyễn Trãi
là một nhân vật tài đức có đủ , trí dũng song
toàn trong lịch sự Việt Nam thời phong kiến.
Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa lỗi lạc và cũng là người có số phận bi thương nhất trong lịch sử VN. Ông chẳng những góp phần viết nên các trang hào hùng trong lịch sử giữ nước mà còn góp phần xây đắp nền móng vững chãi cho văn học dân tộc.
Nguyễn Trãi một đời vì nước vì dân, là ngòi bút thiên tài. Bọn gian thần sát hại được ông,chúng đã để lại vết nhơ cho hậu thế. Còn tên tuổi của ông vẫn đời đời bất diệt với non sông
3) Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân , gắn bó thiết tha với cảnh vật thiên nhiên đất nước, thể hiện tình yêu ngôn từ Việt nồng thắm. Năm 1980,Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.
Wed sites:
onthi.com
hocmai.vn
nguyentrai.net
 








Các ý kiến mới nhất