phat trien giao duc 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huyền Linh
Ngày gửi: 20h:44' 01-04-2008
Dung lượng: 151.0 KB
Số lượt tải: 156
Nguồn:
Người gửi: Huyền Linh
Ngày gửi: 20h:44' 01-04-2008
Dung lượng: 151.0 KB
Số lượt tải: 156
Số lượt thích:
0 người
Phát triển giáo dục
trong thời kỳ công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước
Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH.
Giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết để phát triển con người, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trong nền "kinh tế tri thức" GDĐT là nền tảng và động lực của sự phát triển xã hội. Đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển.
Xác định vai trò, tầm quan trọng của giáo dục – đào tạo (GD-ÐT), từ lâu, Ðảng, Nhà nước quan tâm và chú ý ưu tiên phát triển. Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII), kết luận Hội nghị T.Ư 6 (khóa IX), NQ Đại hội X đều coi phát triển GD-ÐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước. Quốc hội khóa X cũng đã thông qua nghị quyết về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nghị quyết về thực hiện phổ cập THCS. Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 do Chính phủ phê duyệt cũng đã nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phấn đấu đưa sự nghiệp GD-ÐT nước nhà phát triển.
Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Bình đẳng để mọi người được học hành.
Có cơ chế chính sách giúp đỡ người nghèo trong học tập, khuyến khích những người học giỏi và phát triển tài năng.
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, phát triển năng lực cá nhân. Đào tạo người lao động có kỹ năng nghề nghiệp năng động sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên lập thân, có ý thức công dân, góp phân làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục.
Nhiệm vụ GD-éT l: Nõng cao dõn trớ, do t?o nhõn l?c, b?i du?ng nhõn ti, góp phần tạo ra động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản để thực hiện CNH-HĐH đất nước.
Mục tiêu GD-ĐT: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên học suốt đời.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, khuyến khích huy động và tạo mọi điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục.Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Phát triển giáo dục phải gắn với:
Nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ khoa học-công nghệ, củng cố quốc phòng-an ninh.
Hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, vùng miền.
Mở rộng qui mô gắn với đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Kết hợp đào tạo và sử dụng.
Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục:
Trên cơ sở nhà nước thống nhất quản lý nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên ...
Tạo điều kiện cho mọi người lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu hoàn cảnh của mình.
Phát triển các trường bán công, dân lập, từng bước mở các trường tư thục ở mọi cấp MN, Tiểu học, THPT, TH chuyên nghiệp dạy nghề, đại học. Mở rộng các hình thức đào tạo: chính quy, vừa làm vừa học, đào tạo từ xa ... từng bước hiện đại hoá các hình thức đào tạo.
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục.
Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời.
Nhân dân, các cấp chính quyền Đảng uỷ có trách nhiệm tích cực đóng góp trí tuệ, nhân lực phát triển GD.
Kết hợp giáo dục nhà trường gia đình xã hội tạo ra môi trường lành mạnh trong GD ở mọi nơi từng cộng đồng, từng tập thể.
II. Kết quả đạt được.
Sự tăng trưởng về quy mô của các bậc học, cấp học; ở cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Năm học 2005 - 2006, cả nước có hơn 22 triệu học sinh, sinh viên theo học từ bậc mầm non (MN) đến đại học, cao đẳng (ÐH, CÐ).
Mạng lưới trường lớp và các loại hình đào tạo tiếp tục được củng cố, phát triển rộng khắp; kể cả vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số. Cả nước có hơn 10 nghìn trường thuộc hệ thống giáo dục MN. Hệ thống giáo dục phổ thông có 14.518 trường TH, 9.041 trường THCS, 1.828 trường THPT, 1.034 trường phổ thông cơ sở (THBTVH), 396 trường trung học (TC).
II. Kết quả đạt được.
Về giáo dục đại học, chưa bao giờ cả nước có hệ thống phát triển như thời điểm hiện nay, với 137 CÐ, 93 trường ÐH, học viện; mỗi năm đào tạo mới hơn 1,3 triệu học sinh, sinh viên. Ðáng chú ý, cùng việc củng cố, phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, các địa phương quan tâm bố trí, sắp xếp hệ thống trường TH và THCS ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em đến trường. Trên cơ sở mạng lưới trường lớp đó, cộng với mô hình trường bán trú dân nuôi xuất hiện. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được sắp xếp hợp lý hơn, cơ bản phủ kín các vùng, miền và các địa phương trong cả nước. Tại các vùng khó khăn như Tây Nguyên, Tây Bắc, Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, v.v. gần đây có thêm nhiều trường mới, học sinh, sinh viên không còn phải đi học xa. Hệ thống cơ sở đào tạo nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên phát triển mạnh.
II. Kết quả đạt được.
Quy mô HSSV các cấp bậc học qua các năm từ 1998 đến 2004: riêng tỷ lệ HS theo học bậc tiểu học giảm còn lại tỷ lệ các bậc học khác đều tăng. Cụ thể, THCS tăng 18,8%; THPT tăng 57,8%; THCN tăng 66,1%; Dạy nghề dài hạn và ngắn hạn tăng 72%; CĐ, ĐH tăng 35,9%...
Đội ngũ giáo viên (GV) công lập và ngoài công lập ở các cấp bậc học tính đến năm 2003 - 2004 là trên 1 triệu GV. Tổng số GV được bổ sung là 213.604 người, từ năm 1998.
Ngân sách nhà nước (NSNN) chi cho giáo dục và đào tạo năm 2000 là 14,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 15% trong tổng NSNN. Con số chi cho giáo dục đào tạo năm 2004 là 34,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1%. Với mức chi cho giáo dục đào tạo hiện nay, Bộ GD - ĐT dự kiến, đến năm 2005 chi GD-ĐT chiếm 18% trong tổng NSNN và 20% vào năm 2010
II. Kết quả đạt được.
Trong việc thực hiện tư tưởng chỉ đạo xây dựng nền giáo dục toàn dân, vì dân, Nhà nước cũng như ngành GD-ÐT đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng quy mô, mở rộng mạng lưới trường lớp tới tận thôn bản cũng như đầu tư, có chế độ hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là con em đồng bào dân tộc thiểu số đến trường. Từ đó, công bằng trong giáo dục cũng như quyền lợi học tập của người dân được xác lập và bảo đảm dựa trên cơ sở một hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, khá hoàn chỉnh; bao gồm đủ các cấp học, bậc học (từ mầm mon đến đại học); đủ các loại hình trường lớp (công lập, bán công, dân lập, tư thục) và đa dạng về phương thức giáo dục (chính quy, không chính quy).
II. Kết quả đạt được.
Ngoài ra, việc học tập để cập nhật tri thức, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đã và đang trở thành nhu cầu phổ biến trong thanh niên nhiều địa phương. Các trung tâm giáo dục thường xuyên được duy trì, phát triển. Ngành giáo dục và đào tạo cũng đã thử nghiệm thành công việc xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở nông thôn, tăng khả năng cung ứng cơ hội học tập cho nhân dân. Về đào tạo nhân lực, kết quả cho thấy, bảo đảm cung cấp được nguồn nhân lực qua đào tạo, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðiều dễ cảm nhận, thành tựu của sự tăng trưởng kinh tế của đất nước trong mười năm trở lại đây là kết quả đóng góp quan trọng của đội ngũ người lao động, trong đó phần lớn do nền GD-ÐT trong nước cung cấp; đồng thời bước đầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu.
II. Kết quả đạt được.
Ở góc độ khác, những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác đã góp phần làm cho chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp hạng của chương trình phát triển LHQ những năm gần đây không ngừng cải thiện, từ 0,538 (năm 1985) tăng lên 0,649 (năm 1995) và 0,691 (năm 2004). Công tác xã hội hóa giáo dục đạt những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Các tầng lớp nhân dân ngày càng tham gia tích cực vào việc huy động trẻ em đến trường, xây dựng cơ sở vật chất trường lớp học, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức. Phong trào xây dựng nhà công vụ cho giáo viên ở các tỉnh miền núi phía bắc, hiến đất xây trường ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng như sự nhiệt tình tham gia mua công trái giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, v.v. là minh chứng cụ thể, sinh động, thể hiện tinh thần cả xã hội dành và ưu tiên phát triển GD-ÐT.
Nh?ng khú khan, thỏch th?c, khuy?t di?m, y?u kộm c?n kh?c ph?c:
Báo cáo về tình hình giáo dục của Chính phủ trình QH tại Kỳ họp thứ 6, khóa XI cho rằng, tuy có chuyển biến, song chất lượng giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HÐH cũng như tiếp cận trình độ tiên tiến các nước trong khu vực và trên thế giới. Phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới. Các điều kiện phát triển giáo dục - đào tạo chưa bảo đảm. Con em gia đình nghèo, thu nhập thấp và con em đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận học tập, nhất là ở bậc học cao. Một số hiện tượng tiêu cực trong GD-ÐT như dạy thêm, học thêm tràn lan, sử dụng văn bằng chứng chỉ bất hợp pháp, bệnh thành tích trong thi cử; tình trạng căng thẳng, nặng nề trong tuyển sinh chưa giải quyết kịp thời...
Sơ đồ của hệ thống giáo dục
Sơ đồ hệ thống văn bằng, chứng chỉ
trong thời kỳ công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước
Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH.
Giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết để phát triển con người, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trong nền "kinh tế tri thức" GDĐT là nền tảng và động lực của sự phát triển xã hội. Đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển.
Xác định vai trò, tầm quan trọng của giáo dục – đào tạo (GD-ÐT), từ lâu, Ðảng, Nhà nước quan tâm và chú ý ưu tiên phát triển. Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII), kết luận Hội nghị T.Ư 6 (khóa IX), NQ Đại hội X đều coi phát triển GD-ÐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước. Quốc hội khóa X cũng đã thông qua nghị quyết về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nghị quyết về thực hiện phổ cập THCS. Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 do Chính phủ phê duyệt cũng đã nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phấn đấu đưa sự nghiệp GD-ÐT nước nhà phát triển.
Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Bình đẳng để mọi người được học hành.
Có cơ chế chính sách giúp đỡ người nghèo trong học tập, khuyến khích những người học giỏi và phát triển tài năng.
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, phát triển năng lực cá nhân. Đào tạo người lao động có kỹ năng nghề nghiệp năng động sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên lập thân, có ý thức công dân, góp phân làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục.
Nhiệm vụ GD-éT l: Nõng cao dõn trớ, do t?o nhõn l?c, b?i du?ng nhõn ti, góp phần tạo ra động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản để thực hiện CNH-HĐH đất nước.
Mục tiêu GD-ĐT: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên học suốt đời.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, khuyến khích huy động và tạo mọi điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục.Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Phát triển giáo dục phải gắn với:
Nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ khoa học-công nghệ, củng cố quốc phòng-an ninh.
Hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, vùng miền.
Mở rộng qui mô gắn với đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Kết hợp đào tạo và sử dụng.
Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục:
Trên cơ sở nhà nước thống nhất quản lý nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên ...
Tạo điều kiện cho mọi người lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu hoàn cảnh của mình.
Phát triển các trường bán công, dân lập, từng bước mở các trường tư thục ở mọi cấp MN, Tiểu học, THPT, TH chuyên nghiệp dạy nghề, đại học. Mở rộng các hình thức đào tạo: chính quy, vừa làm vừa học, đào tạo từ xa ... từng bước hiện đại hoá các hình thức đào tạo.
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục.
Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời.
Nhân dân, các cấp chính quyền Đảng uỷ có trách nhiệm tích cực đóng góp trí tuệ, nhân lực phát triển GD.
Kết hợp giáo dục nhà trường gia đình xã hội tạo ra môi trường lành mạnh trong GD ở mọi nơi từng cộng đồng, từng tập thể.
II. Kết quả đạt được.
Sự tăng trưởng về quy mô của các bậc học, cấp học; ở cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Năm học 2005 - 2006, cả nước có hơn 22 triệu học sinh, sinh viên theo học từ bậc mầm non (MN) đến đại học, cao đẳng (ÐH, CÐ).
Mạng lưới trường lớp và các loại hình đào tạo tiếp tục được củng cố, phát triển rộng khắp; kể cả vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số. Cả nước có hơn 10 nghìn trường thuộc hệ thống giáo dục MN. Hệ thống giáo dục phổ thông có 14.518 trường TH, 9.041 trường THCS, 1.828 trường THPT, 1.034 trường phổ thông cơ sở (THBTVH), 396 trường trung học (TC).
II. Kết quả đạt được.
Về giáo dục đại học, chưa bao giờ cả nước có hệ thống phát triển như thời điểm hiện nay, với 137 CÐ, 93 trường ÐH, học viện; mỗi năm đào tạo mới hơn 1,3 triệu học sinh, sinh viên. Ðáng chú ý, cùng việc củng cố, phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, các địa phương quan tâm bố trí, sắp xếp hệ thống trường TH và THCS ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em đến trường. Trên cơ sở mạng lưới trường lớp đó, cộng với mô hình trường bán trú dân nuôi xuất hiện. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được sắp xếp hợp lý hơn, cơ bản phủ kín các vùng, miền và các địa phương trong cả nước. Tại các vùng khó khăn như Tây Nguyên, Tây Bắc, Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, v.v. gần đây có thêm nhiều trường mới, học sinh, sinh viên không còn phải đi học xa. Hệ thống cơ sở đào tạo nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên phát triển mạnh.
II. Kết quả đạt được.
Quy mô HSSV các cấp bậc học qua các năm từ 1998 đến 2004: riêng tỷ lệ HS theo học bậc tiểu học giảm còn lại tỷ lệ các bậc học khác đều tăng. Cụ thể, THCS tăng 18,8%; THPT tăng 57,8%; THCN tăng 66,1%; Dạy nghề dài hạn và ngắn hạn tăng 72%; CĐ, ĐH tăng 35,9%...
Đội ngũ giáo viên (GV) công lập và ngoài công lập ở các cấp bậc học tính đến năm 2003 - 2004 là trên 1 triệu GV. Tổng số GV được bổ sung là 213.604 người, từ năm 1998.
Ngân sách nhà nước (NSNN) chi cho giáo dục và đào tạo năm 2000 là 14,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 15% trong tổng NSNN. Con số chi cho giáo dục đào tạo năm 2004 là 34,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1%. Với mức chi cho giáo dục đào tạo hiện nay, Bộ GD - ĐT dự kiến, đến năm 2005 chi GD-ĐT chiếm 18% trong tổng NSNN và 20% vào năm 2010
II. Kết quả đạt được.
Trong việc thực hiện tư tưởng chỉ đạo xây dựng nền giáo dục toàn dân, vì dân, Nhà nước cũng như ngành GD-ÐT đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng quy mô, mở rộng mạng lưới trường lớp tới tận thôn bản cũng như đầu tư, có chế độ hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là con em đồng bào dân tộc thiểu số đến trường. Từ đó, công bằng trong giáo dục cũng như quyền lợi học tập của người dân được xác lập và bảo đảm dựa trên cơ sở một hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, khá hoàn chỉnh; bao gồm đủ các cấp học, bậc học (từ mầm mon đến đại học); đủ các loại hình trường lớp (công lập, bán công, dân lập, tư thục) và đa dạng về phương thức giáo dục (chính quy, không chính quy).
II. Kết quả đạt được.
Ngoài ra, việc học tập để cập nhật tri thức, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đã và đang trở thành nhu cầu phổ biến trong thanh niên nhiều địa phương. Các trung tâm giáo dục thường xuyên được duy trì, phát triển. Ngành giáo dục và đào tạo cũng đã thử nghiệm thành công việc xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở nông thôn, tăng khả năng cung ứng cơ hội học tập cho nhân dân. Về đào tạo nhân lực, kết quả cho thấy, bảo đảm cung cấp được nguồn nhân lực qua đào tạo, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðiều dễ cảm nhận, thành tựu của sự tăng trưởng kinh tế của đất nước trong mười năm trở lại đây là kết quả đóng góp quan trọng của đội ngũ người lao động, trong đó phần lớn do nền GD-ÐT trong nước cung cấp; đồng thời bước đầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu.
II. Kết quả đạt được.
Ở góc độ khác, những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác đã góp phần làm cho chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp hạng của chương trình phát triển LHQ những năm gần đây không ngừng cải thiện, từ 0,538 (năm 1985) tăng lên 0,649 (năm 1995) và 0,691 (năm 2004). Công tác xã hội hóa giáo dục đạt những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Các tầng lớp nhân dân ngày càng tham gia tích cực vào việc huy động trẻ em đến trường, xây dựng cơ sở vật chất trường lớp học, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức. Phong trào xây dựng nhà công vụ cho giáo viên ở các tỉnh miền núi phía bắc, hiến đất xây trường ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng như sự nhiệt tình tham gia mua công trái giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, v.v. là minh chứng cụ thể, sinh động, thể hiện tinh thần cả xã hội dành và ưu tiên phát triển GD-ÐT.
Nh?ng khú khan, thỏch th?c, khuy?t di?m, y?u kộm c?n kh?c ph?c:
Báo cáo về tình hình giáo dục của Chính phủ trình QH tại Kỳ họp thứ 6, khóa XI cho rằng, tuy có chuyển biến, song chất lượng giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HÐH cũng như tiếp cận trình độ tiên tiến các nước trong khu vực và trên thế giới. Phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới. Các điều kiện phát triển giáo dục - đào tạo chưa bảo đảm. Con em gia đình nghèo, thu nhập thấp và con em đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận học tập, nhất là ở bậc học cao. Một số hiện tượng tiêu cực trong GD-ÐT như dạy thêm, học thêm tràn lan, sử dụng văn bằng chứng chỉ bất hợp pháp, bệnh thành tích trong thi cử; tình trạng căng thẳng, nặng nề trong tuyển sinh chưa giải quyết kịp thời...
Sơ đồ của hệ thống giáo dục
Sơ đồ hệ thống văn bằng, chứng chỉ
 







Các ý kiến mới nhất