Bài 1. Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hà Viết Nghiệp
Ngày gửi: 16h:35' 16-11-2023
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 33
Nguồn:
Người gửi: Hà Viết Nghiệp
Ngày gửi: 16h:35' 16-11-2023
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 33
Số lượt thích:
0 người
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số - Khái niệm: Văn bản thuyết
biện pháp nghệ thuật trong văn minh là kiểu văn bản thông
bản thuyết minh:
dụng trong mọi lĩnh vực đời
sống nhằm cung cấp tri thức
1. Ôn tập văn thuyết minh
(kiến thức) khách quan về đặc
- Mục đích: cung cấp tri thức (kiến
điểm, tính chất, nguyên nhân,…
thức) khách quan, hữu ích, xác thực
của các hiện tượng và sự việc
trong tự nhiên, xã hội bằng
phương thức trình bày, giới
thiệu, giải thích.
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số Ví dụ: Hải Vân là đèo cao nhất và
biện pháp nghệ thuật trong văn dài nhất Việt Nam. Con đường
xuyên Việt chạy uốn lượn qua đèo
bản thuyết minh:
dài đến 20 km.
1. Ôn tập văn thuyết minh
Ví dụ: Bình Định có nhiều di tích
- Mục đích: cung cấp tri thức (kiến lịch sử như Tháp Chàm, Tháp
thức) khách quan, hữu ích, xác thực
Dương Long, Tháp Đội, bảo tàng
Quang Trung . . và nhiều danh lam
- Phương pháp thuyết minh:
thắng cảnh: Quy Hòa, Ghềnh Ráng,
+ Định nghĩa.
Suối khoáng, Hội Vân, Đầm Thị
+ Liệt kê.
Nại, Suối Hầm Mô . . .
+ Dùng số liệu.
Ví dụ: Các nhà khoa học cho biết
trong không khí, dưỡng khí chỉ
chiếm 20% tổng thể tích, thán khí
3%.
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
dụ:
dụ:
Ngày
minh
nay,
đi
vể các
một
thành
phố,
phát
I.Ví
hiểu
sử
dụng
một
số
VíTìm
dụ:Thuyết
Biểnviệc
Thái
Bìnhnước
Dương
có
triển,
thểpháp
đâu
phân
tích
cũng
thành
nổi
từng
mặt:
chiến
biện
nghệ
thuật
trong
văn
chiếm
mộtđâu
diện
tích
gầnlênbằng
badịch
đại
chống
- Vị
trí
thuốc
địa lý.
lá. Người ta cấm hút thuốc
bản
thuyết
dương
khácminh:
cộng lại và gấp 14 lần
tất- Khí
cả những
hậu. nơi công cộng, phạt nặng
diện
tích
Bắcvi thuyết
Băng
Dương
là đại
1.- Dân
Ôn người
tập
những
số. văn
phạm minh
(ở Bỉ, từ năm
bé
nhất.
- Lịch
sử.
1987,
viđích:
phạm
lần thứ
phạt 40
đô
-dương
Mục
cung
cấpnhất
tri thức
(kiến
Văn
hóa và
con
người.
la,- tái
phạm
phạt
500
đôích,
la) xác thực
thức)
khách
quan,
hữu
- Địa danh và sản vật…
- Phương pháp thuyết minh:
+ Định nghĩa.
+ Liệt kê.
+ Dùng số liệu.
+ Nêu ví dụ.
+ Phân loại, phân tích.
+ So sánh.
2. Viết văn bản thuyết minh có
sử dụng một số biện pháp
nghệ thuật:
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
HẠ LONG - ĐÁ VÀ NƯỚC
Sự kì lạ của Hạ Long là vô tận. Chính là do tài thông minh của Tạo
Hoá biết dùng đúng chất liệu hay nhất cho cuộc sáng tạo của mình: Nước.
Chính Nước làm cho Đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri
bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn.
Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách. Có thể mặc
cho con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo con
triều; có thể thả trôi theo chiều gió, theo các dòng chảy quanh co phức tạp
giữa các đảo; cũng có thể thong thả khua khẽ mái chèo mà lướt đi, trượt
nhẹ và êm trên sóng; có thể nhanh tay hơn một chút để tạo một cảm giác
xê dịch thanh thoát; có thể bơi nhanh hơn bằng thuyền buồm, nhanh hơn
nữa bằng thuyền máy, cũng như bay trên các ngọn sóng lượn vun vút giữa
các đảo trên cano cao tốc; có thể thả sức phóng nhanh hàng giờ, hàng
buổi, hàng ngày khắp các trân đồ bát quái đá trộn với nước này. Mà cũng
có thể, một người bộ hành tuỳ hứng, lúc đi lúc dừng, lúc nhanh lúc chậm,
lúc tiến lúc lùi, thẳng tắp hay quanh co, lao ra những quãng trống hay len
lỏi qua các khe hẹp giữa các đảo đá.... Và cái thập loại chúng sinh chen
chúc khắp vịnh Hạ Long kia, già đi, trẻ lại, trang nghiêm hơn hay bỗng
nhiên nhí nhảnh tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn,... hoá thân không
Sự hóa thân của đá
ngừng là tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng,
hoặc độ xa gần và hướng ta tiến đến chúng hay rời xa chúng; còn tuỳ theo cả
hướng ánh sáng rọi vào chúng, hoặc đột nhiên khiến cho mái đầu một nhân vật
Đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, và rõ ràng trước mắt ta là
một bậc tiên ông không còn có tuổi. Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh chảy
khiến những con người bằng đá vây quanh ta trên mặt vịnh càng lung linh, xao
động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có
thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động
dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc họp của cả thế giới người bằng đã sống
động đó, biết đâu!...
[...] Để rồi, khi chân trời đằng đông vừa ửng tím nhạt, rồi từ từ chuyển sang
hồng... thì tất cả bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ. Mà vẫn còn nóng
hổi hơi thở cuộc sống đêm chưa muốn dứt.
Hạ Long vậy đó, cho ta một bài học, sơ đẳng mà cao sâu: Trên thế gian này,
chẳng có gì là vô tri cả. Cho đến cả đá. Ở đây Tạo Hoá đã chọn đá làm một trong
hai nguyên liệu chủ yếu và duy nhất của Người để bày nên bản phác thảo của Sự
Sống. Chính là Người có ý tứ sâu xa đấy: Người chọn lấy cái vẫn được coi là trơ
lì, vô tri nhất để thể hiện cái hồn ríu rít của sự sống. Thiên nhiên bao giờ cũng
thông minh đến bất ngờ; nó tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng...
(Nguyên Ngọc, Hạ Long - Đá và Nước, Ban quản lí vịnh Hạ Long, 2002)
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
HẠ LONG - ĐÁ VÀ NƯỚC
Miêu tả sinh động
Sự kì lạ của Hạ Long là vô tận. Chính là do tài thông minh của Tạo
Hoá biết dùng đúng chất liệu hay nhất cho cuộc sáng tạo của mình: Nước.
Chính Nước làm cho Đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri
bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn.
Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách. Có thể mặc
cho con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo con
triều; có thể thả trôi theo chiều gió, theo các dòng chảy quanh co phức tạp
giữa các đảo; cũng có thể thong thả khua khẽ mái chèo mà lướt đi, trượt
nhẹ và êm trên sóng; có thể nhanh tay hơn một chút để tạo một cảm giác
xê dịch thanh thoát; có thể bơi nhanh hơn bằng thuyền buồm, nhanh hơn
nữa bằng thuyền máy, cũng như bay trên các ngọn sóng lượn vun vút giữa
các đảo trên cano cao tốc; có thể thả sức phóng nhanh hàng giờ, hàng
buổi, hàng ngày khắp các trân đồ bát quái đá trộn với nước này. Mà cũng
có thể, một người bộ hành tuỳ hứng, lúc đi lúc dừng, lúc nhanh lúc chậm,
lúc tiến lúc lùi, thẳng tắp hay quanh co, lao ra những quãng trống hay len
lỏihóa
qua các khe hẹp giữa các đảo đá.... Và cái thập loại chúng sinh chen
Nhân
chúc khắp vịnh Hạ Long kia, già đi, trẻ lại, trang nghiêm hơn hay bỗng
nhiên nhí nhảnh tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn,... hoá thân không
Nhân
ngừnghóa
là tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng,
hoặc độ xa gần và hướng ta tiến đến chúng hay rời xa chúng; còn tuỳ theo cả
hướng ánh sáng rọi vào chúng, hoặc đột nhiên khiến cho mái đầu một nhân vật
Đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, và rõ ràng trước mắt ta là
một bậc tiên ông không còn có tuổi. Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh chảy
So sánh
những con người bằng đá vây quanh ta trên mặt vịnh càng lung linh, xao
khiến
động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có
thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động
dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc họp của cả thế giới người bằng đá sống
động đó, biết đâu!...
[...] Để rồi, khi chân trời đằng đông vừa ửng tím nhạt, rồi từ từ chuyển sang
hồng... thì tất cả bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ. Mà vẫn còn nóng
hổi hơi thở cuộc sống đêm chưa muốn dứt.
Hạ Long vậy đó, cho ta một bài học, sơ đẳng mà cao sâu: Trên thế gian này,
chẳng có gì là vô tri cả. Cho đến cả đá. Ở đây Tạo Hoá đã chọn đá làm một trong
hai nguyên liệu chủ yếu và duy nhất của Người để bày nên bản phác thảo của Sự
Sống. Chính là Người có ý tứ sâu xa đấy: Người chọn lấy cái vẫn được coi là trơ
lì, vô tri nhất để thể hiện cái hồn ríu rít của sự sống. Thiên nhiên bao giờ cũng
thông minh đến bất ngờ; nó tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng...
(Nguyên Ngọc, Hạ Long - Đá và Nước, Ban quản lí vịnh Hạ Long, 2002)
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
Việt Nam đất nước ta ơi,
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số
Mênh
mông
biển
lúacủa
đâuViệt
trờiMinh
đẹp hơn”
“Mười
chính
sách
biện pháp nghệ thuật trong văn Chúng tôi là lúa một loài cây quen
Việt Nam độc lập đồng minh
bản thuyết minh:
của làngtrình
quêđánh
Việt Nam.
dàiTây.
từ
Cóthuộc
bản chương
Nhật, Trải
đánh
1. Ôn tập văn thuyết minh
Bắc xuống
các nước
bạn đều dễ
dàng bắt
QuyếtNam
làm cho
non này,
tôi.xây
Chúng
đã gắn
2. Viết văn bản thuyết minh có gặp
sử
Cờ loài
treocây
độcchúng
lập, nền
bình tôi
quyền:
vớiTiên,
người dân
dụng một số biện pháp nghệ thuật:bó thân
Làmthiết
cho với
conlàng
cháuquê,
Rồng,
ViệtDân
Nam.
Họ
nhà
lúa
khôngcủa
chỉ là
nguồn
ta
giữ
lấy
lợi
quyền
ta.
+ Biện pháp nghệ thuật: nhân hóa,
sống,
đem lại những giá trị vật chất nuôi
………..
so sánh, tự thuật, …
sống con người mà chúng tôi còn là
Hình
diễn ca.
Làm nổi bật đặc điểm của đối tượng
người
bạnthức
tâm giao,
cùng sẻ chia những
thuyết minh, gây hứng thú cho người
vui buồn, ước vọng của người nông dân
đọc.
Việt Nam.
Tự thuật.
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số Bài tập 1 (SGK/13, 14).
biện pháp nghệ thuật trong văn
bản thuyết minh:
1. Ôn tập văn thuyết minh
2. Viết văn bản thuyết minh có sử
dụng một số biện pháp nghệ thuật:
+ Biện pháp nghệ thuật: nhân hóa,
so sánh, tự thuật, …
Làm nổi bật đặc điểm của đối tượng
thuyết minh, gây hứng thú cho người
đọc.
Ghi nhớ : SGK/13
II. Luyện tập:
Bài tập 1 (SGK/13, 14).
a. Văn bản trên thực chất là một bài văn thuyết minh, cung cấp tri thức về
loài ruồi.
- Tính chất thuyết minh thể hiện ở những điểm sau:
+ Giới thiệu những đặc tính chung về họ, giống loài, các tập tính sinh
sống: Con là Ruồi xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh mắt lưới. Họ hàng
con rất đông, gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm…; Nơi ở là nhà vệ
sinh,…; Bên ngoài con ruồi mang 6 triệu vi khuẩn,…
+ Giới thiệu những đặc tính sinh sản: Một đôi ruồi, trong một mùa sinh
ra 19 triệu tỉ con ruồi…
+ Giới thiệu những đặc điểm cơ thể: mắt ruồi như mắt lưới,… chứa
hàng triệu mắt nhỏ; chân ruồi có thể tiết ra chất dính
+ Biện pháp giữ vệ sinh, phòng bệnh: Con người phải thường xuyên đậy
điệm thức ăn,…
- Những phương pháp thuyết minh:
+ Phương pháp nêu định nghĩa: Con là Ruồi xanh, thuộc họ côn trùng
hai cánh mắt lưới.
+ Phương pháp liệt kê (nêu các đặc điểm về giống loài, sinh sản, cơ thể,
cách gây bệnh)
+ Phương pháp dùng số liệu: Bên ngoài con ruồi mang 6 triệu vi
khuẩn, trong ruột chứa đến 28 triệu vi khuẩn, 19 triệu tỉ con ruồi.
+ Phương pháp phân loại.
b. Văn bản thuyết minh này có nét đặc biệt:
+ Hình thức: giống như văn bản tường thuật một phiên toà.
+ Cấu trúc: giống biên bản một cuộc tranh luận về mặt pháp lí.
+ Nội dung: giống như câu chuyện kể về loài ruồi.
+ Những biện pháp nghệ thuật: Bên cạnh các phương pháp thuyết minh,
văn bản thuyết minh được trình bày như một văn bản tường thuật một
phiên toà và có sử dụng biện pháp nghệ thuật kể chuyện, miêu tả, ẩn dụ,
nhân hoá...
c. Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh khiến cho văn
bản sinh động, hấp dẫn, thú vị, gây hứng thú cho người đọc.
Bài tập 2 (SGK/14). Đọc đoạn văn sau và nêu nhận xét về biện
pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh.
Bà thường kể cho tôi nghe rằng chim cú kêu là có ma tới. Tôi
hỏi vì sao bà giải thích: “Thế cháu không nghe tiếng cú kêu thường
vọng từ bãi tha ma đến hay sao?”. Sau này học môn Sinh học tôi mới
biết là không phải như vậy. Chim cú là loài chim ăn thịt, thường ăn
thịt lũ chuột đồng, kẻ phá hoại mùa màng. Chim cú là giống vật có lợi,
là bạn của nhà nông. Sở dĩ chim cú thường lui tới bãi tha ma là vì ở đó
có lũ chuột đồng đào hang, bây giờ mỗi lần nghe tiếng chim cú, tôi
chẳng những không sợ mà còn vui vì biết rằng người bạn của nhà
nông đang hoạt động.
Đoạn văn này nhằm nói về tập tính của chim cú dưới dạng một
ngộ nhận (định kiến) thời thơ ấu, sau lớn lên đi học mới có dịp để
nhận thức lại sự nhầm lẫn cũ.
Biện pháp nghệ thuật ở đây chính là lấy ngộ nhận hồi nhỏ làm đầu
mối câu chuyện.
VẬN DỤNG
Đề bài: Viết một đoạn văn thuyết minh với chủ đề tự chọn, trong đó
có sử dụng một hoặc một số biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hóa,
tưởng tượng, kể chuyện,…)
Tre là loại cây thân gỗ, cao vút, thân nhỏ khoảng bằng cánh tay người
trưởng thành. Xung quanh thân cây có những chiếc gai nhọn, sắc. Tre
thường mọc cành và lá ở phần ngọn, lá tre xanh xanh, thon thon như
chiếc thuyền nan. Trên lá có những đường gân song song trông rất duyên
dáng. Tre già măng mọc, cứ như thế tre luôn sinh sôi phát triển. Cây tre đã
gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân
mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phải ngẫu nhiên sự tích loại tre
thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng. Hình ảnh
Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Ân đã trở thành biểu tượng
cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm
lược lớn mạnh. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, lũy tre xanh đã trở thành
“pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng
hóa. Tre trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn
công trong các cuộc chiến. Những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền
đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc
đánh đuổi quân xâm lược để giành độc lập, tự do cho Tổ Quốc. “Tre giữ làng,
giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”. Tre thật đẹp, thật có ích.
Tre là biểu tượng không thể phai đổi, không thể mất đi, tre già măng mọc, thế
hệ này sẽ tiếp nối nhựa sống của thế hệ kia, sẽ còn mãi đến mai sau.
1. Đối với bài học ở tiết học này:
- Văn bản thuyết minh và các phương pháp thuyết minh
thường dùng .
- Vai trò của các biện pháp nghệ thuật trong bài văn thuyết
minh.
2. Đối với bài học ở tiết học tiếp theo:
- Chuẩn bị bài mới: Luyện tập sử dụng một số biện pháp
nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.
- Cách làm bài thuyết minh về một thứ đồ dùng (cái quạt,
cái bút, cái kéo,...).
- Nắm được cách sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
trong văn bản thuyết minh.
- Tác dụng của một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản
thuyết minh.
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số - Khái niệm: Văn bản thuyết
biện pháp nghệ thuật trong văn minh là kiểu văn bản thông
bản thuyết minh:
dụng trong mọi lĩnh vực đời
sống nhằm cung cấp tri thức
1. Ôn tập văn thuyết minh
(kiến thức) khách quan về đặc
- Mục đích: cung cấp tri thức (kiến
điểm, tính chất, nguyên nhân,…
thức) khách quan, hữu ích, xác thực
của các hiện tượng và sự việc
trong tự nhiên, xã hội bằng
phương thức trình bày, giới
thiệu, giải thích.
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số Ví dụ: Hải Vân là đèo cao nhất và
biện pháp nghệ thuật trong văn dài nhất Việt Nam. Con đường
xuyên Việt chạy uốn lượn qua đèo
bản thuyết minh:
dài đến 20 km.
1. Ôn tập văn thuyết minh
Ví dụ: Bình Định có nhiều di tích
- Mục đích: cung cấp tri thức (kiến lịch sử như Tháp Chàm, Tháp
thức) khách quan, hữu ích, xác thực
Dương Long, Tháp Đội, bảo tàng
Quang Trung . . và nhiều danh lam
- Phương pháp thuyết minh:
thắng cảnh: Quy Hòa, Ghềnh Ráng,
+ Định nghĩa.
Suối khoáng, Hội Vân, Đầm Thị
+ Liệt kê.
Nại, Suối Hầm Mô . . .
+ Dùng số liệu.
Ví dụ: Các nhà khoa học cho biết
trong không khí, dưỡng khí chỉ
chiếm 20% tổng thể tích, thán khí
3%.
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
dụ:
dụ:
Ngày
minh
nay,
đi
vể các
một
thành
phố,
phát
I.Ví
hiểu
sử
dụng
một
số
VíTìm
dụ:Thuyết
Biểnviệc
Thái
Bìnhnước
Dương
có
triển,
thểpháp
đâu
phân
tích
cũng
thành
nổi
từng
mặt:
chiến
biện
nghệ
thuật
trong
văn
chiếm
mộtđâu
diện
tích
gầnlênbằng
badịch
đại
chống
- Vị
trí
thuốc
địa lý.
lá. Người ta cấm hút thuốc
bản
thuyết
dương
khácminh:
cộng lại và gấp 14 lần
tất- Khí
cả những
hậu. nơi công cộng, phạt nặng
diện
tích
Bắcvi thuyết
Băng
Dương
là đại
1.- Dân
Ôn người
tập
những
số. văn
phạm minh
(ở Bỉ, từ năm
bé
nhất.
- Lịch
sử.
1987,
viđích:
phạm
lần thứ
phạt 40
đô
-dương
Mục
cung
cấpnhất
tri thức
(kiến
Văn
hóa và
con
người.
la,- tái
phạm
phạt
500
đôích,
la) xác thực
thức)
khách
quan,
hữu
- Địa danh và sản vật…
- Phương pháp thuyết minh:
+ Định nghĩa.
+ Liệt kê.
+ Dùng số liệu.
+ Nêu ví dụ.
+ Phân loại, phân tích.
+ So sánh.
2. Viết văn bản thuyết minh có
sử dụng một số biện pháp
nghệ thuật:
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
HẠ LONG - ĐÁ VÀ NƯỚC
Sự kì lạ của Hạ Long là vô tận. Chính là do tài thông minh của Tạo
Hoá biết dùng đúng chất liệu hay nhất cho cuộc sáng tạo của mình: Nước.
Chính Nước làm cho Đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri
bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn.
Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách. Có thể mặc
cho con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo con
triều; có thể thả trôi theo chiều gió, theo các dòng chảy quanh co phức tạp
giữa các đảo; cũng có thể thong thả khua khẽ mái chèo mà lướt đi, trượt
nhẹ và êm trên sóng; có thể nhanh tay hơn một chút để tạo một cảm giác
xê dịch thanh thoát; có thể bơi nhanh hơn bằng thuyền buồm, nhanh hơn
nữa bằng thuyền máy, cũng như bay trên các ngọn sóng lượn vun vút giữa
các đảo trên cano cao tốc; có thể thả sức phóng nhanh hàng giờ, hàng
buổi, hàng ngày khắp các trân đồ bát quái đá trộn với nước này. Mà cũng
có thể, một người bộ hành tuỳ hứng, lúc đi lúc dừng, lúc nhanh lúc chậm,
lúc tiến lúc lùi, thẳng tắp hay quanh co, lao ra những quãng trống hay len
lỏi qua các khe hẹp giữa các đảo đá.... Và cái thập loại chúng sinh chen
chúc khắp vịnh Hạ Long kia, già đi, trẻ lại, trang nghiêm hơn hay bỗng
nhiên nhí nhảnh tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn,... hoá thân không
Sự hóa thân của đá
ngừng là tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng,
hoặc độ xa gần và hướng ta tiến đến chúng hay rời xa chúng; còn tuỳ theo cả
hướng ánh sáng rọi vào chúng, hoặc đột nhiên khiến cho mái đầu một nhân vật
Đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, và rõ ràng trước mắt ta là
một bậc tiên ông không còn có tuổi. Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh chảy
khiến những con người bằng đá vây quanh ta trên mặt vịnh càng lung linh, xao
động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có
thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động
dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc họp của cả thế giới người bằng đã sống
động đó, biết đâu!...
[...] Để rồi, khi chân trời đằng đông vừa ửng tím nhạt, rồi từ từ chuyển sang
hồng... thì tất cả bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ. Mà vẫn còn nóng
hổi hơi thở cuộc sống đêm chưa muốn dứt.
Hạ Long vậy đó, cho ta một bài học, sơ đẳng mà cao sâu: Trên thế gian này,
chẳng có gì là vô tri cả. Cho đến cả đá. Ở đây Tạo Hoá đã chọn đá làm một trong
hai nguyên liệu chủ yếu và duy nhất của Người để bày nên bản phác thảo của Sự
Sống. Chính là Người có ý tứ sâu xa đấy: Người chọn lấy cái vẫn được coi là trơ
lì, vô tri nhất để thể hiện cái hồn ríu rít của sự sống. Thiên nhiên bao giờ cũng
thông minh đến bất ngờ; nó tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng...
(Nguyên Ngọc, Hạ Long - Đá và Nước, Ban quản lí vịnh Hạ Long, 2002)
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
HẠ LONG - ĐÁ VÀ NƯỚC
Miêu tả sinh động
Sự kì lạ của Hạ Long là vô tận. Chính là do tài thông minh của Tạo
Hoá biết dùng đúng chất liệu hay nhất cho cuộc sáng tạo của mình: Nước.
Chính Nước làm cho Đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri
bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn.
Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách. Có thể mặc
cho con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo con
triều; có thể thả trôi theo chiều gió, theo các dòng chảy quanh co phức tạp
giữa các đảo; cũng có thể thong thả khua khẽ mái chèo mà lướt đi, trượt
nhẹ và êm trên sóng; có thể nhanh tay hơn một chút để tạo một cảm giác
xê dịch thanh thoát; có thể bơi nhanh hơn bằng thuyền buồm, nhanh hơn
nữa bằng thuyền máy, cũng như bay trên các ngọn sóng lượn vun vút giữa
các đảo trên cano cao tốc; có thể thả sức phóng nhanh hàng giờ, hàng
buổi, hàng ngày khắp các trân đồ bát quái đá trộn với nước này. Mà cũng
có thể, một người bộ hành tuỳ hứng, lúc đi lúc dừng, lúc nhanh lúc chậm,
lúc tiến lúc lùi, thẳng tắp hay quanh co, lao ra những quãng trống hay len
lỏihóa
qua các khe hẹp giữa các đảo đá.... Và cái thập loại chúng sinh chen
Nhân
chúc khắp vịnh Hạ Long kia, già đi, trẻ lại, trang nghiêm hơn hay bỗng
nhiên nhí nhảnh tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn,... hoá thân không
Nhân
ngừnghóa
là tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng,
hoặc độ xa gần và hướng ta tiến đến chúng hay rời xa chúng; còn tuỳ theo cả
hướng ánh sáng rọi vào chúng, hoặc đột nhiên khiến cho mái đầu một nhân vật
Đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, và rõ ràng trước mắt ta là
một bậc tiên ông không còn có tuổi. Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh chảy
So sánh
những con người bằng đá vây quanh ta trên mặt vịnh càng lung linh, xao
khiến
động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có
thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động
dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc họp của cả thế giới người bằng đá sống
động đó, biết đâu!...
[...] Để rồi, khi chân trời đằng đông vừa ửng tím nhạt, rồi từ từ chuyển sang
hồng... thì tất cả bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ. Mà vẫn còn nóng
hổi hơi thở cuộc sống đêm chưa muốn dứt.
Hạ Long vậy đó, cho ta một bài học, sơ đẳng mà cao sâu: Trên thế gian này,
chẳng có gì là vô tri cả. Cho đến cả đá. Ở đây Tạo Hoá đã chọn đá làm một trong
hai nguyên liệu chủ yếu và duy nhất của Người để bày nên bản phác thảo của Sự
Sống. Chính là Người có ý tứ sâu xa đấy: Người chọn lấy cái vẫn được coi là trơ
lì, vô tri nhất để thể hiện cái hồn ríu rít của sự sống. Thiên nhiên bao giờ cũng
thông minh đến bất ngờ; nó tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng...
(Nguyên Ngọc, Hạ Long - Đá và Nước, Ban quản lí vịnh Hạ Long, 2002)
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
Việt Nam đất nước ta ơi,
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số
Mênh
mông
biển
lúacủa
đâuViệt
trờiMinh
đẹp hơn”
“Mười
chính
sách
biện pháp nghệ thuật trong văn Chúng tôi là lúa một loài cây quen
Việt Nam độc lập đồng minh
bản thuyết minh:
của làngtrình
quêđánh
Việt Nam.
dàiTây.
từ
Cóthuộc
bản chương
Nhật, Trải
đánh
1. Ôn tập văn thuyết minh
Bắc xuống
các nước
bạn đều dễ
dàng bắt
QuyếtNam
làm cho
non này,
tôi.xây
Chúng
đã gắn
2. Viết văn bản thuyết minh có gặp
sử
Cờ loài
treocây
độcchúng
lập, nền
bình tôi
quyền:
vớiTiên,
người dân
dụng một số biện pháp nghệ thuật:bó thân
Làmthiết
cho với
conlàng
cháuquê,
Rồng,
ViệtDân
Nam.
Họ
nhà
lúa
khôngcủa
chỉ là
nguồn
ta
giữ
lấy
lợi
quyền
ta.
+ Biện pháp nghệ thuật: nhân hóa,
sống,
đem lại những giá trị vật chất nuôi
………..
so sánh, tự thuật, …
sống con người mà chúng tôi còn là
Hình
diễn ca.
Làm nổi bật đặc điểm của đối tượng
người
bạnthức
tâm giao,
cùng sẻ chia những
thuyết minh, gây hứng thú cho người
vui buồn, ước vọng của người nông dân
đọc.
Việt Nam.
Tự thuật.
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Tìm hiểu việc sử dụng một số Bài tập 1 (SGK/13, 14).
biện pháp nghệ thuật trong văn
bản thuyết minh:
1. Ôn tập văn thuyết minh
2. Viết văn bản thuyết minh có sử
dụng một số biện pháp nghệ thuật:
+ Biện pháp nghệ thuật: nhân hóa,
so sánh, tự thuật, …
Làm nổi bật đặc điểm của đối tượng
thuyết minh, gây hứng thú cho người
đọc.
Ghi nhớ : SGK/13
II. Luyện tập:
Bài tập 1 (SGK/13, 14).
a. Văn bản trên thực chất là một bài văn thuyết minh, cung cấp tri thức về
loài ruồi.
- Tính chất thuyết minh thể hiện ở những điểm sau:
+ Giới thiệu những đặc tính chung về họ, giống loài, các tập tính sinh
sống: Con là Ruồi xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh mắt lưới. Họ hàng
con rất đông, gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm…; Nơi ở là nhà vệ
sinh,…; Bên ngoài con ruồi mang 6 triệu vi khuẩn,…
+ Giới thiệu những đặc tính sinh sản: Một đôi ruồi, trong một mùa sinh
ra 19 triệu tỉ con ruồi…
+ Giới thiệu những đặc điểm cơ thể: mắt ruồi như mắt lưới,… chứa
hàng triệu mắt nhỏ; chân ruồi có thể tiết ra chất dính
+ Biện pháp giữ vệ sinh, phòng bệnh: Con người phải thường xuyên đậy
điệm thức ăn,…
- Những phương pháp thuyết minh:
+ Phương pháp nêu định nghĩa: Con là Ruồi xanh, thuộc họ côn trùng
hai cánh mắt lưới.
+ Phương pháp liệt kê (nêu các đặc điểm về giống loài, sinh sản, cơ thể,
cách gây bệnh)
+ Phương pháp dùng số liệu: Bên ngoài con ruồi mang 6 triệu vi
khuẩn, trong ruột chứa đến 28 triệu vi khuẩn, 19 triệu tỉ con ruồi.
+ Phương pháp phân loại.
b. Văn bản thuyết minh này có nét đặc biệt:
+ Hình thức: giống như văn bản tường thuật một phiên toà.
+ Cấu trúc: giống biên bản một cuộc tranh luận về mặt pháp lí.
+ Nội dung: giống như câu chuyện kể về loài ruồi.
+ Những biện pháp nghệ thuật: Bên cạnh các phương pháp thuyết minh,
văn bản thuyết minh được trình bày như một văn bản tường thuật một
phiên toà và có sử dụng biện pháp nghệ thuật kể chuyện, miêu tả, ẩn dụ,
nhân hoá...
c. Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh khiến cho văn
bản sinh động, hấp dẫn, thú vị, gây hứng thú cho người đọc.
Bài tập 2 (SGK/14). Đọc đoạn văn sau và nêu nhận xét về biện
pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh.
Bà thường kể cho tôi nghe rằng chim cú kêu là có ma tới. Tôi
hỏi vì sao bà giải thích: “Thế cháu không nghe tiếng cú kêu thường
vọng từ bãi tha ma đến hay sao?”. Sau này học môn Sinh học tôi mới
biết là không phải như vậy. Chim cú là loài chim ăn thịt, thường ăn
thịt lũ chuột đồng, kẻ phá hoại mùa màng. Chim cú là giống vật có lợi,
là bạn của nhà nông. Sở dĩ chim cú thường lui tới bãi tha ma là vì ở đó
có lũ chuột đồng đào hang, bây giờ mỗi lần nghe tiếng chim cú, tôi
chẳng những không sợ mà còn vui vì biết rằng người bạn của nhà
nông đang hoạt động.
Đoạn văn này nhằm nói về tập tính của chim cú dưới dạng một
ngộ nhận (định kiến) thời thơ ấu, sau lớn lên đi học mới có dịp để
nhận thức lại sự nhầm lẫn cũ.
Biện pháp nghệ thuật ở đây chính là lấy ngộ nhận hồi nhỏ làm đầu
mối câu chuyện.
VẬN DỤNG
Đề bài: Viết một đoạn văn thuyết minh với chủ đề tự chọn, trong đó
có sử dụng một hoặc một số biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hóa,
tưởng tượng, kể chuyện,…)
Tre là loại cây thân gỗ, cao vút, thân nhỏ khoảng bằng cánh tay người
trưởng thành. Xung quanh thân cây có những chiếc gai nhọn, sắc. Tre
thường mọc cành và lá ở phần ngọn, lá tre xanh xanh, thon thon như
chiếc thuyền nan. Trên lá có những đường gân song song trông rất duyên
dáng. Tre già măng mọc, cứ như thế tre luôn sinh sôi phát triển. Cây tre đã
gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân
mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phải ngẫu nhiên sự tích loại tre
thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng. Hình ảnh
Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Ân đã trở thành biểu tượng
cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm
lược lớn mạnh. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, lũy tre xanh đã trở thành
“pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng
hóa. Tre trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn
công trong các cuộc chiến. Những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền
đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc
đánh đuổi quân xâm lược để giành độc lập, tự do cho Tổ Quốc. “Tre giữ làng,
giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”. Tre thật đẹp, thật có ích.
Tre là biểu tượng không thể phai đổi, không thể mất đi, tre già măng mọc, thế
hệ này sẽ tiếp nối nhựa sống của thế hệ kia, sẽ còn mãi đến mai sau.
1. Đối với bài học ở tiết học này:
- Văn bản thuyết minh và các phương pháp thuyết minh
thường dùng .
- Vai trò của các biện pháp nghệ thuật trong bài văn thuyết
minh.
2. Đối với bài học ở tiết học tiếp theo:
- Chuẩn bị bài mới: Luyện tập sử dụng một số biện pháp
nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.
- Cách làm bài thuyết minh về một thứ đồ dùng (cái quạt,
cái bút, cái kéo,...).
- Nắm được cách sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
trong văn bản thuyết minh.
- Tác dụng của một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản
thuyết minh.
 







Các ý kiến mới nhất