Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tác Động Của Con Người Đến Môi Trường

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Như Ý
Ngày gửi: 13h:15' 27-08-2010
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 409
Số lượt thích: 0 người




MÔN: MÔI TRƯỜNG
BÀI TẬP
GVHD: Nguyễn Lan Phương
SVTH :
Đỗ Như Ý
Nguyễn Hoàng Nhật
Lớp 07C4B
Lớp 07X3D
CHỦ ĐỀ: TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN MÔI TRƯỜNG
NHÓM : 55B
ĐÀ NẴNG - 2009
Từ buổi đầu xuất hiện, con người đã tác động vào môi trường xung quanh để sống. Con người đã trở thành kẽ độc tôn chiếm đoạt nguồn lương thực và tài nguyên có thể khai thác được, trong khi chính bản thân con người chẳng đóng vai trò đáng kể gì trong quá trình chuyển hóa vật chất mà cuộc sống đòi hỏi.
Ngày nay con người đã làm chủ hành tinh sinh sống ở những hệ sinh thái khác nhau về điều kiện tự nhiên. Nhân tố xã hội, bằng tiến bộ công nghệ, đã tác động làm cho hiệu lực chọn lọc tự nhiên giảm đến mức thấp nhất. Các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển sang hệ sinh thái nhân tạo hoặc bị tác động của con người. Với sự gia tăng dân số hiện nay và những nhu cầu của nó, với sự tiến bộ của nền văn minh vật chất, tổng năng lượng, số loại và khối lượng vật chất mà con người rút ra từ thiên nhiên thì hoàn lại cho thiên nhiên dưới dạng chất thải, đều không ngừng tăng lên.
Trong khuôn khổ của cách mạng khoa học kĩ thuật, của quá trình công nghiệp và đô thị hóa nhanh chóng tác động của xã hội loài người đối với môi trường đạt đến một cường độ và quy mô chưa từng thấy, với xu hướng ngày một mạnh mẽ, những hoạt động phá hoại môi trường không kiểm soát được đã gây ra cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường và làm mất cân bằng sinh thái trong hệ tự nhiên. Các hoạt động chính làm ảnh hưởng đến môi trường có thể phân ra như sau:
A- Khai thác tài nguyên thiên nhiên
Ngày nay, sức sản xuất tăng lên đáng kể do sự phát triển dân số và do những thành tựu của cách mạng khoa học kĩ thuật làm tăng năng xuất lao động. Con người đã khai thác tài nguyên với một cường độ rất lớn đã làm cho các tài nguyên cạn kiệt đến mức báo động. Các chu trìng vật chất trong tự nhiên bị phá hủy, nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị mất ổn định, cấu trúc vật lý sinh quyển bị thay đổi.
Việc khai thác gỗ và các loại sinh vật của rừng dẫn đến việc tàn phá rừng, thay đổi cấu trúc thảm thực vật, nhiều động thực vật không còn nơi sinh sống cũng bị tiêu diệt, nhiều loài đã bị diệt vong.
Một cây cổ thụ chỉ con trơ lại gốc
Hình ảnh rừng bị tàn phá
Một loạt hậu quả tiếp theo do việc khai thác rừng tạo nên đối với môi trường và sinh quyển như thay đổi chế độ và chu trình chất khí, hàm lượng C0 tăng và 0 giảm, nhiệt độ không khí cũng có xu hướng tăng theo, hiện tượng xói mòn và cuốn trôi đất làm độ màu mỡ của đất rừng bị giảm, nước nguồn bị nhiễm bẩn phù sa, chế độ dòng chảy của sông ngoài thay đổi. Việc khai thác rừng đã làm mất 2 triệu ha rừng/năm.
2
2
Các ngành công nghiệp khai khoáng, khai thác dầu mỏ đã đưa một lượng lớn phế thải, các chất độc hại…từ trong lòng đất vào sinh quyển. Các loại nước chứa axit, phenol…của quá trình khai mỏ xả vào nguồn nước mặt, gây ô nhiễm và phá hủy sự cân băng sinh thái. Mặt khác cấu trúc địa tầng và thảm thực vật khu khai thác mỏ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và các hoạt động xã hội kinh tế của con người.
Việc xây dựng đê , đập, hồ chứa để khai thác nguồn thủy năng cũng có những tác hại nhất định đối với môi trường như cản trở duy chuyển của cá từ hạ lưu về thượng lưu trong mùa đẻ trứng, thay đổi độ bền vững của đất, gây ngập lụt và khí hậu vùng hồ chứa.
Hồ chứa nước cửa đạt
Hồ chứa nước cửa đạt
Đập akosombo (ghana- nam phi)
B- Sử dụng hóa chất
Con người đã sử dụng một lượng lớn hóa chất trong hoạt động xã hội kinh tế của mình. Trong nông nghiệp sử dụng phân bón hóa học với mục đích canh tác, tăng năng suất cây trồng nhưng mặt trái của nó là làm ô nhiễm đất do độ không trong sạch và làm ô nhiễm nguồn nướcdo tăng độ phì dưỡng bởi các nguyên tố N, P…
Các loai thuốc trừ sâu, diệt cỏ hiện nay là các chất bền vững dễ bị hấp thụ vào cấu tử của đất, phá hủy cây trồng và xâm nhập vào chuỗi dinh dưỡng, cản trở hoạt động sống của nhiều sinh vật.
Các hóa chất sử dụng trong công nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác thoát vào môi trường dưới dạng phế thải. Nhiềuchất trong đó như xianua, chì, đồng, thủy ngân, phenol…là những chất độc hại đối với con người và nhiều loại sinh vật khác.
Những chất phóng xạ xuất phát từ nổ bom hạt nhân hoặc những chất thải bỏ phóng xạ lỏng hay rắn phát ra từ những trung tâm công nghiệp hay nghiên cứu khoa học có thể lắng xuống mặt đất, tích tụ ở đó hay lan truyền trong không khí, có thể gây nguy cơ độc hại đối với người, động vật và thực vật.
C- Sử dụng nhiên liệu
Trong hoạt đọng sống của mình con người sử dụng nhiều loại nhiên liệu khác nhau như: than củi, dầu mỏ, khí đốt…Hàng năm trên trái đất đốt 10 tỷ tấn than quy ước, giải phóng 4.10 Kcal nhiệt và 30 tỷ tấn C02.
Đốt nhiên liệu được xem như đốt nóng trực tiếp sinh quyển vì phần nhiệt phán tán vào môi trường rất lớn, gây ra sự thay đổi chế độ vi khí hậu khu vực. Nguy hiểm nhất là hàm lượng C02, N0, N02, S02… trong khí quyển tăng lên.
16
Theo Machta và Olson (1970) hàng năm C02 sẽ tăng 0.2% và nhiệt độ không khí gần mặt đất sẽ tăng lên do hiệu ứng nhà kính. Trong khoảng từ năm 1885 đến 1940, nhiệt độ trung bình năm của mặt đất tăng lên 0.5 độ. Sau năm 1940 thì độ tăng nhiệt độ ở mặt đất có chậm hơn nhưng riêng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ thì nhiệt độ ở mặt đất vẫn tiếp tục tăng. Từ 1940 đến 1980 tăng khoảng 0.11 độ.
Theo tài liệu khí hậu quốc tế trong vòng 134 năm gần đây nhiệt độ trái đất tăng lên gần 0.4 độ. Ba năm nóng nhất là 1980, 1981,1982.
Hội thảo khí hậu học ở châu âu gần đây dự báo năm 2050 nhiệt độ trái đất sẽ tăng thêm 1.5-4.5 độ nếu không có biện pháp ngăn chặn hiệu ứng nhà kính.
Phần lớn S02 được sản sinh ra do quá trình đốt cháy than đá (67%) và dầu mỏ (12%) …là nguyên nhân của mưa axit làm chua hóa thiên nhiên, hủy diệt rừng và mùa màng, làm gỉ nhà cửa công trình, gây nguy hại cho sinh vật, hủy diệt sự sống của hệ thủy sinh.
Ngoài ra N0, N02 cùng một số chất khác còn gây hiện tượng khói quang hóa, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh vật trên trái đất.
D- Tác động của đô thị hóa đến môi trường
Quá trình đô thị hóa gắn liền với lịch sử loài người. Đó là quá trình kinh tế xã hội, nhân khẩu và địa lý đa diện, diễn ra trên cơ sở phân công lao động xã hội và phân công lao động theo lãnh thổ đã hình thành trong lịch sử.
Kể từ TK 18, từ sau khi xuất hiện máy hơi nước ở Anh vào cuối TK 17 được xem là khởi điểm của cách mạng công nghiệp. Trong khi đó, đô thị, điểm khởi đầu của đô thị hóa đã xuất hiện những 4000-5000 năm trước công nguyên.
Một số yếu tố được xem như yếu tố đặc thù nhất là mức độ tập trung dân số sống trong khu vực đô thị trên toàn thế giới ngày càng phát triển nhanh chóng. Lịch sử của quá trình đô thị hóa gắng liền với sự gia tăng dân số mang tính đặc thù đó. Hiện nay thế giới có khoảng 2 tỷ người sống trong khu vực đô thị, dự báo năm 2000 có khoảng 3 tỷ và năm 2025 có khoảng 5 tỷ người sống trong khu vực đô thị. Đó là hiện tượng mang tính quy luật và lịch sử trong quá trình đô thị hóa.
Đô thị hóa nói lên khả năng phát triển vượt bậc của trí tuệ con người, cũng như sự lớn mạnh về cách mạng khoa học kĩ thuật. Thể hiện ở sự chinh phục thiên nhiên, tạo ra một môi trường nhân tạo mà không mấy lệ thuộc vào thiên nhiên. Con người đẫ chống chọi được với nắng mưa, bão táp, điều hòa khí hậu cho nơi mình ở, tạo ra những công trình phục vụ cho việc sản xuất, giải trí,cảnh quan với bất cứ sự tác động nào của thiên nhiên. Đó là mặt đáng khích lệ đối với con người. Nói như vậy không có nghĩa con người đã đạt được tất cả. Việc cải tạo thiên nhiên là nhằm tạo ra môi trường phù hợp với mình và hài hòa với thiên nhiên chứ không thể là hoàn toàn tách biệt với quy luật tự nhiên.
Chính vì thế con người đã phạm lấy một sai lầm không lấy làm nhỏ trong quá trình đô thị hóa của mình, có thể thống kê như sau:
Sự bành trướng lãnh thổ làm phá rứng, thay đổi cảnh quan, địa hình, gây hiện tượng cuốn trôi, xói mòn đất ở ngoại ô, ngập úng ở thành phố. Diện tích thảm thực vật bị thu hẹp làm khả năng điều hòa vi khí hậu khu vực đô thị bị giảm.
Việc xây dựng các công trình, nhà ở cao tầng trên nền đất, khai thác nước ngầm hoặc khai khoáng làm cho bề mặt đất bị biến dạng, cấu trúc đất thay đổi và nguyên n hân của sự sụt lún, xuất hiện khu vực đầm lầy…Mạng lưới thủy văn và nước ngầm bị xáo trộn mạnh, làm thay đổi hoàn toàn các thông số dòng chảy và độ ngấm của nước mưa. Việc phổ biến rộng rãi lớp phủ không thấm nước (đường xá, mái nhà…) , đặc các hệ thống cống ngầm, mương tiêu làm giảm rõ rệt hệ số thấm nước.
Sự đảo lộn các điều kiện tự nhiên của dòng chảy, khai thác quá mức tầng chứa nước dẫn đến hạ thấp mực nước ngầm và bị trũng. Ví dụ: ở mêhicô lún 7.6m, ở Tôkyô lún 3.4m, ở Matxcơva lún 0.3m. Việc san lấp ao hồ để xây dựng công trình làm hệ thống thủy văn đô thị thu hẹp lại.
Môi trường tự nhiên của đô thị: môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí đã chịu tải trọng chất bẩn và các tác nhân gây ô nhiễm rất lớn.
Ở những thành phố công nghiệp thì trên 50% yếu tố gây ô nhiễm không khí là do các nhà máy thải ra, sinh hoạt gia dinh 23%, giao thông 25%...Trên các đường phố lớn độ ồn có thể lên tới 80-110dB. Một lượng lớn rác thải, phế thải sinh hoạt và công nghiệp tập trung trong đất, làm nhiẽm bẩn đất và nước ngầm, nước mặt, ảnh hưởng đén tình trạng vệ sinh đô thị. Ô nhiễm nguồn nước sông hồ và nước ngầm do các loại nước thải sinh hoạt của thành phố và nước thải công nghiệp là quan trong nhất. Do môi trương bị giới hạn sự khuếch tán chất bẩn trong sông hồ yếu hơn trong không khí rất nhiều.
Phần nhiều các con sông lớn ở các nước phát triển ở châu âu hầu như không thể sử dụng để cấp nước được nữa.
Việc di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn đến thành phố, xu hướng tập trung tăng cường các chức năng sản xuất và chi phí sản xuất do việc di dân, việc chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệpvới năng xuất cao đem lại hậu quả rõ rệt cho sự phát triển nhanh chóng của các thanh phố, tăng vọt dân số đô thị.
Sự bành trướng của các thành phố và phương thức sản xuất công nghiệp có tác dụng vô cùng đa dạng và ngày càng tăng đối với môi trường xung quanh.
Đô thị hóa trở thành một trong những nhân tố chủ yếu làm biến đổi môi trường, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng lớn về diện tích xây dựng và quy hoạch, về tài nguyên thiên nhiên và thực phẩm.
Các thành phố hiện nay chỉ chiếm 0.3% diện tích đất liền nhưng đã tập trung trên 40% dân số thế giới.
E- Công nghệ nhân tạo.
Sự tiến bộ của khoa học kỹ huật tạo cho con người có khả năng khai thác thiên nhiên với tốc độ lớn. Con người ứng dụng những thành tựu khoa học của mình trong trồng trọt chăn nuôi… làm tăng nhanh chu trình vật chất dẫn đến việt phá hủy cấu trúc tự nhiên của chu trình đó. Việc sử dụng giống mới cây, trồng mới ảnh hưởng đến thành phần sinh vật, thay đổi chủng loại sinh vật và cấu trúc thảm thực vật. Việc xả Freon ( trên 1 triệu tấn/ năm) từ công nghệ nhiệt lạnh gây ra thủng tầng ôzôn.
 
Gửi ý kiến