Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Phương pháp dạy học địa lí 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lý Lan Anh
Ngày gửi: 16h:10' 04-11-2016
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 73
Số lượt thích: 0 người
Hình 19. Hướng tự quay của Trái Đất
Hình 20. Các khu vực giờ trên Trái Đất
Hình 21. Hiện tượng ngày và đêm Trên Trái Đất
Hình 22. Sự lệch hướng do vận động tự quay của Trái Đất
Trường đại học Sài Gòn
Khoa sư phạm khoa học xã hội
BÀI THUYẾT TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÝ II
Giảng viên hướng dẫn: Trịnh Duy Oánh
Sinh viên thực hiện: Lý Lan Anh
Phan Thị Hiền Trang
Nguyễn Thị Thanh Hiền
A, Lý thuyết.
Chương II: Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
I, Đặt vấn đề.
Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của thời đại, của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, đòi hỏi chúng ta phải “ xác định lại mục tiêu thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáp giáo dục đào tạo”.
“Muốn đào tạo được con người khi vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào lĩnh vực khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ năng động và sáng tạo ngay trong lao động, học tập ở nhà trường”. Đây chính là dạy học “lấy học sinh làm chung tâm”.

Phương Tây
socrate, Hy Lạp ( 469-390 TCN) đã từng nêu lên khẩu hiệu “ anh phải tự biết lấy anh” .
Quintilien (118-42 TCN ) , một nhà giáo dục La Mã tiến bộ đã nêu lên nhiều vấn đề giáo dục và đưa ra nhiều ý kiến rất tiến bộ .
II, Lịch sử của quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Phương Đông.
Khổng tử ( 55-479 TCN ) chú ý giảng dạy theo đối tượng và chú ý kích thích suy nghĩ của học sinh
Thời Phục Hưng
Mông-te-nhơ ( 1533-1592 ) là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu.
J.A Kômenxki ( 1529-1670 , Tiệp Khắc ) đòi hỏi người thầy phải làm thế nào để cho học sinh thích thú trọng học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức
Lốc-cơ ( John Locke, 1632), ông yêu cầu người thầy giáo phải gợi ý sự tò mò của học sinh
J.J.Rút-xô ( Rousseau, 1712-1778) , là người đã nêu lên một cách rõ ràng yêu cầu thiết phải hiểu rõ trẻ em và phải quan tâm đến lợi ích của trẻ em .
Ta-lây-răng (1791) rất chú trọng đến việc phát huy óc sáng tạo và tính độc lập suy nghĩ của học sinh.
Pê-xta-lo-zi (1746-1827) được mệnh danh là ông thầy của những ông thầy .
A. Distervec (1780-1866), ông yêu cầu người thầy giáo phải hiểu tâm lí học sinh , phải dựa vào cơ sở tâm lí học sinh.
K.Đ.Usinxki (1824-1873) . Ông yêu cầu muốn dạy học được tốt cần hiểu biết đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh.
Fourrier (1772) rất chú trọng việc dạy học với thực tế.
Dewey (1859-1952) chủ trương giáo dục phải dựa vào kinh nghiệp thực tế của trẻ em
III, Bản chất của quan điểm “ dạy học lấy học sinh làm trung tâm ”.
1, Về phương diện vĩ mô.
Sản phẩm hệ thống giáo dục quốc dân và nhà trường đào tạo ra phải đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế xã hội.
Đồng thời phải chú ý đầy đủ lợi ích của học sinh, tức phải quan tâm đến các đặc điểm sinh lí, tâm lí và các điều kiện kinh tế xã hội của học sinh, phải làm cho học sinh được phát triển, từ đó có được niềm vui và hạnh phúc trong quá trình học tập.
Yêu cầu
cơ bản
2, Về phương diện vi mô.

Không dạy những cái học sinh đã nắm vững.
Phải lấp những lỗ hổng của học sinh trong việc học tập trước đó.
Phải đảm bảo cho việc dạy học có hiệu quả hơn , liên tục hơn để tránh việc lưu ban.
Phải chú ý đến sự khác nhau về độ trưởng thành của học sinh trong cùng một lứa tuổi.

A, Việc dạy học phải xuất phát từ người học, từ đầu vào, tức là phải xuất phát từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học.




B, Phải để cho học sinh hoạt động về cả thể chất và tinh thần chứ
không để cho học sinh bị động tiếp thu mà đòi hỏi học sinh phải
tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động.
C, Phải chú ý đến cấu trúc tư duy của từng học sinh. Không gò
cách suy nghĩ của học sinh theo một cách suy nghĩ duy nhất đã
định trước của giáo viên, phải phân hóa và cá thể hóa việc dạy học .
D, Phải động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để học sinh
thường xuyên tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập của
mình, để không ngừng cải thiện phương pháp học tập, dần dần
tiến lên có được phương pháp tự học , tự đào tạo, tự giải quyết
các vấn đề trong lí luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo,
qua đó mà có được ý chí và năng lực tự học sáng tạo suốt đời.
(
IV, Đặc điểm của dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
1, Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm (GVTT).
GVTT
Trách nghiệm chính của giáo viên là truyền đạt cho hết nội dung đã quy định trong chương trình và sách giáo khoa.
Phương pháp chủ yếu là thuyết trình, giải thích, minh họa, thầy nói trò ghi,hiện nay học sinh tiếp thu thụ động thỉnh thoảng thì trả lời những câu hỏi của giáo viên.
Giáo viên thiết kế theo đường thẳng, chung cho mọi học sinh.
Giáo viên chủ động thực hiện một mạch theo các bước đã chuẩn bị. bài lên lớp được tiến hành trong phòng học mà bàn giáo viên, bảng đen là trung tâm thu hút mọi chú ý của học sinh.
.
2, Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (HSTT).
HSTT
Nội dung dạy chú trọng kĩ năng thực hành vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, thông qua thảo luận, thí nghiệm, hoạt động tìm tòi tập dượt nghiên cứu, quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng các nhân và tập thể học sinh.
Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh, giáo viên linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học, với sự tham gia tích cực của học sinh
Hình thức bố chí lớp học được thay đổi cho phù hợp với hoạt động học tập trong tiết học .
, lấy HSTT
3, So sánh giữa hai quan điểm dạy học.
4, Quan hệ trò - lớp - thầy qua hoạt động dạy học.
Dưới sự hướng dẫn kích thích của thầy giáo , chủ thể học sinh tiến hành việc học chủ đề thông qua ba bước:
Bước 1:
Nghiên cứu cá nhân.
Nhận biết vấn đề, phát hiện vấn đề.
Định hướng giải quyết vấn đề
Thu nhập thông tin.
Xử lí thông tin
Tái hiện kiến thức, khái niệm, công thức, …xây dựng các giải pháp giải quyết , xử lí tình huống .
Thử nghiệm giải pháp, kết quả.
Đưa ra kết luận.
Ghi lại kết quả và cách nghiên cứu.
f
Bước 2 :
Hợp tác với bạn,
Học bạn.
Tự đặt mình vào tình huống, tập sự sắm vai, đưa ra cách sử lý tình huống, giải quyết vấn đề.
Tự thể hiện bằng văn bản: ghi lại kết quả xử lí, của mình.
Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ đến cùng sản phẩm ban đầu của mình.
Tở rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn: đúng-sai, hay-dở, tham gia tranh luận.
Tự ghi lại các ý kiến của bạn theo nhân thức của mình
Khai thác những gì đã hợp tác với các bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm tiến bộ hơn.
Bước 3:
Hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
Tự lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy.
Chủ động hỏi thầy và biết cách hỏi thầy về những gì mà mình có nhu cầu, nhất là về cách học, cách làm.
Tự ghi lại chính xác ý kiến kết luận của thầy trong giờ thảo luận hay hoạt động của lớp.
Học cách ứng xử của thầy trước những tình huống gay cấn nổi lên trong quá trình hoạt động tập thể, cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau để đi đến kết luận.
Dựa vào kết luận của thầy, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học.
5, Ý nghĩa của phương pháp dạy học tích cựa - lấy học sinh làm trung tâm.
Tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy, óc thông minh của mình. Phương pháp này đã khơi gợi, kích thích, đòi hỏi người học suy nghĩ, tìm tòi và phát huy tư duy đến mức cao nhất để có thể giải quyết được vấn đề đặt ra.
Phương pháp này giúp người học nhận thức được mình, phát hiện ra những sở trường, những khả năng tiềm ẩn trong bản thân mỗi người học.
tạo cơ hội để phát huy trí tuệ tập thể một cách rộng lớn, sâu xa giúp đào sâu suy nghĩ, phát huy khả năng hợp tác với bạn giải quyết tốt các vấn đề , tình huống học.
Phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác, và phát triển tư duy sáng tạo của người học.
Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học và lòng ham học.
 Phương pháp này cực kì quý báu bởi lẽ giúp cho người học sau này ra đời vẫn có thể tiếp tục tự học mãi.
6, Tính tích cực và tính tích cực học tập.
Tính tích cực.
- Phẩm chất vốn có của con người.
- Biểu hiện trong hoạt động chủ động.
Tính tích cực học tập.
Gắng sức cao trong hoạt động học tập.
- Chủ yếu là hoạt động nhận thức.
Biểu hiện
Khát khao học tập.
Hay nêu thắc mắc.
Chủ động vận dụng.
Kiên trì.
Cấp độ
Bắt chước.
Tìm tòi.
Sáng tạo.
ĐỘNG CƠ
HỨNG THÚ


V, Phương pháp dạy học tích cực.
1, Những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực.
A, Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh.

Phương pháp này dựa trên cơ sở tâm lí học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành thông qua các hoạt đọng chủ động, thông qua các hành động có ý thức.
Trong phương pháp tích cực, người học chủ thể và hoạt động học , được quấn hút vào những hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, qua đó tự khám phá những cái mình chưa biết chứ không thụ động tiếp thu tri thức đặt sẵn.
Dạy học theo cách này không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn là hướng dẫn hành động .khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải chỉ đối với từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội.
B, Dạy học chú trọng rè luyện phương pháp tự học.
Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
Ngày nay, việc dạy phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học.
C, Tăng cường học tập cá thể , phối hợp với học tập hợp tác.
Phương pháp này đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới.
Trong giáo dục, hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm nhưng mỗi cá nhân được phân công nhiệm vụ cụ thể, phối hợp với nhau để cuối cùng đạt được mục tiêu chung.
D, kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò.
Trong học tập, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
 Tóm lại: trong phương pháp tích cực, người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự nguyện, chủ động, tự giác, có ý thức về sự giáo dục bản thân mình.
E, vai trò chỉ đạo của giáo viên.
Từ dạy học thông báo , giải thích minh họa sang dạy học sang phương pháp tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế tổ chức hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặt theo nhóm nhở, để học sinh tự lực chiếm lĩnh các kiến thức mới, hình thành các kĩ năng thái độ mới theo yêu cầu của chương trình.
2, Hướng thực hiện dạy học tích cực trong môn địa lí.
Chương III: Vận dụng các phương pháp tích cực trong dạy học địa lí
Phương pháp
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ
Phương pháp thảo luận trong dạy học địa lí
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp đàm thoại
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

1) Ý nghĩa của việc áp dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề:
Phương pháp này dựa trên quy luật lĩnh hội tri thức vã cách thức hoạt động một cách sáng tạo
Phương pháp này đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ sở thế giới quan khoa học
Tác dụng của dạy học giải quyết vấn đề:
Giúp việc liên hệ và sử dụng những tri thức đã có của người học trong việc tiếp thu tri thức mới, tạo được mối quan hệ giữa những tri thức khác nhau đã được nghiên cứu trước đó.

Người học có thể thường xuyên hơn giải thích được các sự sai khác giữa lí thuyết và thực tiễn.

Sự tham gia tích cực của người học trong quá trình dạỵ học →tăng cường niềm vui, khả năng cá thể hóa đối với nội dung học tập → tăng cường động cơ học tập.
Tác dụng của dạy học giải quyết vấn đề:
Dạy học định hướng GQVĐ hỗ trợ việc phát triển năng lực giao tiếp xã hội.

Việc liên hệ các tình huống thực tiễn trong dạy học định hướng GQVĐ dựa trên cơ sở của tâm lí học nhận thức. Khả năng vận dụng được các tri thức đã học càng cao nếu các tri thức áp dụng vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là “tình huống có vấn đề”, “tình huống học tập”

b. Đặc trưng thứ hai của phương pháp là chia quá trình thực hiện thành từng giai đoạn, những bước có tính mục đích chuyên biệt

c. Đặc trưng thứ ba của phương pháp là có những cách tổ chức đa dạng
2. Vài nét đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
3) Cấu trúc một bài học theo dạy học giải quyết vấn đề
4) Các mức độ của phương pháp:

Trong dạy học giải quyết vấn đề có thể phân 4 mức độ:
Mức 1:
GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề.
HS thực hiện cách GQVĐ theo hướng dẫn của GV.
GV đánh giá kết quả làm việc của HS.

Mức 2:
GV đặt vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách GQVĐ.
HS thực hiện cách GQVĐ.
GV và HS cùng đánh giá.
Mức 3:
GV cung cấp thông tin tạo tình huống.
HS phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các thuyết và lựa chọn giải pháp.
HS thực hiện cách GQVĐ với sự giúp đỡ của GV khi cần.
GV và HS cùng đánh giá.
Mức 4:
HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết.
HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả
II: Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ.
1. Vai trò của bản đồ trong dạy học địa lí.
Để khai thác tri thức trên bản đồ, trước hết học sinh cần phải đọc bản đồ, hiểu bản đồ, phải nắm kiến thức từ bản đồ, trên cơ sở đó có được những kĩ năng làm việc với bản đồ.
Sẽ
2. Tác dụng của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh.
Tác dụng.
Có thể tái tạo được hình ảnh các lãnh thổ nghiển cứu với những đặc điểm cơ bản của chúng mà không phải nghiên cứu trực tiếp ngoài thực địa.
Học sinh rèn luyện được kĩ năng sử dụng bản đồ không chỉ trong học tập, nghiên cứu, mà còn trong cuộc sống .
Khi phân tích nội dung các bản đồ rồi đối chiếu so sánh chúng với nhau, học sinh sẽ phát triển được tư duy logic, biết thiết lập các mối liên hệ giữa các đối tượng địa lí.
3. Mối liên hệ giữa kiến thức bản đồ và việc hình thành kĩ năng bản đồ cho học sinh.
Bản đồ
Đối tượng học tập
Phương pháp dạy
của thầy.
Học sinh
Kiến thức bản đồ.
Kĩ năng bản đồ.
Bản đồ
Nguồn kiến thức
Học sinh
Kiến thức địa lí mới
Giáo viên
hướng dẫn
HS vận dụng kĩ năng khai thác bản đồ và kết hợp với kiến thức địa lí đã có.
4. Phương thức hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh.
5. Các biện pháp hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh.
a, dạy học sinh hiểu bản đồ .
Việc dạy cho học sinh hiểu bản đồ phải được tiến hành thường xuyên từ lớp dưới lên lớp trên lớp trên và liên tục được khái quát hoái vào cuối mỗi giáo trình.
Dạy học sinh
hiểu bản đồ
thực hiện theo
các quy trình sau:
Xác định mục đích của việc làm.
Xác định những kiến thức có liên quan cần dựa vào để tiến hành công việc.
Cách tiến hành công việc.
Quy tắc về trình tự tiến hành công việc.
kiểm tra kết quả khi thực thiện
Iữa
b, Dạy học sinh đọc và vần dụng bản đồ.
Để đọc được bản đồ, học sinh phải nắm được những công việc sau:
Đọc bản đồ có ba mức độ sơ đẳng.
6. Một số cách làm việc có hiệu quả đối với việc rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh .
III. Phương pháp thảo luận trong dạy học địa lí.
1. Khái niệm về phương pháp thảo luận.
2. Ý nghĩa của phương pháp thảo luận.
3. Hướng dẫn thực hiện phương pháp thảo luận trong dạy học địa lí
IV. Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
a. Khái niệm : là phương pháp đặt học sinh vào môi trường học tập theo các nhóm học sinh
b. Mục tiêu của dạy học theo nhóm
Kĩ năng giao tiếp.
Kĩ năng giải quyết vấn đề.
Kĩ năng nói, diễn đạt.
Kĩ năng tập hợp và ghi chép tư liệu.
Kĩ năng báo cáo.

c. Những ưu, nhược điểm của dạy học theo nhóm
Cho phép các cá nhân đưa ra ý kiến riêng.
Giúp phát triển các phẩm chất lãnh đạo.
Cho phép các cá nhân tham gia 1 cách tích cực.
Gợi lên sự hứng thú trong học tập.
Có thể mất thời gian.
Một số học sinh có thể chiếm ưu thế trong phần thảo luận.
d. Tổ chức học sinh học tập theo nhóm có thể theo các bước dưới đây
Bước 1: Làm việc chung cả lớp.
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức cho học sinh.
Tổ chức các nhóm học sinh và giao nhiệm vụ cho các nhóm.
Hướng dẫn cách làm việc của nhóm.
Bước 2: Làm việc theo nhóm.
Trao đổi, thảo luận tronh nhóm.
Phân công trong nhóm.
Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.
Bước 3: Thảo luận tổng kết trước lớp.
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả thảo luận.
Thảo luận chung cả lớp.
Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài học tiếp theo.
e. Những điều cần lưu ý khi tổ chức học sinh làm việc theo nhóm có hiệu quả
Chọn chủ đề thảo luận có nhiều tình huống, cần tới sự chia sẻ, hợp tác giải quyết.
Các phương tiện để làm việc nhóm đã sẵn sàng chưa: giấy, bút, keo dán, bản đồ, tranh ảnh,…
Đã có đủ địa điểm để các nhóm làm việc chưa.
Số lượng thành viên trong nhóm từ 4-6 người.
Các thành viên trong nhóm đều hiểu rõ nhiệm vụ của mình.
Có sự kiểm tra, giúp đỡ các nhóm của giáo viên.
h. Vai trò của giáo viên khi tổ chức học sinh làm việc theo nhóm
Thu thập thông tin về người học
Lựa chọn mục tiêu kiến thức, kĩ năng cần đạt khi hoạt động nhóm
Quyết định số lượng học sinh trong nhóm
Chuẩn bị tài liệu, phương tiện cho học sinh thảo luận
Sắp xếp phòng học, bố trí địa điểm cho mỗi nhóm
Giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi nhóm
Đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm
V. Phương pháp đàm thoại
1)  Định nghĩa:
Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho học sinh sáng tỏ những vấn đề mới: tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp học sinh mở rộng, củng cố, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu được, nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình dạy học.  
2) Phân loại các hình thức đàm thoại
Căn cứ vào mục đích sư phạm:
Đàm thoại gợi mở
Đàm thoại tổng kết
Đàm thoại củng cố
Đàm thoại kiểm tra
Căn cứ vào tính chất nhận thức của người học
Đàm thoại tái hiện
Đàm thoại giải thích- minh họa
Đàm thoại tìm tòi - phát hiện
Kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập của học sinh nhằm trả lời đúng đắn, đầy đủ, rõ ràng
vấn đề.
3) Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp đàm thoại:

Bồi dưỡng cho học sinh khả năng diễn đạt bằng lời nói, bồi dưởng hứng thú học tập tạo ra không khí sôi nổi trong giờ học.
Giáo viên thu được tín hiệu ngược từ kết quả học tập của người học, nhờ vậy điều chỉnh kịp thời quá trình dạy và học chất lượng và hiệu quả học tập ở mức độ cao hơn.
3. Ý nghĩa của phương pháp
Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập.
Bồi dưỡng hứng thú học tập, làm cho không khí lớp học sôi động.
Giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học nhằm đạt được chất lượng, hiệu quả học tập ở mức độ cao hơn.
VẬN DỤNG
BÀI 7 : SỰ VẬN ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC CỦA TRÁI ĐẤT VÀ CÁC HỆ QUẢ
Nội dung :
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ.
Phương pháp đàm thoại.
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ (thảo luận nhóm).
1/ Phương pháp đàm thoại
Giúp cho học sinh hứng thú trong quá trình học và trình bày diễn đạt các vấn đề bằng lời nói để trả lời câu hỏi của giáo viên. Tạo không khí lớp học bớt nhàm chán .

VD : câu hỏi kiểm tra bài cũ : Kí hiệu bản đồ là gì?
Sau khi nghe câu hỏi học sinh sẽ suy nghĩ và tự tin giơ tay trả lời câu hỏi của giáo viên.
Phương pháp đàm thoại
VD : Trái đất có nghiêng hay không? Và nghiêng bao nhiêu độ?
- Kích thíc sự tò mò của các em và đàm thoại cùng với các bạn vì sẽ có 2 luồng ý kiến ( nghiêng và không nghiêng).

Theo em những hiện tượng gì trên bề mặt trái đất sẽ bị ảnh hưởng của sự lệch hướng?( phần 2).
- Giúp các em củng cố và nhớ bài bằng đàm thoại.
2/ Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ ( phần 1)
Từ bản đồ của giáo viên và sách giáo khoa sẽ giúp cho học sinh nhận biết được các yếu tố trong bản đồ, cách đọc và cách chỉ bản đồ.
Bản đồ còn giúp học sinh củng cố và nhớ lâu trong bộ não.

Vd: dựa vào hình 20 SGK quan sát và trả lời câu hỏi:

+ Mỗi khu vực chênh nhau bao nhiêu giờ?
+ Việt Nam nằm ở khu vực giờ thứ mấy ?

3/ Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Khi thảo luận nhóm sẽ giúp được cho học sinh không chỉ phát huy được tính tính cực, sáng tạo mà còn giúp các em cùng trao đổi ý kiến với các bạn, tham gia chia sẻ ý kiến của mình

rèn luyện được cho các em tính hòa đồng và kĩ năng giao tiếp diễn đạt và phát huy ý kiến về suy nghĩ kiến thức của mình.
VD: chia lớp thành 4 nhóm ( phần 1)
+ Nhóm 1: Cho biết Pháp ở khu vực giờ bao nhiêu?
+ Nhóm 2: Cho biết Anh ở khu vực giờ bao nhiêu?
+ Nhóm 3: Cho biết Nhật ở khu vực giờ bao nhiêu?
+ Nhóm 4: Cho biết Ý ở khu vực giờ bao nhiêu?
Từ đó các em sẽ thảo luận đưa ra ý kiến và trình bày diễn đạt của mình trước lớp.
4/ Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Giúp cho học sinh vận động được tri thức cũ và tri thức mới để giải quyết vấn đề mà người giáo viên đặt ra.

VD : đặt câu hỏi :
+ Nếu trái đất không tự quay quanh trục thì điều gì sẽ xảy ra?
+ Tại sao quan sát bầu trời thấy mặt trời mặt trăng và các ngôi sao chuyển động từ Tây sang Đông?


Phần trình bày của em
đến đây là hết.
cám ơn cô giáo đã xem.

























Phần trình bày của nhóm em
đến đây là hết .
Cám ơn cô giáo và các bạn
Đã chú ý lắng nghe.
 
Gửi ý kiến