Bài 18. Phép phân tích và tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyenthi Mien
Ngày gửi: 22h:31' 23-02-2023
Dung lượng: 444.0 KB
Số lượt tải: 715
Nguồn:
Người gửi: Nguyenthi Mien
Ngày gửi: 22h:31' 23-02-2023
Dung lượng: 444.0 KB
Số lượt tải: 715
Số lượt thích:
0 người
•
MÔN: NGỮ VĂN 9
Giáo viên thực hiện: H'NEW KTLA
VĂN NGHỊ LUẬN
Phép
Phép
Phép
lập luận
giải thích
lập luận
chứng minh
phân tích và
tổng hợp
VĂN BẢN
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi giày ra đi
chân đất, thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần
áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo,
lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một
mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô
đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh đồng
vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục
không có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là
văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm
bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với
hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc
đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ,
làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là
phù hợp với môi trường. Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà
mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con
người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì
bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh
diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang
phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
VĂN BẢN
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi giày ra đi chân đất,
thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi
chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi
người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong
hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân
móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu
mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi
lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt,
nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh
riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang
đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi.
Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn
phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có
cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì
đáng hãnh diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
- Kiểu văn bản: Nghị luận.
- Vấn đề nghị luận: Trang phục có văn hoá phù hợp với đạo
đức, môi trường.
VĂN BẢN
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi
giày ra đi chân đất, thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ
không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất
đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng.
Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt
xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát
nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng
sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào
can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã
hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm
bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang
oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải
phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng
hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì
cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay,
cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường.
Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng
đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con
người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái
khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì
tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường
mới là trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
MỞ BÀI
(Đoạn 1)
THÂN BÀI
(Đoạn 2,3)
KẾT BÀI
(Đoạn 4)
VĂN BẢN: TRANG PHỤC
Đoạn văn 1: Mở bài
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối
sâu,...phải cởi giày ra đi chân đất, thông thường trong doanh
trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc áo quần chỉnh tề mà
lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết
cúc áo, lộ cả da thịt trước mặt mọi người.
VĂN BẢN
* Đoạn văn 2,3: Thân bài
TRANG PHỤC
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô
gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh
môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước
hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm,
áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám
cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự
đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù
hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay
toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng
chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp
bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế,
không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình
độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo
đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh
diện”. Chí lí thay
VĂN BẢN
* Đoạn văn 2,3: Thân bài
TRANG PHỤC
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng.
Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt
xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát
nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp
thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám
cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự
đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù
hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay
toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng
chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp
bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế,
không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình
độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo
đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh
diện”. Chí lí thay !
HOẠT ĐỘNG NHÓM
NHÓM 1: Đoạn văn 2
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ
nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong hang sâu chắc
không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô
đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay
câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt
bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không
có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm
phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi
thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám
tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Muốn làm sáng tỏ luận điểm chính ở đoạn 2, tác giả
đưa ra lí lẽ, dẫn chứng gì và lập luận ra sao?
HOẠT ĐỘNG NHÓM
NHÓM 2: Đoạn văn 3
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng
phải phù hợp với hoàncảnh riêng của mình và hoàn cảnhchung
nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu,sang đến
đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ,
làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi
Với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tựhoà mình vào cộng đồng
như thế, không kểhình thức còn phải đi vớinội dung, tức là con
người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu
có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có
bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”.
Chí lí thay !
Muốn làm sáng tỏ luận điểm chính của đoạn 3, tác giả
đã đưa ra lí lẽ, dẫn chứng gì và lập luận ra sao?
NHÓM 1: Đoạn văn 2
Dẫn chứng:
Luận điểm:
- Cô gái một mình trong hang sâu chắc
không váy xoè váy ngắn, không mắt
xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng
chân móng tay.
Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá
ngoài cánh đồng vắng chắc không chải
đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là
phẳng tắp.
Ăn cho
mình,
mặc cho
người
Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch,
mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn.
- Đi dự đám tang không được mặc áo
quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Lí lẽ
-Trang phục không có pháp luật nào can
thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải
tuân thủ, đó là văn hoá xã hội.
Phép lập luận chứng minh + từ phủ định, giả thiết.
NHÓM 2: Đoạn văn 3:
Lí lẽ
Luận
điểm:
Y phục
xứng
kì
đức
Lí lẽ
Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với
hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh
chung nơi công cộng hay toàn xã hội.
Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà
không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười
cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi.
Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái
giản dị, nhất là phù hợp với môi trường.
Lí lẽ
Người có văn hoá, biết ứng xử chính là
người biết tự hoà mình vào cộng đồng
Như thế, không kể hình thức còn phải đi
Với nội dung tức là con người phải có trình
độ, có hiểu biết.
Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi
Dẫn chứng
chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi
có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì
đáng hãnh diện”.
Phép lập luận giải thích + so sánh, đối chiếu
Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ
phận,phương diện của một vấn đề để nhằm chỉ
ra nội dung của sự vật, hiện tượng.
Để phân tích nội dung của sự vật, hiện tượng,
người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu
giả thiết, so sánh, đối chiếu, … và cả phép lập
luận giải thích,chứng minh.
VĂN BẢN
Đoạn 4 : Kết bài
TRANG PHỤC
Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo
đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
Khái quát, chốt lại vấn đề, rút ra cái chung từ
những điều phân tích trên.
- Vị trí: Cuối đoạn văn, cuối một phần văn bản,
cuối văn bản.
Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái
chung từ những điều đã phân tích.
Không có phân tích thì không có tổng hợp.
Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn
hay cuối bài, ở phần kết luận của một
phần hoặc toàn bộ văn bản.
Ghi nhớ
• Để làm rõ ý nghĩa của một sự vật, hiện tượng nào đó,
người ta thường dùng phép phân tích và tổng hợp.
• Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận,
phương diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự
vật, hiện tượng. Để phân tích nội dung của sự vật, hiện
tượng người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu giả
thiết, so sánh, đối chiếu, … và phép lập lụân giải thích,
chứng minh.
• Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều
đã phân tích. Không có phân tích thì không có tổng hợp.
Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn hay cuối bài, ở
phần kết luận của một phần hoặc toàn bộ văn bản.
BÀI TẬP 1
Chu Quang Tiềm đã phân tích như thế nào để làm sáng
tỏ luận điểm: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách,
nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của
học vấn”?
Đoạn văn: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là
một con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá
nhân, mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm nay
đều là thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích luỹ ngày
đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do sách vở ghi
chép, lưu truyền lại. Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân
loại, cũng có thể nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật
của nhân loại. Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hoá, học thuật của giai đoạn
này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm
điểm xuất phát. Nếu xoá bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong quá
khứ, thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm,
thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng chỉ là đi giật lùi,
làm kẻ lạc hậu.”
* Luận điểm:
- Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con
đường quan trọng của học vấn.
* Các luận cứ:
- Học vấn là của nhân loại.
- Học vấn của nhân loại là do sách lưu
truyền lại.
- Sách là kho tàng quý báu tích luỹ mọi thành
tựu mà loài người đã tìm được qua từng thời
đại.
- Nếu chúng ta mong muốn tiến lên từ văn
hoá thì phải lấy thành quả đã đạt được trong
quá khứ làm điểm xuất phát.
- Nếu chúng ta xoá bỏ hết các thành quả
nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì
chúng ta đã lùi điểm xuất phát đến mấy
nghìn năm.
Tác giả nêu ra
luận điểm cơ bản
làm tiền đề cho
lập luận
dùng giả thiết
để phân tích
làm sáng rõ cho
luận điểm.
Bài tập 2:
Lí do phải chọn sách để đọc
Sách nhiều khiến người
ta không chuyên sâu,
đọc sách theo kiểu liếc
qua, tuy rất nhiều nhưng
đọng lại thì rất ít. Từ đó
nảy sinh thói hư danh,
nông cạn.
Sách nhiều dễ khiến người
đọc lạc hướng. Đọc tham
nhiều mà không vụ thực
chất thì sẽ lãng phí thời gian
và sức lực bởi những cuốn
sách vô bổ, bỏ lỡ những
cuốn sách quan trọng, cơ
bản.
BÀI TẬP VẬN DỤNG
Từ những lí do phải chọn sách
trên, em hãy viết phần tổng hợp
cho vấn đề đã nêu?
So sánh sự giống và khác nhau giữa phép phân tích và phép tổng hợp:
PHÂN TÍCH
Giống nhau
Khác nhau
TỔNG HỢP
Mục đích: giúp người đọc, người nghe
nhận thức đúng, hiểu đúng, đủ vấn đề.
Cách thức
Trình bày từng bộ phận,
phương diện của vấn đề
để chỉ ra nội dung của
sự việc, hiện tượng.
Vai trò
Giúp ta hiểu vấn đề cụ
thể, chi tiết qua nhiều khía
cạnh, nhiều góc độ, nhiều
bình diện khác nhau. Từ
đó, thấy được nội dung, ý
nghĩa của vấn đề.
Khái quát rút
ra cái chung từ
những điều
phân tích.
Giúp ta khái
quát, nâng
cao vấn đề.
Hướng dẫn học ở nhà
1. Học bài:
- Học bài.
- Làm các bài tập.
2. Soạn bài:
- Chuẩn bị bài: Luyện tập phép phân tích và tổng hợp.
MÔN: NGỮ VĂN 9
Giáo viên thực hiện: H'NEW KTLA
VĂN NGHỊ LUẬN
Phép
Phép
Phép
lập luận
giải thích
lập luận
chứng minh
phân tích và
tổng hợp
VĂN BẢN
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi giày ra đi
chân đất, thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần
áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo,
lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một
mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô
đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh đồng
vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục
không có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là
văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm
bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với
hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc
đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ,
làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là
phù hợp với môi trường. Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà
mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con
người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì
bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh
diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang
phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
VĂN BẢN
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi giày ra đi chân đất,
thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi
chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi
người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong
hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân
móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu
mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi
lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt,
nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh
riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang
đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi.
Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn
phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có
cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì
đáng hãnh diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
- Kiểu văn bản: Nghị luận.
- Vấn đề nghị luận: Trang phục có văn hoá phù hợp với đạo
đức, môi trường.
VĂN BẢN
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi
giày ra đi chân đất, thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ
không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất
đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng.
Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt
xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát
nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng
sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào
can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã
hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm
bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang
oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải
phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng
hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì
cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay,
cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường.
Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng
đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con
người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái
khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì
tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường
mới là trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
MỞ BÀI
(Đoạn 1)
THÂN BÀI
(Đoạn 2,3)
KẾT BÀI
(Đoạn 4)
VĂN BẢN: TRANG PHỤC
Đoạn văn 1: Mở bài
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối
sâu,...phải cởi giày ra đi chân đất, thông thường trong doanh
trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc áo quần chỉnh tề mà
lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết
cúc áo, lộ cả da thịt trước mặt mọi người.
VĂN BẢN
* Đoạn văn 2,3: Thân bài
TRANG PHỤC
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô
gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh
môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước
hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm,
áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám
cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự
đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù
hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay
toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng
chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp
bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế,
không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình
độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo
đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh
diện”. Chí lí thay
VĂN BẢN
* Đoạn văn 2,3: Thân bài
TRANG PHỤC
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng.
Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt
xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát
nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp
thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám
cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự
đám tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù
hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay
toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng
chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp
bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế,
không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình
độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo
đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh
diện”. Chí lí thay !
HOẠT ĐỘNG NHÓM
NHÓM 1: Đoạn văn 2
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ
nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong hang sâu chắc
không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô
đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay
câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt
bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang phục không
có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm
phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi
thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám
tang không được mặc áo quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Muốn làm sáng tỏ luận điểm chính ở đoạn 2, tác giả
đưa ra lí lẽ, dẫn chứng gì và lập luận ra sao?
HOẠT ĐỘNG NHÓM
NHÓM 2: Đoạn văn 3
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng
phải phù hợp với hoàncảnh riêng của mình và hoàn cảnhchung
nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu,sang đến
đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ,
làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi
Với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn
hoá, biết ứng xử chính là người biết tựhoà mình vào cộng đồng
như thế, không kểhình thức còn phải đi vớinội dung, tức là con
người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu
có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có
bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”.
Chí lí thay !
Muốn làm sáng tỏ luận điểm chính của đoạn 3, tác giả
đã đưa ra lí lẽ, dẫn chứng gì và lập luận ra sao?
NHÓM 1: Đoạn văn 2
Dẫn chứng:
Luận điểm:
- Cô gái một mình trong hang sâu chắc
không váy xoè váy ngắn, không mắt
xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng
chân móng tay.
Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá
ngoài cánh đồng vắng chắc không chải
đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là
phẳng tắp.
Ăn cho
mình,
mặc cho
người
Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch,
mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn.
- Đi dự đám tang không được mặc áo
quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Lí lẽ
-Trang phục không có pháp luật nào can
thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải
tuân thủ, đó là văn hoá xã hội.
Phép lập luận chứng minh + từ phủ định, giả thiết.
NHÓM 2: Đoạn văn 3:
Lí lẽ
Luận
điểm:
Y phục
xứng
kì
đức
Lí lẽ
Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với
hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh
chung nơi công cộng hay toàn xã hội.
Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà
không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười
cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi.
Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái
giản dị, nhất là phù hợp với môi trường.
Lí lẽ
Người có văn hoá, biết ứng xử chính là
người biết tự hoà mình vào cộng đồng
Như thế, không kể hình thức còn phải đi
Với nội dung tức là con người phải có trình
độ, có hiểu biết.
Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi
Dẫn chứng
chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi
có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì
đáng hãnh diện”.
Phép lập luận giải thích + so sánh, đối chiếu
Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ
phận,phương diện của một vấn đề để nhằm chỉ
ra nội dung của sự vật, hiện tượng.
Để phân tích nội dung của sự vật, hiện tượng,
người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu
giả thiết, so sánh, đối chiếu, … và cả phép lập
luận giải thích,chứng minh.
VĂN BẢN
Đoạn 4 : Kết bài
TRANG PHỤC
Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo
đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
Khái quát, chốt lại vấn đề, rút ra cái chung từ
những điều phân tích trên.
- Vị trí: Cuối đoạn văn, cuối một phần văn bản,
cuối văn bản.
Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái
chung từ những điều đã phân tích.
Không có phân tích thì không có tổng hợp.
Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn
hay cuối bài, ở phần kết luận của một
phần hoặc toàn bộ văn bản.
Ghi nhớ
• Để làm rõ ý nghĩa của một sự vật, hiện tượng nào đó,
người ta thường dùng phép phân tích và tổng hợp.
• Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận,
phương diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự
vật, hiện tượng. Để phân tích nội dung của sự vật, hiện
tượng người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu giả
thiết, so sánh, đối chiếu, … và phép lập lụân giải thích,
chứng minh.
• Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều
đã phân tích. Không có phân tích thì không có tổng hợp.
Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn hay cuối bài, ở
phần kết luận của một phần hoặc toàn bộ văn bản.
BÀI TẬP 1
Chu Quang Tiềm đã phân tích như thế nào để làm sáng
tỏ luận điểm: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách,
nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của
học vấn”?
Đoạn văn: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là
một con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá
nhân, mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm nay
đều là thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích luỹ ngày
đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do sách vở ghi
chép, lưu truyền lại. Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân
loại, cũng có thể nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật
của nhân loại. Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hoá, học thuật của giai đoạn
này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm
điểm xuất phát. Nếu xoá bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong quá
khứ, thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm,
thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng chỉ là đi giật lùi,
làm kẻ lạc hậu.”
* Luận điểm:
- Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con
đường quan trọng của học vấn.
* Các luận cứ:
- Học vấn là của nhân loại.
- Học vấn của nhân loại là do sách lưu
truyền lại.
- Sách là kho tàng quý báu tích luỹ mọi thành
tựu mà loài người đã tìm được qua từng thời
đại.
- Nếu chúng ta mong muốn tiến lên từ văn
hoá thì phải lấy thành quả đã đạt được trong
quá khứ làm điểm xuất phát.
- Nếu chúng ta xoá bỏ hết các thành quả
nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì
chúng ta đã lùi điểm xuất phát đến mấy
nghìn năm.
Tác giả nêu ra
luận điểm cơ bản
làm tiền đề cho
lập luận
dùng giả thiết
để phân tích
làm sáng rõ cho
luận điểm.
Bài tập 2:
Lí do phải chọn sách để đọc
Sách nhiều khiến người
ta không chuyên sâu,
đọc sách theo kiểu liếc
qua, tuy rất nhiều nhưng
đọng lại thì rất ít. Từ đó
nảy sinh thói hư danh,
nông cạn.
Sách nhiều dễ khiến người
đọc lạc hướng. Đọc tham
nhiều mà không vụ thực
chất thì sẽ lãng phí thời gian
và sức lực bởi những cuốn
sách vô bổ, bỏ lỡ những
cuốn sách quan trọng, cơ
bản.
BÀI TẬP VẬN DỤNG
Từ những lí do phải chọn sách
trên, em hãy viết phần tổng hợp
cho vấn đề đã nêu?
So sánh sự giống và khác nhau giữa phép phân tích và phép tổng hợp:
PHÂN TÍCH
Giống nhau
Khác nhau
TỔNG HỢP
Mục đích: giúp người đọc, người nghe
nhận thức đúng, hiểu đúng, đủ vấn đề.
Cách thức
Trình bày từng bộ phận,
phương diện của vấn đề
để chỉ ra nội dung của
sự việc, hiện tượng.
Vai trò
Giúp ta hiểu vấn đề cụ
thể, chi tiết qua nhiều khía
cạnh, nhiều góc độ, nhiều
bình diện khác nhau. Từ
đó, thấy được nội dung, ý
nghĩa của vấn đề.
Khái quát rút
ra cái chung từ
những điều
phân tích.
Giúp ta khái
quát, nâng
cao vấn đề.
Hướng dẫn học ở nhà
1. Học bài:
- Học bài.
- Làm các bài tập.
2. Soạn bài:
- Chuẩn bị bài: Luyện tập phép phân tích và tổng hợp.
 







Các ý kiến mới nhất