Tìm kiếm Bài giảng
TUẦN 22-T2. LTVC-LTCác vế của câu ghép

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lai Thi Sen
Ngày gửi: 10h:48' 31-01-2026
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Lai Thi Sen
Ngày gửi: 10h:48' 31-01-2026
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
• Các vế của câu ghép được nối trực
tiếp với nhau.
• Các vế của câu ghép được nối với
nhau bằng một kết từ.
• Các vế của câu ghép được nối với
nhau bằng một cặp kết từ.
• Các vế của câu ghép được nối với
nhau bằng một cặp từ hô ứng.
1. Tìm câu ghép trong các đoạn văn dưới đây và cho biết các
vế của mỗi câu ghép được nối với nhau bằng cách nào.
a. (1) Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng, nhưng làng người Mông ở chơ
vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông. (2) Vách và mái nhà đều ghép bằng
những miếng gỗ pơ-mu, nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền
với trời xanh. (3) Xung quanh nhà nào cũng sum se những đào, những lê. (4) Giữa
mùa đông, hoa lê trắng ngần. (5) Vào đầu xuân, hoa đào nở hồng cả trời.
(Tô Hoài)
b. (1) Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. (2) Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run
lên bần bật. (3) Mưa phùn lất phất... (4) Bên gốc đa, một chú thỏ bước ra, tay cầm một tấm
vải dệt bằng rong. (5) Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị
gió lật tung, bay đi vun vút. (6) Thỏ đuổi theo. (7) Tấm vải tròng trành trên ao.
(8)
Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co chân lên. (9) Thỏ cố khều nhưng đưa chân
không tới.
(Võ Quảng)
HOÀN THÀNH PHIẾU HỌC TẬP
CÂU GHÉP
Đoạn a Câu số 1
Câu số 2
Đoạn b Câu số 4
Câu số 5
CÁCH NỐI CÁC VẾ CÂU GHÉP
Hai vế câu Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng và làng
người Mông ở chơ vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông nối
với nhau bằng kết từ nhưng.
Hai vế câu Vách và mái nhà đều ghép bằng những miếng gỗ pơmu và nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền với
trời xanh được nối trực tiếp với nhau bằng dấu phẩy.
Hai vế câu Bên gốc đa, một chú thỏ bước ra và tay cầm một
tấm vải dệt bằng rong được nối trực tiếp với nhau bằng dấu
phẩy
Hai vế câu Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét và
tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút được nối với nhau bởi kết
từ nhưng.
2. Tìm cặp kết từ hoặc cặp từ hô ứng thay cho bông
hoa để tạo câu ghép.
a. Nếu em có một khu vườn rộng thì em sẽ trồng
thật nhiều loại cây.
b. Vì thành phố này không sầm uất, hiện đại nên nó
rất hấp dẫn du khách.
c. Mọi người càng đối xử tốt với nhau thì cuộc
sống càng tốt đẹp hơn.
3. Viết đoạn văn (3 – 5 câu) về bài thơ Đoàn thuyền
đánh cá, trong đó có câu ghép chứa kết từ để nối
các vế câu.
Đoàn thuyền đánh cá cứ thế nối đuôi nhau,
ngày ngày tiến ra khơi. Có lẽ những người thợ
thuyền cá luôn yêu đời và say nghề bởi họ
hiểu không còn một nghề nào, không còn một
công việc nào đem lại cho họ cuộc sống tốt
như nghề cá. Cứ mỗi lần quăng lưới là lại mỗi
lần nuôi hi vọng về một mẻ cá đầy ắp. Chừng
nào còn thấy những đoàn thuyền rong ruổi,
đuổi nhau trên miền biển thì chừng ấy ta còn
biết tiềm năng của biển, sức mạnh kinh tế
mà Việt Nam ta có lớn tới nhường nào.
tiếp với nhau.
• Các vế của câu ghép được nối với
nhau bằng một kết từ.
• Các vế của câu ghép được nối với
nhau bằng một cặp kết từ.
• Các vế của câu ghép được nối với
nhau bằng một cặp từ hô ứng.
1. Tìm câu ghép trong các đoạn văn dưới đây và cho biết các
vế của mỗi câu ghép được nối với nhau bằng cách nào.
a. (1) Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng, nhưng làng người Mông ở chơ
vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông. (2) Vách và mái nhà đều ghép bằng
những miếng gỗ pơ-mu, nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền
với trời xanh. (3) Xung quanh nhà nào cũng sum se những đào, những lê. (4) Giữa
mùa đông, hoa lê trắng ngần. (5) Vào đầu xuân, hoa đào nở hồng cả trời.
(Tô Hoài)
b. (1) Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. (2) Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run
lên bần bật. (3) Mưa phùn lất phất... (4) Bên gốc đa, một chú thỏ bước ra, tay cầm một tấm
vải dệt bằng rong. (5) Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị
gió lật tung, bay đi vun vút. (6) Thỏ đuổi theo. (7) Tấm vải tròng trành trên ao.
(8)
Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co chân lên. (9) Thỏ cố khều nhưng đưa chân
không tới.
(Võ Quảng)
HOÀN THÀNH PHIẾU HỌC TẬP
CÂU GHÉP
Đoạn a Câu số 1
Câu số 2
Đoạn b Câu số 4
Câu số 5
CÁCH NỐI CÁC VẾ CÂU GHÉP
Hai vế câu Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng và làng
người Mông ở chơ vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông nối
với nhau bằng kết từ nhưng.
Hai vế câu Vách và mái nhà đều ghép bằng những miếng gỗ pơmu và nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền với
trời xanh được nối trực tiếp với nhau bằng dấu phẩy.
Hai vế câu Bên gốc đa, một chú thỏ bước ra và tay cầm một
tấm vải dệt bằng rong được nối trực tiếp với nhau bằng dấu
phẩy
Hai vế câu Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét và
tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút được nối với nhau bởi kết
từ nhưng.
2. Tìm cặp kết từ hoặc cặp từ hô ứng thay cho bông
hoa để tạo câu ghép.
a. Nếu em có một khu vườn rộng thì em sẽ trồng
thật nhiều loại cây.
b. Vì thành phố này không sầm uất, hiện đại nên nó
rất hấp dẫn du khách.
c. Mọi người càng đối xử tốt với nhau thì cuộc
sống càng tốt đẹp hơn.
3. Viết đoạn văn (3 – 5 câu) về bài thơ Đoàn thuyền
đánh cá, trong đó có câu ghép chứa kết từ để nối
các vế câu.
Đoàn thuyền đánh cá cứ thế nối đuôi nhau,
ngày ngày tiến ra khơi. Có lẽ những người thợ
thuyền cá luôn yêu đời và say nghề bởi họ
hiểu không còn một nghề nào, không còn một
công việc nào đem lại cho họ cuộc sống tốt
như nghề cá. Cứ mỗi lần quăng lưới là lại mỗi
lần nuôi hi vọng về một mẻ cá đầy ắp. Chừng
nào còn thấy những đoàn thuyền rong ruổi,
đuổi nhau trên miền biển thì chừng ấy ta còn
biết tiềm năng của biển, sức mạnh kinh tế
mà Việt Nam ta có lớn tới nhường nào.
 









Các ý kiến mới nhất