ô nhiễm môi trường

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Anh
Ngày gửi: 10h:25' 02-06-2008
Dung lượng: 22.1 MB
Số lượt tải: 54
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Anh
Ngày gửi: 10h:25' 02-06-2008
Dung lượng: 22.1 MB
Số lượt tải: 54
Số lượt thích:
0 người
BÁO CÁO THỰC TẬP GIÁO TRÌNH ĐỢT II
“Tìm hiểu tình hình ô nhiễm môi trường và thực trạng kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn xã
Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây”.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hoá học, sinh học ... gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người hoặc của các cơ thể sống khác sinh sống trong môi trường đó.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới: môi trường sinh thái toàn cầu đang bị suy thoái nghiêm trọng. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 2 triệu người tử vong do tình trạng ô nhiễm môi trường và không khí ngày càng gia tăng.
Ở Việt Nam: Nước ta hiện nay mỗi năm có hơn 200 nghìn người mắc bệnh ung thư và có hơn 150 nghìn người chết vì căn bệnh này do môi trường sống bị ô nhiễm ngày càng rất nặng nề nhất là ô nhiễm môi trường nước và môi trường không khí.
Từ thực trạng trên cho thấy môi trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng phần lớn là do việc phát triển kinh tế ở các nước nghèo và đang phát triển, công nghệ xử lý chất thải còn lạc hậu và chưa được đặt lên hàng đầu.
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Tìm hiểu tình hình ô nhiễm môi trường và thực trạng kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây”.
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu tình hình ô nhiễm môi trường và hoạt động kiểm soát ô nhiễm ở xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây.
2.2. Mục tiêu cụ thể: 6
2.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây.
- Thời gian: 2005 – 2007
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
3.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Tô Hiệu nằm ở phía Nam huyện Thường Tín, gần Quốc lộ 1A, cách Hà Nội khoảng 12 km.
- Phía Bắc giáp xã Thắng Lợi.
- Phía Nam giáp xã Văn Tự.
- Phía Tây giáp xã Nghiêm Xuyên.
- Phía Đông giáp xã Thống Nhất.
3.2. Phát triển xã hội
Toàn xã có 2.549 hộ với 10.050 nhân khẩu. Người trong độ tuổi lao động là 4.083 người. Đất nông nghiệp được giao ổn định cho các hộ nông nghiệp là 1,04 sào/khẩu, bằng 374,4 m2.
Tỷ lệ tăng dân số năm 2007 là 1,23%.
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Tình hình phát triển kinh tế của xã qua 3 năm 2005 – 2007
(Nguồn: Ban thống kê xã)
2.3. Phát triển kinh tế
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Chọn điểm nghiên cứu
- Tô Hiệu là một xã có ngành chăn nuôi phát triển, chuồng trại chăn nuôi vẫn theo kiểu truyền thống và bán công nghiệp.
- Vị trí của xã lại nằm gần Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B, nhiều phương tiện giao thông qua lại.
=> Tình hình ô nhiễm môi trường nơi đây là vấn đề được người dân và chính quyền địa phương rất quan tâm.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.2. Phương pháp thu thập số liệu
4.2.1. Số liệu thứ cấp
Số liệu, thông tin được thu thập qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo về hiện trạng môi trường và các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường do UBND xã, huyện quản lý.
4.2.2. Số liệu sơ cấp
4.2.2.1. Điều tra hộ
Sau khi tìm hiểu tình hình chung từ UBND xã Tô Hiệu, chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 20 hộ ở xã. Việc điều tra được tiến hành bằng cách hỏi trực tiếp từng hộ dựa theo mẫu điều tra đã được soạn sẵn.
4.2.2.2. Điều tra bổ sung
Tôi đã tiến hành tìm hiểu một số biện pháp giải quyết ô nhiễm môi trường ở một số xã lân cận mà đã đạt được kết quả khả quan. Để từ đó xem xem có phù hợp áp dụng vào xã Tô Hiệu không.
4.3. Phương pháp phân tích số liệu
4.3.1. Phương pháp tổng hợp số liệu
Trên cơ sở những số liệu thu thập được, qua quá trình tổng hợp, phân tích để rút ra một cách khái quát tình hình ô nhiễm trên địa bàn xã.
4.3.2. Phương pháp thống kê mô tả
Mô tả tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn xã và ảnh hưởng của chúng tới môi trường thông qua số trung bình, phần trăm, bảng thống kê, số lượng chất thải, tỷ lệ mắc bệnh do ô nhiễm trên địa bàn xã.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.3.3. Phương pháp phân tích so sánh
Xác định những thay đổi chất lượng môi trường và sức khoẻ của người dân.
4.3.4. Phương pháp hiệu quả - chi phí
Thiết lập các mục tiêu và các chi phí của các biện pháp có thể áp dụng. Sau đó so sánh hiệu quả đạt được khi áp dụng biện pháp trên so với khi chưa áp dụng
4.3.5. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, để thực hiện tốt chuyên đề, tôi tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, cán bộ địa phương như chủ nhiệm HTX, cán bộ khuyến nông, cán bộ thú y, trạm y tế xã và tham khảo ý kiến của những người có chuyên môn để từ đó đề xuất được những phương án khả thi nhằm cải thiện môi trường ở xã.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1. Tình hình ô nhiễm trên địa bàn xã
5.1.1. Môi trường nước
Hiện nay môi trường nước của Tô Hiệu đang bị ô nhiễm phần lớn là do chất thải của chăn nuôi, sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, mỗi nguồn nước, mỗi khu vực lại có mức độ ô nhiễm khác nhau
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.1. Nước mặt
Hệ thống ao, hồ trên địa bàn xã bị ô nhiễm nhưng với mức độ không cao. Hiện nay nước ao không còn được sử dụng trong sinh hoạt nữa, chỉ có một số hộ bơm nước để sử dụng cho sản xuất. Nước hồ bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất là ở thôn An Duyên, gần với UBND xã Tô Hiệu.
Rãnh nước gần trường
THCS Tô Hiệu.
Nước mặt bị ô nhiễm nhiều nhất là nước ở cống rãnh và khu vực hồ chứa nước thải, mương tiêu của xã. Nước ở các khu vực này thường đặc sánh, có màu đen và mùi hôi thối
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.1. Nước mặt
5.1.1.2. Nước ngầm
Qua bảng trên cho thấy nguồn nước ngầm của các hộ dân ở đây vẫn có hàm lượng Asen khá cao. Toàn xã chỉ có 40% số hộ có nguồn nước có hàm lượng Asen đạt tiêu chuẩn cho phép.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.3. Nước mưa
Hiện nay nước mưa được ưa chuộng trong sinh hoạt hơn so với nước giếng khoan và được coi là nguồn nước sạch nhất vì hiện nay trên địa bàn xã chưa có nước máy để sử dụng. Số hộ dùng nước mưa cũng chỉ có 26% (số hộ điều tra).
Nước mưa bây giờ thường có nhiều cặn đen hơn so với mấy năm về trước. Các bụi khói tích tụ trên mái nhà thường cho nước những trận mưa đầu tiên có màu đen và nhiều cặn.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.4. Các yếu tố gây ô nhiễm nước
Từ chăn nuôi: Trong số các hộ điều tra thì hộ chăn nuôi ít nhất là 5 con/lứa, hộ nuôi nhiều nhất là 200 con/lứa, mà theo tính toán thì nuôi một tấn lợn sẽ thải ra 10–22 tấn phân, 20–30m3 nước tiểu và 50–100 nghìn m3 nước rửa chuồng trại. Đó là còn chưa tính đến chất thải của các hộ chăn nuôi gà, vịt, bò… Quy mô càng lớn bao nhiêu thì các chất thải ra môi trường càng nhiều bấy nhiêu.
Các gia đình chuyên thu mua gia súc, gia cầm từ các hộ chăn nuôi để bán cũng gây ô nhiễm không kém.
Các chất thải từ sinh hoạt cũng góp phần gây ra sự ô nhiễm nguồn nước. Có khoảng 1/20 hộ điều tra chưa có nhà vệ sinh mà vẫn sử dụng cầu tiêu, thải trực tiếp xuống ao.
Ngoài ra còn phải kể thêm một nguyên nhân nữa, đó là do ý thức của người dân trong xã.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.2. Môi trường không khí
Hiện nay trên địa bàn xã có nhiều dự án và công trình xây dựng nên có rất nhiều bãi cát được đổ ở ven đường, ô tô chở vật liệu xây dựng chạy qua chạy lại liên tục cả ngày sinh ra một lượng bụi rất lớn.
Bụi do ô tô chở VLXD
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.2. Môi trường không khí
Xã này lại nằm gần cả Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B – là hai trục đường lớn, rất nhiều phương tiện giao thông, nên khói bụi từ xe cộ là rất nhiều.
Quốc lộ 1A
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.2. Môi trường không khí
Thêm nữa, trên địa bàn xã vẫn còn số lượng khá lớn công nông và các xe tự chế, không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về kỹ thuật nên mỗi lần xe nổ máy tạo ra một lượng khói đen xì, rất khó chịu.
5.1.2. Môi trường không khí
Ngoài ra, việc vứt rác thải bừa bãi cũng làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm. Rác thải vứt bừa ra đường, cạnh cống rãnh, mưa xuống, các vi sinh vật phân huỷ, làm cho không khí có mùi khó chịu.
Không những thế, xã Tô Hiệu chủ yếu là phát triển chăn nuôi, quy mô lớn nhỏ đều có. Tuy nhiên, chuồng trại chăn nuôi của các hộ chăn nuôi nhỏ vẫn gần khu dân cư nên mùi hôi từ các chuồng trại chăn nuôi là không thể tránh khỏi.
5.1.3. Môi trường đất
5.1.3.1. Hiện trạng ô nhiễm đất
Cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất trên địa bàn xã tuy là không ô nhiễm bằng nhưng cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhất là trên địa bàn thôn Đông Duyên, ở đó có nguyên một bãi đất bị bỏ hoang không trồng trọt được, cỏ mọc um tùm. Diện tích của nó vào khoảng 8 mẫu.
5.1.3.2. Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường đất
Nguồn gây ô nhiễm đất chủ yếu trên địa bàn xã là do các loại chất thải trong hoạt động của con người (rắn, lỏng, khí).
Do dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, phân bón hoá học tích luỹ trong đất.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
1. Ô nhiễm không khí
2. Ô nhiễm nước
2. Ô nhiễm nước
3. Ô nhiễm rác thải
5.2. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ cộng đồng và sản xuất
5.2.1. Đối với sức khoẻ cộng đồng
Môi trường nước bị ô nhiễm là môi trường lý tưởng cho các côn trùng, vi khuẩn truyền bệnh cho người và gia súc. tạo điều kiện phát sinh một số bệnh về đường tiêu hoá, bệnh đau mắt, bệnh phụ khoa… làm giảm chất lượng cuộc sống.
Ô nhiễm môi trường không khí làm cho con người dễ bị mất nước, mệt mỏi, căng thẳng thần kinh và các bệnh về hô hấp (bệnh hô hấp: 30%, phụ khoa: 70%, tiêu hoá: 7 – 10%, bệnh đau mắt hột hầu như không có).
Ô nhiễm tiếng ồn làm hại đến sức khoẻ con người trên cả hai phương diện: tâm lý và sinh lý.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.2. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ cộng đồng và sản xuất
5.2.2. Đối với hoạt động sản xuất
Đa số người dân đều cho rằng, ô nhiễm không gây ảnh hưởng nhièu lắm tới trồng trọt.
Không khí bị ô nhiễm cộng với nóng bức là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh, hoặc làm cho vật nuôi còi cọc, chậm lớn…
Tóm lại, ô nhiễm môi trường có tác hại rất lớn tới sức khoẻ của con người và ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của ngành trồng trọt và chăn nuôi trên địa bàn xã. Cái đó đòi hỏi HTX nói riêng và UBND xã Tô Hiệu nói chung phải có những biện pháp thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn xã.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.3. Các vấn đề môi trường cấp bách trên địa bàn xã
Việc giải quyết ô nhiễm môi trường do các chất thải rắn từ sinh hoạt của người dân.
Việc giải quyết các chất thải trong chăn nuôi, tránh hiện tượng thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua xử lý.
Giải quyết vấn đề ô nhiễm nước mặt trên địa bàn xã.
Khắc phục nguy cơ đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp lại do bị ô nhiễm và chai cứng hoá, tầng đất canh tác cứng, không trồng trọt được.
Hàm lượng Asen trong nước khá cao, cần phải có biện pháp để giảm thiểu lượng Asen trong nước, đảm bảo sức khoẻ cho người dân.
5.4. Thực trạng kiểm soát ô nhiễm và một số đề xuất nhằm cải thiện ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã
5.4.1. Thực trạng thu gom rác thải
Toàn xã chưa có tổ vệ sinh môi trường. Việc thu gom rác thải đều là do mỗi thôn tự túc. Cứ chỗ này đầy, người ta lại tìm một chỗ khác để đổ. Rác ứ đọng, vương vãi khắp nơi và hơn thế nó lại hoàn toàn lộ thiên, nên tình trạng ô nhiễm từ các bãi rác tự phát này là đáng báo động, người dân luôn phải sống chung với rác thải.
Rác có ở khắp nơi
5.4.1. Thực trạng thu gom rác thải
Theo tôi, xã nên thành lập một đội thu gom rác thải gồm khoảng 8 – 10 người, hàng ngày đi thu gom rác thải của các hộ gia đình trong xã, tập hợp rác tại một bãi rác chung của xã (có thể chọn khu đất bị ô nhiễm, không trồng trọt gì được nằm tại thôn Đông Duyên làm nơi tập trung rác thải).
Trong quá trình thu gom rác thải, thực hiện phân loại rác luôn. Khi phân loại rác ra như thế, chúng ta sẽ tận dụng được những loại rác không độc hại, có thể tái chế hoặc tái sinh.
=> Như vậy sẽ giảm được một lượng lớn chất thải đưa ra môi trường, giữ cho môi trường sạch đẹp hơn.
5.4.2. Dự án xây dựng giếng nước sạch, không nhiễm Asen
Tới đây, trong năm 2008 này thì Ngân hàng Thế giới (WB) có dự án xây dựng khoảng 200 giếng nước sạch trên địa bàn huyện Thường Tín, trong đó xây dựng ở xã Tô Hiệu khoảng 50 cái. Nhằm loại bỏ những giếng nước có hàm lượng Asen quá tiêu chuẩn cho phép.
5.4.3. Thực trạng giải quyết vấn đề nước thải trên địa bàn xã
Hiện nay thì xã chưa có một giải pháp nào, chưa có việc làm cụ thể nào để giải quyết vấn đề nước thải trên địa bàn xã.
Hệ thống gồm có một khu bể chứa gồm 4 ngăn, toàn bộ khu vực xử lý rộng 200m2 và một rãnh chung 200m dẫn nước từ các khu vực thôn về hệ thống xử lý. Mỗi ngày có khoảng 20m3 qua hệ thống này. Toàn bộ chi phí xây dựng hệ thống này hết 200trđ. Toàn bộ nước trong thôn theo hệ thống cống rãnh rồi về các bể xử lý sau đó nước được sử dụng để tưới cho cây trồng.(mô hình tái sử dụng nước thải làm nước tưới cho cây trồng ở thôn Trị Ngoại – xã Tân Hoà - Quốc Oai – Hà Tây).
Khuyến khích các nhà đầu tư nên đầu tư vào phát triển các cơ sở sản xuất phân vi sinh.
5.4.4. Kiểm soát việc phun thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn xã
HTX phát động xã viên phun thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật 2 lần/vụ, nhưng thực tế có hộ chẳng phun lần nào, vì ruộng nhà họ không có sâu bệnh. Các xã viên đều ý thức được tác hại của việc phun thuốc trừ sâu bừa bãi nên chỉ khi nào phát hiện có sâu bệnh ở ruộng nhà mình mới tiến hành phun.
Nông dân trong xã đã thả bèo tấm xuống ruộng lúa (như trong hình)
Ngoài biện pháp như trên, HTX cũng nên khuyến cáo với nông dân nên sử dụng phân bón tổng hợp N-P-K, hàm lượng chất ít tan của nó ít hơn nhiều so với bón N, P, K tự trộn. Hơn nữa lại còn tiết kiệm được chi phí.
Ruộng lúa được thả bèo tấm
5.4.5. Hầm Biogas
Hiện nay trên địa bàn xã việc phát triển hầm Biogas cũng còn hạn chế, trong 20 hộ điều tra, chỉ có 3 hộ đã có hầm Biogas. Một số hộ chăn nuôi với quy mô lớn nhưng vẫn chưa xây dựng hầm Biogas, nước thải từ chăn nuôi vẫn được thải trực tiếp xuống ao, còn phân thì được đóng vào bao tải để bán
Phân được đóng thành bao
chờ đem bán
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.4.5. Hầm Biogas
Dự án về xây dựng hầm Biogas với quy mô lớn của WB đang trong tình trạng ngưng trệ, để nước đọng.
Loại hấm sinh khí kiểu vòm cố định
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
Loại hầm sinh khí có nắp đậy di động
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
Loại hầm sinh khí kiểu túi
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.4.6. Tuyên truyền giáo dục
Hiện nay, công tác tuyên truyền giáo dục người dân về vấn đề môi trường còn hạn chế. Cán bộ chuyên trách quản lý môi trường chưa có còn cán bộ làm công tác môi trường thường kiêm nhiều việc.
Chính quyền địa phương hàng năm đều có quy chế vệ sinh môi trường với những quy định về trách nhiệm rất rõ ràng đối với từng đối tượng.
Việc quản lý môi trường tại cộng đồng là quan trọng và việc giúp người dân nhận thức được trách nhiệm của mình với môi trường là một nhiệm vụ hàng đầu. Bởi hoạt động của người dân ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường quanh họ và cũng chính người dân sẽ chịu những ảnh hưởng do hậu quả của ô nhiễm môi trường. Mặt khác, việc thực hiện khắc phục ô nhiễm môi trường sẽ chỉ đạt hiệu quả nếu nó được sự hưởng ứng tích cực của người dân.
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1. Kết luận
Hiện trạng ô nhiễm trên địa bàn xã diễn ra ở cả môi trường nước, không khí và môi trường đất. Ô nhiễm diễn ra nghiêm trọng nhất là ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là nguồn nước mặt.
Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đã có sự quan tâm của người dân và các cấp chính quyền, tuy nhiên mức độ đánh giá còn hạn chế.
Giải pháp khắc phục ô nhiễm trên địa bàn chưa hiệu quả.
Sự quản lý môi trường còn nhiều hạn chế.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.2. Kiến nghị
Làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Đào tạo, tăng cường đội ngũ cán bộ môi trường các cấp
Tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân tham gia vào các hoạt động cải thiện môi trường.
Việc quản lý triển khai các dự án môi trường cần nhanh chóng và chặt chẽ
Cần có công tác quan trắc môi trường để biết rõ hơn về tình trạng môi trường hiện tại.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
“Tìm hiểu tình hình ô nhiễm môi trường và thực trạng kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn xã
Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây”.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hoá học, sinh học ... gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người hoặc của các cơ thể sống khác sinh sống trong môi trường đó.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới: môi trường sinh thái toàn cầu đang bị suy thoái nghiêm trọng. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 2 triệu người tử vong do tình trạng ô nhiễm môi trường và không khí ngày càng gia tăng.
Ở Việt Nam: Nước ta hiện nay mỗi năm có hơn 200 nghìn người mắc bệnh ung thư và có hơn 150 nghìn người chết vì căn bệnh này do môi trường sống bị ô nhiễm ngày càng rất nặng nề nhất là ô nhiễm môi trường nước và môi trường không khí.
Từ thực trạng trên cho thấy môi trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng phần lớn là do việc phát triển kinh tế ở các nước nghèo và đang phát triển, công nghệ xử lý chất thải còn lạc hậu và chưa được đặt lên hàng đầu.
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Tìm hiểu tình hình ô nhiễm môi trường và thực trạng kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây”.
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu tình hình ô nhiễm môi trường và hoạt động kiểm soát ô nhiễm ở xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây.
2.2. Mục tiêu cụ thể: 6
2.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: xã Tô Hiệu - Thường Tín - Hà Tây.
- Thời gian: 2005 – 2007
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
3.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Tô Hiệu nằm ở phía Nam huyện Thường Tín, gần Quốc lộ 1A, cách Hà Nội khoảng 12 km.
- Phía Bắc giáp xã Thắng Lợi.
- Phía Nam giáp xã Văn Tự.
- Phía Tây giáp xã Nghiêm Xuyên.
- Phía Đông giáp xã Thống Nhất.
3.2. Phát triển xã hội
Toàn xã có 2.549 hộ với 10.050 nhân khẩu. Người trong độ tuổi lao động là 4.083 người. Đất nông nghiệp được giao ổn định cho các hộ nông nghiệp là 1,04 sào/khẩu, bằng 374,4 m2.
Tỷ lệ tăng dân số năm 2007 là 1,23%.
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Tình hình phát triển kinh tế của xã qua 3 năm 2005 – 2007
(Nguồn: Ban thống kê xã)
2.3. Phát triển kinh tế
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Chọn điểm nghiên cứu
- Tô Hiệu là một xã có ngành chăn nuôi phát triển, chuồng trại chăn nuôi vẫn theo kiểu truyền thống và bán công nghiệp.
- Vị trí của xã lại nằm gần Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B, nhiều phương tiện giao thông qua lại.
=> Tình hình ô nhiễm môi trường nơi đây là vấn đề được người dân và chính quyền địa phương rất quan tâm.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.2. Phương pháp thu thập số liệu
4.2.1. Số liệu thứ cấp
Số liệu, thông tin được thu thập qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo về hiện trạng môi trường và các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường do UBND xã, huyện quản lý.
4.2.2. Số liệu sơ cấp
4.2.2.1. Điều tra hộ
Sau khi tìm hiểu tình hình chung từ UBND xã Tô Hiệu, chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 20 hộ ở xã. Việc điều tra được tiến hành bằng cách hỏi trực tiếp từng hộ dựa theo mẫu điều tra đã được soạn sẵn.
4.2.2.2. Điều tra bổ sung
Tôi đã tiến hành tìm hiểu một số biện pháp giải quyết ô nhiễm môi trường ở một số xã lân cận mà đã đạt được kết quả khả quan. Để từ đó xem xem có phù hợp áp dụng vào xã Tô Hiệu không.
4.3. Phương pháp phân tích số liệu
4.3.1. Phương pháp tổng hợp số liệu
Trên cơ sở những số liệu thu thập được, qua quá trình tổng hợp, phân tích để rút ra một cách khái quát tình hình ô nhiễm trên địa bàn xã.
4.3.2. Phương pháp thống kê mô tả
Mô tả tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn xã và ảnh hưởng của chúng tới môi trường thông qua số trung bình, phần trăm, bảng thống kê, số lượng chất thải, tỷ lệ mắc bệnh do ô nhiễm trên địa bàn xã.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.3.3. Phương pháp phân tích so sánh
Xác định những thay đổi chất lượng môi trường và sức khoẻ của người dân.
4.3.4. Phương pháp hiệu quả - chi phí
Thiết lập các mục tiêu và các chi phí của các biện pháp có thể áp dụng. Sau đó so sánh hiệu quả đạt được khi áp dụng biện pháp trên so với khi chưa áp dụng
4.3.5. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, để thực hiện tốt chuyên đề, tôi tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, cán bộ địa phương như chủ nhiệm HTX, cán bộ khuyến nông, cán bộ thú y, trạm y tế xã và tham khảo ý kiến của những người có chuyên môn để từ đó đề xuất được những phương án khả thi nhằm cải thiện môi trường ở xã.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1. Tình hình ô nhiễm trên địa bàn xã
5.1.1. Môi trường nước
Hiện nay môi trường nước của Tô Hiệu đang bị ô nhiễm phần lớn là do chất thải của chăn nuôi, sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, mỗi nguồn nước, mỗi khu vực lại có mức độ ô nhiễm khác nhau
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.1. Nước mặt
Hệ thống ao, hồ trên địa bàn xã bị ô nhiễm nhưng với mức độ không cao. Hiện nay nước ao không còn được sử dụng trong sinh hoạt nữa, chỉ có một số hộ bơm nước để sử dụng cho sản xuất. Nước hồ bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất là ở thôn An Duyên, gần với UBND xã Tô Hiệu.
Rãnh nước gần trường
THCS Tô Hiệu.
Nước mặt bị ô nhiễm nhiều nhất là nước ở cống rãnh và khu vực hồ chứa nước thải, mương tiêu của xã. Nước ở các khu vực này thường đặc sánh, có màu đen và mùi hôi thối
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.1. Nước mặt
5.1.1.2. Nước ngầm
Qua bảng trên cho thấy nguồn nước ngầm của các hộ dân ở đây vẫn có hàm lượng Asen khá cao. Toàn xã chỉ có 40% số hộ có nguồn nước có hàm lượng Asen đạt tiêu chuẩn cho phép.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.3. Nước mưa
Hiện nay nước mưa được ưa chuộng trong sinh hoạt hơn so với nước giếng khoan và được coi là nguồn nước sạch nhất vì hiện nay trên địa bàn xã chưa có nước máy để sử dụng. Số hộ dùng nước mưa cũng chỉ có 26% (số hộ điều tra).
Nước mưa bây giờ thường có nhiều cặn đen hơn so với mấy năm về trước. Các bụi khói tích tụ trên mái nhà thường cho nước những trận mưa đầu tiên có màu đen và nhiều cặn.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.1.4. Các yếu tố gây ô nhiễm nước
Từ chăn nuôi: Trong số các hộ điều tra thì hộ chăn nuôi ít nhất là 5 con/lứa, hộ nuôi nhiều nhất là 200 con/lứa, mà theo tính toán thì nuôi một tấn lợn sẽ thải ra 10–22 tấn phân, 20–30m3 nước tiểu và 50–100 nghìn m3 nước rửa chuồng trại. Đó là còn chưa tính đến chất thải của các hộ chăn nuôi gà, vịt, bò… Quy mô càng lớn bao nhiêu thì các chất thải ra môi trường càng nhiều bấy nhiêu.
Các gia đình chuyên thu mua gia súc, gia cầm từ các hộ chăn nuôi để bán cũng gây ô nhiễm không kém.
Các chất thải từ sinh hoạt cũng góp phần gây ra sự ô nhiễm nguồn nước. Có khoảng 1/20 hộ điều tra chưa có nhà vệ sinh mà vẫn sử dụng cầu tiêu, thải trực tiếp xuống ao.
Ngoài ra còn phải kể thêm một nguyên nhân nữa, đó là do ý thức của người dân trong xã.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.2. Môi trường không khí
Hiện nay trên địa bàn xã có nhiều dự án và công trình xây dựng nên có rất nhiều bãi cát được đổ ở ven đường, ô tô chở vật liệu xây dựng chạy qua chạy lại liên tục cả ngày sinh ra một lượng bụi rất lớn.
Bụi do ô tô chở VLXD
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.2. Môi trường không khí
Xã này lại nằm gần cả Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B – là hai trục đường lớn, rất nhiều phương tiện giao thông, nên khói bụi từ xe cộ là rất nhiều.
Quốc lộ 1A
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.1.2. Môi trường không khí
Thêm nữa, trên địa bàn xã vẫn còn số lượng khá lớn công nông và các xe tự chế, không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về kỹ thuật nên mỗi lần xe nổ máy tạo ra một lượng khói đen xì, rất khó chịu.
5.1.2. Môi trường không khí
Ngoài ra, việc vứt rác thải bừa bãi cũng làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm. Rác thải vứt bừa ra đường, cạnh cống rãnh, mưa xuống, các vi sinh vật phân huỷ, làm cho không khí có mùi khó chịu.
Không những thế, xã Tô Hiệu chủ yếu là phát triển chăn nuôi, quy mô lớn nhỏ đều có. Tuy nhiên, chuồng trại chăn nuôi của các hộ chăn nuôi nhỏ vẫn gần khu dân cư nên mùi hôi từ các chuồng trại chăn nuôi là không thể tránh khỏi.
5.1.3. Môi trường đất
5.1.3.1. Hiện trạng ô nhiễm đất
Cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất trên địa bàn xã tuy là không ô nhiễm bằng nhưng cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhất là trên địa bàn thôn Đông Duyên, ở đó có nguyên một bãi đất bị bỏ hoang không trồng trọt được, cỏ mọc um tùm. Diện tích của nó vào khoảng 8 mẫu.
5.1.3.2. Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường đất
Nguồn gây ô nhiễm đất chủ yếu trên địa bàn xã là do các loại chất thải trong hoạt động của con người (rắn, lỏng, khí).
Do dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, phân bón hoá học tích luỹ trong đất.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
1. Ô nhiễm không khí
2. Ô nhiễm nước
2. Ô nhiễm nước
3. Ô nhiễm rác thải
5.2. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ cộng đồng và sản xuất
5.2.1. Đối với sức khoẻ cộng đồng
Môi trường nước bị ô nhiễm là môi trường lý tưởng cho các côn trùng, vi khuẩn truyền bệnh cho người và gia súc. tạo điều kiện phát sinh một số bệnh về đường tiêu hoá, bệnh đau mắt, bệnh phụ khoa… làm giảm chất lượng cuộc sống.
Ô nhiễm môi trường không khí làm cho con người dễ bị mất nước, mệt mỏi, căng thẳng thần kinh và các bệnh về hô hấp (bệnh hô hấp: 30%, phụ khoa: 70%, tiêu hoá: 7 – 10%, bệnh đau mắt hột hầu như không có).
Ô nhiễm tiếng ồn làm hại đến sức khoẻ con người trên cả hai phương diện: tâm lý và sinh lý.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.2. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ cộng đồng và sản xuất
5.2.2. Đối với hoạt động sản xuất
Đa số người dân đều cho rằng, ô nhiễm không gây ảnh hưởng nhièu lắm tới trồng trọt.
Không khí bị ô nhiễm cộng với nóng bức là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh, hoặc làm cho vật nuôi còi cọc, chậm lớn…
Tóm lại, ô nhiễm môi trường có tác hại rất lớn tới sức khoẻ của con người và ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của ngành trồng trọt và chăn nuôi trên địa bàn xã. Cái đó đòi hỏi HTX nói riêng và UBND xã Tô Hiệu nói chung phải có những biện pháp thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn xã.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.3. Các vấn đề môi trường cấp bách trên địa bàn xã
Việc giải quyết ô nhiễm môi trường do các chất thải rắn từ sinh hoạt của người dân.
Việc giải quyết các chất thải trong chăn nuôi, tránh hiện tượng thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua xử lý.
Giải quyết vấn đề ô nhiễm nước mặt trên địa bàn xã.
Khắc phục nguy cơ đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp lại do bị ô nhiễm và chai cứng hoá, tầng đất canh tác cứng, không trồng trọt được.
Hàm lượng Asen trong nước khá cao, cần phải có biện pháp để giảm thiểu lượng Asen trong nước, đảm bảo sức khoẻ cho người dân.
5.4. Thực trạng kiểm soát ô nhiễm và một số đề xuất nhằm cải thiện ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã
5.4.1. Thực trạng thu gom rác thải
Toàn xã chưa có tổ vệ sinh môi trường. Việc thu gom rác thải đều là do mỗi thôn tự túc. Cứ chỗ này đầy, người ta lại tìm một chỗ khác để đổ. Rác ứ đọng, vương vãi khắp nơi và hơn thế nó lại hoàn toàn lộ thiên, nên tình trạng ô nhiễm từ các bãi rác tự phát này là đáng báo động, người dân luôn phải sống chung với rác thải.
Rác có ở khắp nơi
5.4.1. Thực trạng thu gom rác thải
Theo tôi, xã nên thành lập một đội thu gom rác thải gồm khoảng 8 – 10 người, hàng ngày đi thu gom rác thải của các hộ gia đình trong xã, tập hợp rác tại một bãi rác chung của xã (có thể chọn khu đất bị ô nhiễm, không trồng trọt gì được nằm tại thôn Đông Duyên làm nơi tập trung rác thải).
Trong quá trình thu gom rác thải, thực hiện phân loại rác luôn. Khi phân loại rác ra như thế, chúng ta sẽ tận dụng được những loại rác không độc hại, có thể tái chế hoặc tái sinh.
=> Như vậy sẽ giảm được một lượng lớn chất thải đưa ra môi trường, giữ cho môi trường sạch đẹp hơn.
5.4.2. Dự án xây dựng giếng nước sạch, không nhiễm Asen
Tới đây, trong năm 2008 này thì Ngân hàng Thế giới (WB) có dự án xây dựng khoảng 200 giếng nước sạch trên địa bàn huyện Thường Tín, trong đó xây dựng ở xã Tô Hiệu khoảng 50 cái. Nhằm loại bỏ những giếng nước có hàm lượng Asen quá tiêu chuẩn cho phép.
5.4.3. Thực trạng giải quyết vấn đề nước thải trên địa bàn xã
Hiện nay thì xã chưa có một giải pháp nào, chưa có việc làm cụ thể nào để giải quyết vấn đề nước thải trên địa bàn xã.
Hệ thống gồm có một khu bể chứa gồm 4 ngăn, toàn bộ khu vực xử lý rộng 200m2 và một rãnh chung 200m dẫn nước từ các khu vực thôn về hệ thống xử lý. Mỗi ngày có khoảng 20m3 qua hệ thống này. Toàn bộ chi phí xây dựng hệ thống này hết 200trđ. Toàn bộ nước trong thôn theo hệ thống cống rãnh rồi về các bể xử lý sau đó nước được sử dụng để tưới cho cây trồng.(mô hình tái sử dụng nước thải làm nước tưới cho cây trồng ở thôn Trị Ngoại – xã Tân Hoà - Quốc Oai – Hà Tây).
Khuyến khích các nhà đầu tư nên đầu tư vào phát triển các cơ sở sản xuất phân vi sinh.
5.4.4. Kiểm soát việc phun thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn xã
HTX phát động xã viên phun thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật 2 lần/vụ, nhưng thực tế có hộ chẳng phun lần nào, vì ruộng nhà họ không có sâu bệnh. Các xã viên đều ý thức được tác hại của việc phun thuốc trừ sâu bừa bãi nên chỉ khi nào phát hiện có sâu bệnh ở ruộng nhà mình mới tiến hành phun.
Nông dân trong xã đã thả bèo tấm xuống ruộng lúa (như trong hình)
Ngoài biện pháp như trên, HTX cũng nên khuyến cáo với nông dân nên sử dụng phân bón tổng hợp N-P-K, hàm lượng chất ít tan của nó ít hơn nhiều so với bón N, P, K tự trộn. Hơn nữa lại còn tiết kiệm được chi phí.
Ruộng lúa được thả bèo tấm
5.4.5. Hầm Biogas
Hiện nay trên địa bàn xã việc phát triển hầm Biogas cũng còn hạn chế, trong 20 hộ điều tra, chỉ có 3 hộ đã có hầm Biogas. Một số hộ chăn nuôi với quy mô lớn nhưng vẫn chưa xây dựng hầm Biogas, nước thải từ chăn nuôi vẫn được thải trực tiếp xuống ao, còn phân thì được đóng vào bao tải để bán
Phân được đóng thành bao
chờ đem bán
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.4.5. Hầm Biogas
Dự án về xây dựng hầm Biogas với quy mô lớn của WB đang trong tình trạng ngưng trệ, để nước đọng.
Loại hấm sinh khí kiểu vòm cố định
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
Loại hầm sinh khí có nắp đậy di động
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
Loại hầm sinh khí kiểu túi
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
5.4.6. Tuyên truyền giáo dục
Hiện nay, công tác tuyên truyền giáo dục người dân về vấn đề môi trường còn hạn chế. Cán bộ chuyên trách quản lý môi trường chưa có còn cán bộ làm công tác môi trường thường kiêm nhiều việc.
Chính quyền địa phương hàng năm đều có quy chế vệ sinh môi trường với những quy định về trách nhiệm rất rõ ràng đối với từng đối tượng.
Việc quản lý môi trường tại cộng đồng là quan trọng và việc giúp người dân nhận thức được trách nhiệm của mình với môi trường là một nhiệm vụ hàng đầu. Bởi hoạt động của người dân ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường quanh họ và cũng chính người dân sẽ chịu những ảnh hưởng do hậu quả của ô nhiễm môi trường. Mặt khác, việc thực hiện khắc phục ô nhiễm môi trường sẽ chỉ đạt hiệu quả nếu nó được sự hưởng ứng tích cực của người dân.
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1. Kết luận
Hiện trạng ô nhiễm trên địa bàn xã diễn ra ở cả môi trường nước, không khí và môi trường đất. Ô nhiễm diễn ra nghiêm trọng nhất là ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là nguồn nước mặt.
Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đã có sự quan tâm của người dân và các cấp chính quyền, tuy nhiên mức độ đánh giá còn hạn chế.
Giải pháp khắc phục ô nhiễm trên địa bàn chưa hiệu quả.
Sự quản lý môi trường còn nhiều hạn chế.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.2. Kiến nghị
Làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Đào tạo, tăng cường đội ngũ cán bộ môi trường các cấp
Tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân tham gia vào các hoạt động cải thiện môi trường.
Việc quản lý triển khai các dự án môi trường cần nhanh chóng và chặt chẽ
Cần có công tác quan trắc môi trường để biết rõ hơn về tình trạng môi trường hiện tại.
Trần Thị Ngọc Anh – KTB-K50
không ngờ lại gặp người quen ở đây, mình học KTA50. có gì liên hệ với số: 0977587615







Các ý kiến mới nhất