Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TAI LIEU GIAO DUC SUC KHOE SINH SAN

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Ngọc Hùng
Ngày gửi: 16h:31' 07-12-2012
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 171
Số lượt thích: 0 người
SỨC KHỎE SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN
Đặc điểm chung
Vị thành niên từ 10-19 tuổi
Giai đoạn VTN sớm: 10-13 tuổi;
Giai đoạn VTN giữa: 14-16 tuổi;
Giai đoạn VTN muộn : 17-19 tuổi
- Tuổi VTN là thời kỳ phát triển đặc biệt trong đó trẻ em lớn lên trưởng thành và trở thành người lớn, đồng thời xảy ra nhiều thay đổi:
- Sự lớn lên và trưởng thành của cơ thể.
- Sự thay đổi về tâm lý và các mối quan hệ xã hội.
Đặc điểm biến đổi của giai đoạn VTN sớm
Là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ thơ sang tuổi trưởng thành, giai đoạn chuyển biến cơ thể, tâm lý, tình cảm.
Sự trưởng thành về tâm lý là cả một quá trình dài mà ai cũng phải đi qua.
Đến tuổi dậy thì, tâm lý của các bạn có nhiều biến chuyển, thể hiện trong những mối quan hệ cuộc sống, rõ nét nhất là trong quan hệ với cha mẹ, với bạn bè và các mối quan hệ xã hội.
Sinh lý:
Các cơ quan nội tiết phát triển: phát triển mạnh cơ thể, về tầm vóc (chiều cao và cân nặng).
Hệ tuần hoàn có những biểu hiện mất cân bằng: tim phát triển nhanh hơn mạch máu  tăng huyết áp tạm thời  hay bị chóng mặt, nhức đầu, chóng mặt, suy giảm sự tập trung .
Tuyến nội tiết hoạt động mạnh  mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh TƯ  quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế.
Hiện tượng dậy thì: Hócmôn sinh dục gia tăng  thay đổi ở cơ quan sinh dục, xuất hiện ham muốn tình dục (ở cả nam và nữ) thử nghiệm với bạn bè hoặc tìm thoả mãn bằng tưởng tượng và thủ dâm, bắt đầu tìm hiểu sở thích tình dục của mình.
TÓM TẮT SO SÁNH SỰ THAY ĐỔI THỂ CHẤT
TRONG THỜI KỲ DẬY THÌ
NỮ
Phát triển chiều cao, cân nặng
Ngực to ra.
Tăng tiết mồ hôi, chất nhờn.
Xuất hiện lông nách, bộ phận sinh dục.
Bắt đầu có kinh nguyệt
Cơ quan sinh dục phát triển



NAM
Phát triển chiều cao, cân nặng
Giọng nóí thay đổi, trầm
Tăng tiết mồ hôi, chất nhờn
Xuất hiện lông nách, bộ phận sinh dục.
Có hiện tượng xuất tinh
Cơ quan sinh dục phát triển



Đặc điểm biến đổi của giai đoạn VTN sớm (10 – 14 tuổi).
2. Tâm lý:
Bắt đầu ý thức được bản thân không còn là trẻ con, muốn được người lớn tôn trọng.
Luôn muốn được thể hiện cái “tôi” – sự độc lập trong suy nghĩ và hành động cũng như muốn thử sức khám phá cái mới để khẳng định mình.
Hành vi thay đổi, mang tính thử nghiệm bốc đồng.
Tách dần ra khỏi cha mẹ, chơi với bạn nhiều hơn , dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động của bạn bè cũng như của “người ngoài”.
Quan tâm nhiều đến hình dáng bên ngoài, sự thay đổi của cơ thể, có tình trạng băn khoăn, lo lắng về các nhược điểm của cơ thể.
Bắt đầu có tư duy trừu tượng.
Đặc điểm biến đổi của giai đoạn VTN giữa (14 – 17 tuổi).
Trong quan hệ bạn bè, nhất là các em trai thường muốn khẳng định sức mạnh của mình. Do vậy, chỉ cần va chạm nhỏ là có thể dẫn tới các hành vi bạo lực, đôi khi rất nguy hiểm.
Các em thường cố gắng bắt chước mẫu người lý tưởng mà các em đã tự chọn cho mình..
Mặt khác, các em thích làm những việc lớn lao, mơ ước được trở thành những con người kiệt xuất, phi thường, “siêu nhân” và rất thích thực hiện những hành động dũng cảm để chứng tỏ sức mạnh, ý chí của mình. Do đó, nhiều khi các em thực hiện những hành động mang tính chất liều lĩnh, mạo hiểm, phiêu lưu đôi khi bất chấp cả nguy hiểm cho bản thân.

Đặc điểm biến đổi của giai đoạn VTN giữa (14 – 17 tuổi).
1. Tâm lý:
Tính độc lập:
Do muốn độc lập nên hay chống đối lại bố mẹ.
Nhân cách:
- Cố gắng khẳng định như người lớn nên có hành vi bắt chước người lớn, dễ tự ái, dễ bị kích động…Thích tự quyết định. Có thể có những hành vi nông nỗi, khác thường nhưng chưa hoặc không nghĩ đến hậu quả.
Tình cảm:
- Chuẩn bị cho mối quan hệ tình yêu, bạn bè, phát triển mạnh cảm xúc yêu đương, hay có sự ngộ nhận giữa tình bạn và tình yêu, mơ mộng, có xu hướng hay thay đổi tình cảm, trạng thái cảm xúc bất thường .
- Bắt đầu mở rộng các mối quan hệ bạn bè, tập làm quen dần với cuộc sống xã hội, giao tiếp với mọi người. Bạn bè trở thành một phần quan trọng, không thể thiếu trong cuộc sống của các bạn trẻ..
Tính tích hợp: thu thập thông tin từ nhiều mối quan hệ: cha mẹ, nhà trường, gia đình, xã hội, bạn bè, sinh họat cộng đồng… tạo được giá trị bản thân, tự tin, cách ứng xử.
Trí tuệ:Trí tuệ phát triển, tích lũy kiến thức từ nhà trường, xã hội làm thay đổi suy nghĩ, thích lập luận, suy diễn, nhìn sự vật theo quan điểm lý tưởng hóa.


Đặc điểm biến đổi của giai đoạn VTN cuối/muộn (17 – 19 tuổi).
1. Tâm lý:
Khẳng định được sự độc lập,
Đã có cách tư duy, nhận xét, ứng xử, khả năng đánh giá, giải quyết vấn đề tốt hơn, chín chắn hơn.
Giảm bớt ảnh hưởng của bạn bè và môi trường xung quanh.
Chú trọng đến gia đình nhiều hơn.
Chú trọng tới mối quan hệ giữa hai người hơn là nhóm bạn.
Phân biệt được tình bạn và tình yêu cũng như thực tế hơn.
Đã định hình được kế hoạch cho tương lai và thực tế hơn – hình thành được “bản ngã” riêng.
Được xã hội công nhận là người lớn như: quyền bầu cử, có bằng lái xe...
Sinh lý:
Dễ mắc phải nhiều nguy cơ trong vấn đề quan hệ tình dục
Tóm lại: Đây là thời kỳ ngắn nhưng rất quan trọng, cha mẹ cần quan tâm, hỗ trợ cùng giúp các em vuợt qua
Bài tập
Ai chưa từng và ai đã từng nói chuyện với con về giới tính và SKSS?
Bài tập
nhóm chưa từng: tại sao bạn chưa nói với con về giới tính và SKSS? Bạn có ý định nói không? Bao giờ? Có khó khăn gì?
nhóm đã từng: bạn đã nói với con về giới tính và SKSS khi nào? Tại sao? Bạn bắt đầu như thế nào? bạn gặp khó khăn gì khi bắt đầu?
MỘT SỐ CÁCH ĐỂ CÓ THỂ BẮT ĐẦU TRÒ CHUYỆN VỚI CON
Cách bắt đầu trò chuyện với con
Càng sớm càng tốt: ở bất kỳ lứa tuổi nào,đặc biệt là trò chuyện với con vào thời kì tiền dậy thì sẽ giúp cha mẹ duy trì mối quan hệ thân thiết với con.
Tiếp tục trao đổi thường xuyên: dành một khoảng thời gian nhất định trong ngày hay trong tuần để trò chuyện với con, hoặc khi bạn và con cùng đọc một bài báo, tờ rơi hay xem TV, v.v… tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của từng gia đình.
Cách bắt đầu trò chuyện với con
Tạo sự riêng tư và thoải mái: Câu chuyện sẽ tiến triển tốt và hiệu quả khi chỉ có cha mẹ và con, không có những người khác xen vào.
Đừng lo lắng nếu chúng ta không biết tất cả mọi thứ: tránh hoặc dừng trao đổi với con cái về những vấn đề này nếu cha mẹ chưa hiểu rõ, trả lời làm sao để khuyến khích trẻ tiếp tục trao đổi về chủ đề đã gợi ra.
Tránh làm con thẹn thùng và e sợ về giới tính và các mối quan hệ: điều này sẽ khiến trẻ cảm thấy chuyện đó có gì mờ ám, kích thích tính tò mò và không thoải mái chia sẻ với cha mẹ.
Kỹ năng duy trì giao tiếp với trẻ em
Tạm dừng những việc đang làm nếu thấy con có vẻ muốn nói, nhất là chuyện quan trọng muốn nói với bạn.
Lắng nghe chăm chú, đừng ngắt lời khi con đang cố gắng kể về vấn đề của mình. Tỏ ra lịch sự, tôn trọng con.
Khen ngợi con đã dũng cảm nói chuyện với bạn.
Cố gắng trở thành “bạn” của con sẽ khiến con cởi mở và tin cậy trò chuyện với bạn nhiều hơn.
Không nên cố gắng nói chuyện với con nếu bạn cảm thấy bực tức, nóng giận, không hài lòng về thái độ và cách xư xử của con.
Kỹ năng duy trì giao tiếp với trẻ em
Đừng sử dụng những từ ngữ làm con xấu hổ hay chê bai làm con bẽ mặt như “ngốc nghếch, trẻ con, v.v…” – làm vậy nhiều khi sẽ chỉ dẫn đến sự xấu hổ, tức giận và chống đối.
Trong quá trình trò chuyện, nên sử dụng những từ động viên, ca ngợi và cử chỉ thân thiện như gật đầu, tìm ra mặt tích cực...
Tuy nhiên, việc đưa ra những phản hồi tích cực khó hơn rất nhiều so với những phản hồi tiêu cực.
Bài tập
nhóm chưa từng: tại sao bạn chưa nói với con về giới tính và SKSS? Bạn có ý định nói không? Bao giờ? Có khó khăn gì?
nhóm đã từng: bạn đã nói với con về giới tính và SKSS khi nào? Tại sao? Bạn bắt đầu như thế nào? bạn gặp khó khăn gì khi bắt đầu?
CÁC VẤN ĐỀ SKSSVTN
CẦN LƯU Ý

1) quan hệ tình dục sớm
2) có thai ngoài ý muốn
3) mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
4) sử dụng ma túy hay hút thuốc lá
5) Lạm dụng tình dục
Tình trạng quan hệ tình dục sớm
Theo nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2004), tỷ lệ học sinh có quan hệ tình dục tính chung cho nam và nữ là 8,17% trong đó nam gấp 2,6 lần nữ.
Theo điều tra quốc gia về VTN-TN Việt nam (2005), 7,6% cho biết đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm có khoảng > 100.000 ca phá thai, tỷ lệ phá thai cao nhất cả nước trong đó, tỷ lệ phá thai ở trẻ dưới 18 tuổi :
2006: 750 (0,85 %)
2007: 2235 ( 2,01%)
2008 : 2499 (2,15%)
2009 : 2423 (2,42%)
Vậy điều gì đã dẫn đến thực trạng các bạn gái trẻ mang thai ngoài ý muốn và phá thai nhiều như vậy
Nhận thức về sức khỏe sinh sản, hiểu biết về chu kỳ kinh nguyệt, nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai chưa cao…
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Hương trên các nữ VTN phá thai to tại bệnh viện Từ Dũ cho thấy các lý do xin phá thai chính:
- Do bạn tình ép buộc (30%)
- Do gia đình ép buộc (80%).
- Chưa có điều kiện nuôi con (76%).
- Còn đi học (37%).
- Không biết thời điểm dễ mang thai nhất (61%),
- Không biết về biện pháp tránh thai (50%).
Tình hình phá thai ở VTN tại TP.HCM
(Nguồn: Báo cáo năm của Trung tâm CSSKSS TPHCM)
Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm có khoảng > 100.000 ca phá thai, tỷ lệ phá thai cao nhất cả nước trong đó, tỷ lệ phá thai ở trẻ dưới 18 tuổi :
2006: 750 (0,85 %)
2007: 2235 ( 2,01%)
2008 : 2499 (2,15%)
2009 : 2423 (2,42%)
TÌNH HÌNH HIV/AIDS, VIỆT NAM
Theo Bộ Y tế, tính đến tháng 6/2010:

Số nhiễm HIV hiện còn sống: 176.436
Số bệnh nhân AIDS : 41.239
Số nhiễm HIV đã tử vong : 47.466
Một số nhu cầu cơ bản của VTN
Được an toàn
Được yêu thương
Được tôn trọng
Được hiểu, thông cảm
Có giá trị
Một số nhu cầu cơ bản của VTN
Thái độ, hành vi của cha mẹ, thầy cô làm cho VTN cảm
thấy được An toàn.
Giúp VTN phân biệt đúng sai, nếu có sai lầm là bài học có ích để giúp sửa chữa, học tập.
Làm cho VTN hiểu rằng không ai có quyền làm tổn thương người khác, ai cũng có quyền được bảo vệ.
Chia sẻ, thông cảm trong thảo luận với VTN để giúp đưa ra quyết định tốt hơn.
Kiên định về các chuẩn mực trong cư xử, xử lý một cách công bằng trong mọi tình huống.
Một số nhu cầu cơ bản của VTN (tiếp)
Yêu thương:
Tạo ra môi trường thân thiện để VTN có thể biểu lộ, thể hiện bản thân và cảm thấy được yêu thương vì được là chính mình.
Cần nhẹ nhàng, ân cần, dịu dàng, thân mật, gần gũi; lắng nghe và tôn trọng ý kiến của VTN
Động viên, giúp đỡ, độ lượng, vị tha; thể hiện sự quan tâm và công nhận phẩm chất tốt đẹp của VTN.
Công bằng, không phân biệt đối xử.
Một số nhu cầu cơ bản của VTN
Hiểu, thông cảm:
Luôn lắng nghe. Tạo điều kiện cho VTN được bộc lộ, bày tỏ ý nghĩ, cảm xúc, quan điểm bản thân.
Cởi mở, tạo cho VTN có cơ hội, điều kiện được chấp nhận.
Trả lời câu hỏi một cách rõ ràng và tích cực.
Hiểu đặc điểm tâm lý của VTN qua các giai đoạn phát triển.
Một số nhu cầu cơ bản của VTN
Tôn trọng:
Lắng nghe một cách quan tâm, chăm chú. Theo dõi cảm xúc diễn biến tâm lý để có cách ứng xử phù hợp.
Cùng VTN xây dựng nội quy/nguyên tắc cho các hoạt động.
Bình tĩnh khi VTN vi phạm nội quy/nguyên tắc.
Tạo bầu không khí tôn trọng (qua âm điệu, giọng nói hài hoà, khích lệ, kiên quyết, nghiêm khắc…).
Một số nhu cầu cơ bản của trẻ (tiếp)
Có giá trị:
Lắng nghe trẻ nói và luôn tiếp nhận ý kiến của trẻ và hưởng ứng ý tưởng hợp lý của trẻ.
Tạo cơ hội để trẻ bộc lộ khả năng của mình.
Nếu trẻ có lỗi, thì nên chú ý đến hành vi mà không đồng nhất với nhân cách trẻ. Ví dụ: trẻ mải chơi làm vỡ lọ hoa thì không nên mắng trẻ “hậu đậu, không làm nên trò trống gì…”
No_avatar

dung vay

 
Gửi ý kiến