Tuần 21. Nguyễn Trãi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Phương Mai
Ngày gửi: 09h:17' 11-01-2010
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 281
Nguồn:
Người gửi: Phạm Phương Mai
Ngày gửi: 09h:17' 11-01-2010
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 281
Số lượt thích:
0 người
NGUYỄN TRÃI
1380 – 1442
阮 廌
I. Cuộc đời
Nguyễn Trãi (1380 -1442)
Hiệu là Ức Trai (抑 齋)
Quê quán : làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây)
Gia đình : Cha : Nguyễn Ứng Long (sau đổi Nguyễn Phi Khanh), đỗ Tiến sĩ đời Trần
Mẹ : Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán
Gia đình giàu truyền thống : yêu nước và văn hóa, văn học
Thiếu thời, Nguyễn Trãi phải chịu nhiều mất mát đau thương : 5 tuổi, mẹ mất ; 10 tuổi : ông ngoại mất.
1400 : đỗ Thái học sinh, ra làm quan dưới triều Hồ
1407 : giặc Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị đưa sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi tìm đến Lê Lợi và tham gia khởi nghĩa
1428 : khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô
Nội bộ triều đình mâu thuẫn, Nguyễn Trãi bị nghi oan, bị bắt giam
1439 : được tha, xin về ở ẩn tại Côn Sơn
1440 : được Lê Thái Tông mời ra giúp nước
1442 : oan án Lệ Chi Viên, ông bị khép tội và bị “tru di tam tộc”
1464 : vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi và cho sưu tầm thơ văn của ông, tìm con cháu của ông để bổ làm quan.
Nguyễn Trãi là một bậc anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa lớn, được Liên hợp quốc công nhận là danh nhân văn hóa thế giới năm 1980
II. Sự nghiệp thơ văn
Những tác phẩm chính
2. Nguyễn Trãi – nhà văn chính luận kiệt xuất
Nội dung chủ đạo: tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân
Nghệ thuật : kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén đạt đến trình độ mẫu mực
Quân trung từ mệnh tập :
+ Gồm những thư từ gửi cho tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh
+ Thể hiện nghệ thuật viết văn luận chiến bậc thầy
“Có sức mạnh của mười vạn quân” (Phan Huy Chú)
Bình Ngô đại cáo :
+ Là bảng tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc
+ Là bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
+ Thể hiện tư tưởng nhân nghĩa chủ đạo của Nguyễn Trãi
Lại thư cho Phương Chính : “Bảo cho bày ngược tặc Phương Chính biết : Ta nghe nói danh tướng trọng danh nghĩa, khinh quyền mưu. Bọn mày quyền mưu còn chưa đủ, huống là danh nghĩa ! Trước mày gửi thư cho ta, cứ cười ta núp náu nơi rừng núi, thập thò như chuột, không dám ra nơi đồng bằng đất phẳng để đánh nhau. Nay quân ta đã đến đây, ngoài thành Nghệ An đều là chiến trường cả. Mày cho đấy là rừng núi chăng ? Là bình nguyên chăng ? Thế mà mày cứ đóng thành bền giữ như mụ già là làm sao ? Ta e rằng bọn mày không khỏi cái nhục khăn yếm vậy !”
Bình Ngô đại cáo :
“Từng nghe việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
3. Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc
Nghệ thuật :
Về thể loại : Việt hóa thơ Đường (sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn)
Về ngôn ngữ : “Nguyễn Trãi là bông hoa đầu mùa tuyệt đẹp của thơ Nôm Việt Nam” (Lê Trí Viễn)
Tư tưởng nhân nghĩa
Bản Nôm:
功 名 乑 特 合 駆 閑
冷 與 謳 之 世 議 慿
傉 喼 越 鄽 萞 夢
池 清 發 礊 秧 蓮
庫 收 風 月 苔 戈 耨
船 阻 煙 霞 裵 尾 傁
盃 固 沒 峼 忠 免 孝
砙 庄 缺 染 庄 顛
Bản dịch:
Công danh đã được hợp về nhàn
Lành dữ âu chi thế nghị khen
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Trì thanh phát cỏ ương sen
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then
Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen.
Thuật hứng (69)
Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông
(Thuật hứng – bài 2)
Lí tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là sự hòa quyện giữa nhân nghĩa với yêu nước, thương dân.
Triết lí thế sự
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Về đi sao chẳng sớm toan,
Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi ?
Muôn chung chín vạc làm gì,
Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
Đổng, Nguyên để tiếng trên đời,
Côn Sơn ca
“Phượng những tiếc cao diều hãy liệng
Hoa thường hay héo cỏ thường tươi”
(Tự thuật – bài 9)
“Bui một lòng người cực hiểm thay”
Nguyễn Trãi luôn đau với nỗi đau chung của con người khi chứng kiến cảnh đời đen bạc
Tình yêu thiên nhiên, con người, cuộc sống
??
???????
??????
???????
??????
BA TIấU
T? bộn hoi xuõn t?t l?i thờm
é?y bu?ng l? mu thõu dờm
Tỡnh thu m?t b?c phong cũn kớn
Giú noi dõu, gu?ng m? xem.
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng
(Bạch Đằng hải khẩu)
Nước biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khánh lên lầu
(Bảo kính cảnh giới – bài 26)
Khách đến chim mừng hoa xảy động
Chè tiên, nước ghín nguyệt đeo về
(Thuật hứng – bài 3)
Cây rợp chồi cành, chim kết tổ
Ao quang mấu ấu, cá nên bày
(Ngôn chí – bài 11)
Tình yêu của Nguyễn Trãi dành nhiều cho thiên nhiên, con người và cuộc sống. Thiên nhiên từ hùng vĩ tráng lệ đến dân dã, bình dị đều tạo nên những rung động thẩm mỹ tinh tế cho nhà thơ
Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha
(Ngôn chí – bài 7)
Láng giềng một áng mây nổi
Khách khứa hai ngàn núi xanh
Có thuở biếng thăm bạn cũ
Lòng thơ ngàn dặm nguyệt ba canh
(Bảo kính cảnh giới – bài 42)
Tình yêu của Nguyễn Trãi dành nhiều cho thiên nhiên, con người và cuộc sống. Thiên nhiên từ hùng vĩ tráng lệ đến dân dã, bình dị đều tạo nên những rung động thẩm mỹ tinh tế cho nhà thơ
III. Tổng kết
Về con người : Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử nhưng lại là người phải chịu oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử
Về thơ văn : đạt được nhiều thành tựu lớn trong các sáng tác chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Trãi vừa là một anh hùng vĩ đại đồng thời cũng là một con người bình dị, đời thường
Mở rộng
Ai lên ải Bắc ngày xưa ấy
Khóc tiễn cha đi mấy dặm trường …
Hôm nay biên giới mùa xuân dậy
Núi trắng hoa mơ, cờ đỏ đường
(Mục Nam quan – Tố Hữu)
Nay đọc thơ Người
Lòng ta đau xót
Thấm từng câu
Yêu nước thương dân
Tâm hồn cao khiết
Sự nghiệp muôn năm vẫn sáng ngời
(Đọc thơ Ức Trai – Sóng Hồng)
Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
(Ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê)
(Lê Thánh Tông)
1380 – 1442
阮 廌
I. Cuộc đời
Nguyễn Trãi (1380 -1442)
Hiệu là Ức Trai (抑 齋)
Quê quán : làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây)
Gia đình : Cha : Nguyễn Ứng Long (sau đổi Nguyễn Phi Khanh), đỗ Tiến sĩ đời Trần
Mẹ : Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán
Gia đình giàu truyền thống : yêu nước và văn hóa, văn học
Thiếu thời, Nguyễn Trãi phải chịu nhiều mất mát đau thương : 5 tuổi, mẹ mất ; 10 tuổi : ông ngoại mất.
1400 : đỗ Thái học sinh, ra làm quan dưới triều Hồ
1407 : giặc Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị đưa sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi tìm đến Lê Lợi và tham gia khởi nghĩa
1428 : khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô
Nội bộ triều đình mâu thuẫn, Nguyễn Trãi bị nghi oan, bị bắt giam
1439 : được tha, xin về ở ẩn tại Côn Sơn
1440 : được Lê Thái Tông mời ra giúp nước
1442 : oan án Lệ Chi Viên, ông bị khép tội và bị “tru di tam tộc”
1464 : vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi và cho sưu tầm thơ văn của ông, tìm con cháu của ông để bổ làm quan.
Nguyễn Trãi là một bậc anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa lớn, được Liên hợp quốc công nhận là danh nhân văn hóa thế giới năm 1980
II. Sự nghiệp thơ văn
Những tác phẩm chính
2. Nguyễn Trãi – nhà văn chính luận kiệt xuất
Nội dung chủ đạo: tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân
Nghệ thuật : kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén đạt đến trình độ mẫu mực
Quân trung từ mệnh tập :
+ Gồm những thư từ gửi cho tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh
+ Thể hiện nghệ thuật viết văn luận chiến bậc thầy
“Có sức mạnh của mười vạn quân” (Phan Huy Chú)
Bình Ngô đại cáo :
+ Là bảng tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc
+ Là bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
+ Thể hiện tư tưởng nhân nghĩa chủ đạo của Nguyễn Trãi
Lại thư cho Phương Chính : “Bảo cho bày ngược tặc Phương Chính biết : Ta nghe nói danh tướng trọng danh nghĩa, khinh quyền mưu. Bọn mày quyền mưu còn chưa đủ, huống là danh nghĩa ! Trước mày gửi thư cho ta, cứ cười ta núp náu nơi rừng núi, thập thò như chuột, không dám ra nơi đồng bằng đất phẳng để đánh nhau. Nay quân ta đã đến đây, ngoài thành Nghệ An đều là chiến trường cả. Mày cho đấy là rừng núi chăng ? Là bình nguyên chăng ? Thế mà mày cứ đóng thành bền giữ như mụ già là làm sao ? Ta e rằng bọn mày không khỏi cái nhục khăn yếm vậy !”
Bình Ngô đại cáo :
“Từng nghe việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
3. Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc
Nghệ thuật :
Về thể loại : Việt hóa thơ Đường (sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn)
Về ngôn ngữ : “Nguyễn Trãi là bông hoa đầu mùa tuyệt đẹp của thơ Nôm Việt Nam” (Lê Trí Viễn)
Tư tưởng nhân nghĩa
Bản Nôm:
功 名 乑 特 合 駆 閑
冷 與 謳 之 世 議 慿
傉 喼 越 鄽 萞 夢
池 清 發 礊 秧 蓮
庫 收 風 月 苔 戈 耨
船 阻 煙 霞 裵 尾 傁
盃 固 沒 峼 忠 免 孝
砙 庄 缺 染 庄 顛
Bản dịch:
Công danh đã được hợp về nhàn
Lành dữ âu chi thế nghị khen
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Trì thanh phát cỏ ương sen
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then
Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen.
Thuật hứng (69)
Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông
(Thuật hứng – bài 2)
Lí tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là sự hòa quyện giữa nhân nghĩa với yêu nước, thương dân.
Triết lí thế sự
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Về đi sao chẳng sớm toan,
Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi ?
Muôn chung chín vạc làm gì,
Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
Đổng, Nguyên để tiếng trên đời,
Côn Sơn ca
“Phượng những tiếc cao diều hãy liệng
Hoa thường hay héo cỏ thường tươi”
(Tự thuật – bài 9)
“Bui một lòng người cực hiểm thay”
Nguyễn Trãi luôn đau với nỗi đau chung của con người khi chứng kiến cảnh đời đen bạc
Tình yêu thiên nhiên, con người, cuộc sống
??
???????
??????
???????
??????
BA TIấU
T? bộn hoi xuõn t?t l?i thờm
é?y bu?ng l? mu thõu dờm
Tỡnh thu m?t b?c phong cũn kớn
Giú noi dõu, gu?ng m? xem.
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng
(Bạch Đằng hải khẩu)
Nước biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khánh lên lầu
(Bảo kính cảnh giới – bài 26)
Khách đến chim mừng hoa xảy động
Chè tiên, nước ghín nguyệt đeo về
(Thuật hứng – bài 3)
Cây rợp chồi cành, chim kết tổ
Ao quang mấu ấu, cá nên bày
(Ngôn chí – bài 11)
Tình yêu của Nguyễn Trãi dành nhiều cho thiên nhiên, con người và cuộc sống. Thiên nhiên từ hùng vĩ tráng lệ đến dân dã, bình dị đều tạo nên những rung động thẩm mỹ tinh tế cho nhà thơ
Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha
(Ngôn chí – bài 7)
Láng giềng một áng mây nổi
Khách khứa hai ngàn núi xanh
Có thuở biếng thăm bạn cũ
Lòng thơ ngàn dặm nguyệt ba canh
(Bảo kính cảnh giới – bài 42)
Tình yêu của Nguyễn Trãi dành nhiều cho thiên nhiên, con người và cuộc sống. Thiên nhiên từ hùng vĩ tráng lệ đến dân dã, bình dị đều tạo nên những rung động thẩm mỹ tinh tế cho nhà thơ
III. Tổng kết
Về con người : Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử nhưng lại là người phải chịu oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử
Về thơ văn : đạt được nhiều thành tựu lớn trong các sáng tác chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Trãi vừa là một anh hùng vĩ đại đồng thời cũng là một con người bình dị, đời thường
Mở rộng
Ai lên ải Bắc ngày xưa ấy
Khóc tiễn cha đi mấy dặm trường …
Hôm nay biên giới mùa xuân dậy
Núi trắng hoa mơ, cờ đỏ đường
(Mục Nam quan – Tố Hữu)
Nay đọc thơ Người
Lòng ta đau xót
Thấm từng câu
Yêu nước thương dân
Tâm hồn cao khiết
Sự nghiệp muôn năm vẫn sáng ngời
(Đọc thơ Ức Trai – Sóng Hồng)
Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
(Ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê)
(Lê Thánh Tông)
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất