Cơ sở văn hóa Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Xuân Tường
Ngày gửi: 10h:15' 08-03-2018
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 27
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Xuân Tường
Ngày gửi: 10h:15' 08-03-2018
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 27
Số lượt thích:
0 người
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Giảng viên : Lê Thị Thảo Trang
DANH SÁCH THÀNH VIÊN- Nhóm 13-AV5
1. Nguyễn Thị Xuân Tường
2. Trần Tuấn Phong
3.Trần Thị Thúy Trinh
4. Nguyễn Thị Như Quỳnh
5. Jong Myung Park
6.Nguyễn Hoàng Vĩnh Hiếu
7.Trần khánh Huy
8.Trương Thị Sáu
Chương V.
VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
BÀI 3 : ĐI LẠI
ỨNG PHÓ VỚI KHOẢNG CÁCH :
GIAO THÔNG
Quan niệm của người Việt về đi lại
Đi lại chính là sự ứng phó với khoảng cách
Ít có nhu cầu và sở thích đi lại, thường đi gần hơn đi xa
Đa phần cho rằng giao thông thời phong kiến và Trung cổ rất kém, chất lượng đường không tốt bao gồm cả xe cộ và con đường, tất nhiên cũng do nhu cầu đi lại của người ta lúc đó tưởng như không lớn.
Về mặt PHƯƠNG TIỆN ĐI LẠI thì người Việt Nam đi đường thủy nhiều hơn đường bộ.
Giao thông đường bộ ở Việt Nam cho đến tận khi Pháp vào, chỉ là những con đường nhỏ.
Phương tiện đi lại và vận chuyển ngoài sức trâu, ngựa, voi thì phổ biến là đôi chân, công văn giấy tờ của nhà nước chủ yếu cũng dược chuyển đi theo phương pháp này; quan lại thì di chuyển bằng cáng, kiệu.
ỨNG PHÓ VỚI KHOẢNG CÁCH :
GIAO THÔNG
Giai đoạn TK XIX-đầu TK XX
Kiệu bắt đầu từ thời phong kiến triều Nguyễn, vua chúa mỗi lần xuất cung đều dùng kiệu để đi lại. Kiệu được dùng chủ yếu cho vua.
Con đường đất từ Hải Phòng ra Đồ Sơn
Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20.
Nhà thơ Nguyễn Bính trong bài Giấc mơ anh lái đò
có nói đến chuyện đi võng vinh quy về làng:
Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Để tôi mơ mãi, mơ nhiều:
"Tước đay se võng nhuộm điều ta đi
Tưng bừng vua mở khoa thi,
Tôi đỗ quan trạng vinh quy về làng
Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò."
Trong bài thơ Quan trạng, tả cảnh quan Trạng vinh quy, Nguyễn Bính viết:
Quan Trạng đi bốn lọng vàng
Cờ thêu tám lá qua làng Trang Nghiêm
Mọi người hớn hở ra xem
Chỉ duy có một cô em chạnh buồn.
Xe đẩy bánh gỗ.
Xe kéo tay.
Đặc điểm văn hóa đi lại của người Việt
CÁCH ĐI LẠI CỦA NGƯỜI VIỆT
Hệ thống từ ngữ chỉ sự đi lại, vận chuyển trong
khoảng cách gần của người việt khá phong phú
Thường đi lại bằng đường thủy nhiều hơn đường bộ
Hình ảnh con thuyền và và dòng sông biểu tượng sự
gắn bó, đợi chờ
ỨNG PHÓ VỚI KHOẢNG CÁCH :
GIAO THÔNG
Hình ảnh sông nước ăn sâu vào tâm khảm người Việt nên mọi mặt đời sống đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực: chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo, chìm đắm trong suy tư………
Các tỉnh phía Nam, mắt ghe được vẽ tròn to, trang trí sặc sỡ trên nền sơn đỏ, tạo nên sự vui nhộn, hiền hòa cho thuyền.
Ghe có mũi nhọn dựng cao, sơn màu đỏ tươi, lườn sơn màu xanh,
mắt vẽ tròn xoe, tròng đen to choán gần hết con mắt. Nó đã từng “khoe sắc” trong dân ca vùng sông nước:
Ghe ai đỏ mũi, trảng lườn
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?
Nổi tiếng nhất ở miền Tây Nam Bộ là trường phái đóng ghe Cần Đước (Long An),
hoạt động từ cuối thế kỷ XIX đến nay.
Nơi đây chuyên đóng các loại ghe lớn, chạy nhanh, chở khoẻ và có dáng đẹp, đi sông đi biển đều tốt
Các tỉnh, thành miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng, mắt ghe được vẽ hai màu chủ đạo là trắng và đen, xếch phần đuôi mắt trông khá dữ dằn kèm con ngươi nhìn xuống nước mang ngụ ý “nhìn thật sâu để tìm nơi có nhiều tôm cá”.
Ý nghĩa và nguồn gốc của tục vẽ mắt lên thuyền ở Việt Nam
Những con tàu ở vùng sông nước đều được vẽ mắt với mong muốn chúng sẽ “Đi đến nơi, về đến chốn.”
Những cư dân vùng sông nước đã gởi gắm một quan niệm thuần phác trong tục lệ vẽ mắt thuyền. Đây là một hiên tượng văn hoá dân gian mang đậm tính nhân văn, nên được bảo lưu, gìn giữ. Và dưới góc độ mỹ thuật dân gian, đây là một biểu tượng văn hoá cần được tiếp tục nghiên cứu.
XÍCH LÔ ĐẦU TK 20
Xích lô Sài thành thời Pháp thuộc
Người Việt đã biết tận dụng tự nhiên để đem lại cái ăn, và ứng phó với tự nhiên : thời tiết, khí hậu… bằng cách mặc ,bằng cách làm nhà ở để bảo vệ mình , và ứng phó với khoảng cách của tự nhiên bằng đi lại, bằng sản xuất phương tiện di chuyển phù hợp với điều kiện sông nước.
Tất cả đó là cách văn hóa ứng xử một cách thân thiện, hòa hợp với môi trường thiên nhiên của cư dân làm nông nghiệp lúa nước và trên căn bản triết lý âm dương ngũ hành.
KẾT LUẬN
CHÂN THÀNH CẢM ƠN
SỰ THEO DÕI VÀ LẮNG NGHE
CỦA CÔ VÀ CÁC BẠN!
Giảng viên : Lê Thị Thảo Trang
DANH SÁCH THÀNH VIÊN- Nhóm 13-AV5
1. Nguyễn Thị Xuân Tường
2. Trần Tuấn Phong
3.Trần Thị Thúy Trinh
4. Nguyễn Thị Như Quỳnh
5. Jong Myung Park
6.Nguyễn Hoàng Vĩnh Hiếu
7.Trần khánh Huy
8.Trương Thị Sáu
Chương V.
VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
BÀI 3 : ĐI LẠI
ỨNG PHÓ VỚI KHOẢNG CÁCH :
GIAO THÔNG
Quan niệm của người Việt về đi lại
Đi lại chính là sự ứng phó với khoảng cách
Ít có nhu cầu và sở thích đi lại, thường đi gần hơn đi xa
Đa phần cho rằng giao thông thời phong kiến và Trung cổ rất kém, chất lượng đường không tốt bao gồm cả xe cộ và con đường, tất nhiên cũng do nhu cầu đi lại của người ta lúc đó tưởng như không lớn.
Về mặt PHƯƠNG TIỆN ĐI LẠI thì người Việt Nam đi đường thủy nhiều hơn đường bộ.
Giao thông đường bộ ở Việt Nam cho đến tận khi Pháp vào, chỉ là những con đường nhỏ.
Phương tiện đi lại và vận chuyển ngoài sức trâu, ngựa, voi thì phổ biến là đôi chân, công văn giấy tờ của nhà nước chủ yếu cũng dược chuyển đi theo phương pháp này; quan lại thì di chuyển bằng cáng, kiệu.
ỨNG PHÓ VỚI KHOẢNG CÁCH :
GIAO THÔNG
Giai đoạn TK XIX-đầu TK XX
Kiệu bắt đầu từ thời phong kiến triều Nguyễn, vua chúa mỗi lần xuất cung đều dùng kiệu để đi lại. Kiệu được dùng chủ yếu cho vua.
Con đường đất từ Hải Phòng ra Đồ Sơn
Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20.
Nhà thơ Nguyễn Bính trong bài Giấc mơ anh lái đò
có nói đến chuyện đi võng vinh quy về làng:
Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Để tôi mơ mãi, mơ nhiều:
"Tước đay se võng nhuộm điều ta đi
Tưng bừng vua mở khoa thi,
Tôi đỗ quan trạng vinh quy về làng
Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò."
Trong bài thơ Quan trạng, tả cảnh quan Trạng vinh quy, Nguyễn Bính viết:
Quan Trạng đi bốn lọng vàng
Cờ thêu tám lá qua làng Trang Nghiêm
Mọi người hớn hở ra xem
Chỉ duy có một cô em chạnh buồn.
Xe đẩy bánh gỗ.
Xe kéo tay.
Đặc điểm văn hóa đi lại của người Việt
CÁCH ĐI LẠI CỦA NGƯỜI VIỆT
Hệ thống từ ngữ chỉ sự đi lại, vận chuyển trong
khoảng cách gần của người việt khá phong phú
Thường đi lại bằng đường thủy nhiều hơn đường bộ
Hình ảnh con thuyền và và dòng sông biểu tượng sự
gắn bó, đợi chờ
ỨNG PHÓ VỚI KHOẢNG CÁCH :
GIAO THÔNG
Hình ảnh sông nước ăn sâu vào tâm khảm người Việt nên mọi mặt đời sống đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực: chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo, chìm đắm trong suy tư………
Các tỉnh phía Nam, mắt ghe được vẽ tròn to, trang trí sặc sỡ trên nền sơn đỏ, tạo nên sự vui nhộn, hiền hòa cho thuyền.
Ghe có mũi nhọn dựng cao, sơn màu đỏ tươi, lườn sơn màu xanh,
mắt vẽ tròn xoe, tròng đen to choán gần hết con mắt. Nó đã từng “khoe sắc” trong dân ca vùng sông nước:
Ghe ai đỏ mũi, trảng lườn
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?
Nổi tiếng nhất ở miền Tây Nam Bộ là trường phái đóng ghe Cần Đước (Long An),
hoạt động từ cuối thế kỷ XIX đến nay.
Nơi đây chuyên đóng các loại ghe lớn, chạy nhanh, chở khoẻ và có dáng đẹp, đi sông đi biển đều tốt
Các tỉnh, thành miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng, mắt ghe được vẽ hai màu chủ đạo là trắng và đen, xếch phần đuôi mắt trông khá dữ dằn kèm con ngươi nhìn xuống nước mang ngụ ý “nhìn thật sâu để tìm nơi có nhiều tôm cá”.
Ý nghĩa và nguồn gốc của tục vẽ mắt lên thuyền ở Việt Nam
Những con tàu ở vùng sông nước đều được vẽ mắt với mong muốn chúng sẽ “Đi đến nơi, về đến chốn.”
Những cư dân vùng sông nước đã gởi gắm một quan niệm thuần phác trong tục lệ vẽ mắt thuyền. Đây là một hiên tượng văn hoá dân gian mang đậm tính nhân văn, nên được bảo lưu, gìn giữ. Và dưới góc độ mỹ thuật dân gian, đây là một biểu tượng văn hoá cần được tiếp tục nghiên cứu.
XÍCH LÔ ĐẦU TK 20
Xích lô Sài thành thời Pháp thuộc
Người Việt đã biết tận dụng tự nhiên để đem lại cái ăn, và ứng phó với tự nhiên : thời tiết, khí hậu… bằng cách mặc ,bằng cách làm nhà ở để bảo vệ mình , và ứng phó với khoảng cách của tự nhiên bằng đi lại, bằng sản xuất phương tiện di chuyển phù hợp với điều kiện sông nước.
Tất cả đó là cách văn hóa ứng xử một cách thân thiện, hòa hợp với môi trường thiên nhiên của cư dân làm nông nghiệp lúa nước và trên căn bản triết lý âm dương ngũ hành.
KẾT LUẬN
CHÂN THÀNH CẢM ƠN
SỰ THEO DÕI VÀ LẮNG NGHE
CỦA CÔ VÀ CÁC BẠN!
 







Các ý kiến mới nhất