Tìm kiếm Bài giảng
Bài 7: Thế giới cổ tích - Đọc: Cây khế.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn thị thùy linh
Ngày gửi: 21h:41' 23-07-2025
Dung lượng: 22.0 MB
Số lượt tải: 107
Nguồn:
Người gửi: nguyễn thị thùy linh
Ngày gửi: 21h:41' 23-07-2025
Dung lượng: 22.0 MB
Số lượt tải: 107
Số lượt thích:
0 người
🎯MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau bài học, học sinh có thể:
-Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện cổ tích "Cây khế".
-Nhận biết các đặc trưng của truyện cổ tích (nhân vật, yếu tố kỳ ảo, kết thúc có hậu…).
-Biết kể lại truyện và rút ra bài học đạo đức.
-Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, tóm tắt, phân tích nhân vật và chi tiết truyện.
Cây khế
Ngày xửa ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm. Hai anh em chăm lo làm lụng nên trong nhà cũng đủ ăn. Nhưng từ khi cưới vợ, người anh sinh ra lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc
đều trút cho vợ chồng em. Hai vợ chồng người em thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm lụng. Thấy thế người anh sợ em tranh công, liền bàn với em chia nhà cửa để ở riêng.
Người anh chia cho em được một gian nhà lụp xụp ở trước cửa có một cây khế ngọt. Còn người anh có bao nhiêu ruộng cho làm rẽ(*) rồi về ngồi hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ta thán(2), lại lo cho
là đần độn và bị lừa vì em không nói.
Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là những ngày khế chín. Quanh năm hai vợ chồng chăm chỉ cheo chắt cho cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lỉu sai, thật là, trái bèn cả cây thích ơi là
thích.
Một buổi sáng, hai vợ chồng ra hái khế để ăn thì bỗng nghe tiếng động rất lạ, liền thấy trên cây có tiếng rụng mạnh như có người chặt. Hai vợ chồng nhìn lên thì thấy có một con chim to lông vàng đang ăn khế
chín. Hai người dỗi con chim ăn xong liền kêu:
– Chim ơi chim! Từ đầu rồng ra một thúng rơm, sáng háng ngày chim cứ đến ăn và lúc sáng sớm làm gì với quả hấn đi.
Một hôm chim đỗ xuống ăn nữa, vợ chồng nói:
– Ông chim ơi, ông ăn như thế còn gì là khế của nhà châu nữa! Cây khế nhà châu cũng chỉ để quả rốt đấy, ông à!
Chim nói:
– Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang(*), mang đi mà đựng!
Nói rồi nó lại lặp lại lần, chim mới vỗ cánh bay đi. Hai vợ chồng nghe lời chim may một cái túi, bế đốc chờ ngày chim đến đón đi lấy vàng.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn cơm xong thì thấy gió mù mịt và một con chim rất lớn hạ xuống giữa sân, quay mặt vào nhà kêu mấy tiếng như chào hỏi. Người chồng xách túi ra, chim rạp mình xuống đất
cho anh trèo lên lưng rồi vỗ cánh bay lên. Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả… Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo toàn đá trắng, đá
xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc(1). Chim bay một vòng quanh đảo, rồi từ từ hạ xuống một cái hang.
Chim ra hiệu cho anh vào lấy gì thì lấy. Ngay cửa hang anh thấy toàn những thứ đã trong như thuỷ tinh và hồ phách(2) đủ các màu. Anh thấy hang sâu lắm, tối om, rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng,
kim cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim bay về.
Chim lại cất cánh trở về, bay qua hết biển cả đến rừng xanh, hết rừng xanh đến đồng ruộng, tới khi mặt trời đứng bóng thì chim đưa anh về đến nhà. Từ đó vợ chồng người em trở nên giàu có.
Tiếng đồn người em giàu có đến tai vợ chồng người anh. Hai vợ chồng người anh vốn chỉ chực chờ. Nghe chuyện, người anh thì thè lẻ hét đòi người em, người anh góp đổi gia sản lấy túp lều và cây khế. Người
em ưng thuận.
Hai vợ chồng người anh mừng quýnh dọn đến ở túp lều. Họ chỉ ăn và chờ ngày chim đến. Một buổi sáng, hai vợ chồng thấy lưỡng gió mạnh nổi lên và nghe một cánh khế rung chuyển. Hai người hối hả chạy ra
thì quả nhiên là một con chim lớn đang ăn khế. Họ vội tru tréo(3) lên:
– Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn rồi ăn tiệt(2) tôi thì tôi cậy vào đâu.
Chim liền đáp:
– Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!
Rồi bay vụt đi.
Hai vợ chồng cuống quýt bàn cãi may túi. Mỗi đứa hì hụi chọn những miếng túi, sau lại sợ chim không ưng, bèn chỉ mang một túi như em nhưng to gấp ba lần, thành ra như một cái tay nải(3) lớn.
Sáng hôm sau, chim đến. Người chồng tức tốc ngay lên lưng chim, còn người vợ vái lạy vái để chim thận. Chim cũng bay mãi, bay mãi hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả rồi cuối cùng cho
người anh đến cái đảo vàng giữa biển.
Trên lưng chim bước xuống, anh ta đã hoa mắt vì của quý. Vào trong hang, anh ta lại càng mê mẩn tầm mắt, quên đồ, quên khổ, chỉ chọn vàng và kim cương cho thật đầy tay nải. Tay nải đã đầy, anh ta còn lấy
thêm vàng đeo cả vào ống tay áo, ông quần đến nỗi nặng quá phải lê mãi ra khỏi hang.
Chim chờ lâu chốc chốc lại kêu lên mấy tiếng thúc giục. Mãi gần chiều anh ta mới lếch được đến chỗ chim đợi. Muốn khỏi rơi, anh ta đật tay nải dưới chân chim rồi lấy dây buộc chặt vào lưng chim và cố nính.
Chim lây đã mãi mới cất cánh nổi. Trời đã về chiều, chim còn bay được hai phần biển cả thì bỗng nổi cơn gió mạnh. Mang nặng, bay ngược chiều, yếu dần, hai cánh rủ xuống. Tay nải vàng thổn(4) bị gió hất
mạnh vào cánh chim. Chim buông vội hai cánh làm bố rơi luôn.
Trong chớp mắt, người anh đã bị ngọn sóng cuốn đi với tay nải vàng và chưa bao giờ trở về. Còn chim thì bị uốt lòng, uốt thân, chim lại vung lên bay về núi về rừng.
(Bùi Mạnh Nhị, Văn học dân gian: những tác phẩm chọn lọc)
GIẢI NGHĨA
(1) Làm rẽ: (người nghèo) nhận
đất, ruộng... để sản xuất sau đó nộp một phần sản phẩm,
TỪ
hoa lợi,... cho người chủ đất.
(2) Ta thán: than thở, than vãn.
(3) Gang (hay gang tay): khoảng cách tối đa giữa đầu ngón tay cái và đầu ngón tay giữa khi
bàn tay được căng ra, dùng làm đơn vị đo độ dài, thường khoảng 20 cm.
(1) Ngũ sắc: năm màu chính thường được dùng trong trang trí (xanh, đỏ, vàng, đen, trắng).
(2) Hổ phách: nhựa cây (thường là nhựa thông) đã hóa đá, màu vàng nhạt, trong suốt,
thường dùng làm đồ trang sức, chữa bệnh.
(3) Tru tréo: la hét rất to, để nhiều người cùng biết, cố ý ăn vạ.
(4) Ăn tiệt: ăn hết, không còn gì.
(5) Tay nải: túi vải may theo kiểu xưa, có quai, đeo, có dạng như một cái bọc, dùng để đựng
đồ đi đường.
(6) Thốt nhiên (từ cổ): bỗng, đột ngột, bất chợt.
TRẢ LỜI CÂU
HỎI
Thảo luận theo nhóm
Chữa bài trước
Chữalớp
bài trước
lớp
Câu hỏi 1.Cây khế kể về chuyện gì? Em thích nhất chi tiết nào trong truyện?
TRẢ LỜI:
- “Cây khế” kể về chuyện người em hiền lành được báo đáp xứng đáng và
người anh tham lam phải chịu kết cục thê thảm khi cùng được chim trả công
sau khi ăn khế. Đây là câu chuyện về bài học đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở
hiền sẽ gặp lành và may mắn của nhân dân.
- Em thích nhất chi tiết chim đưa người em đến đảo hoang ngoài biển với
nhiều loại đá quý, vàng bạc, kim cương lấp lánh, đủ màu sắc.
Câu hỏi 2:Hãy tóm tắt truyện Cây khế.
TRẢ LỜI:
Ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm để lại cho một khối gia tài. Vợ chồng người
anh tham lam giành hết chỉ chừa lại cho người em một gian nhà lụp xụp, trước cửa có một cây khế ngọt.
Vợ chồng người em chăm chỉ làm ăn và chăm sóc cây khế chu đáo. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng
một hôm có con chim lạ đến ăn khế. Vợ chồng người em than thở và chim lạ liền bảo người em may túi ba
gang để chim trả ơn. Hôm sau, chim đưa người em ra đảo lấy vàng và trở về. Từ đó, người em trở nên giàu
có. Người anh hay tin, lân la đến dò hỏi và đổi cả gia tài của mình để lấy túp lều cùng cây khế. Đến mùa khế
chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn. Người anh vì tham lam nên đã may túi to để dựng
được nhiều vàng. Trên đường đi lấy vàng về vì quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống biển và chết.
Câu hỏi 3: Truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ quen thuộc chỉ
thời gian quá khứ, không gian không xác định. Hãy tìm các từ ngữ đó trong
truyện Cây khế.
TRẢ LỜI:
- Từ ngữ chỉ không gian – thời gian trong truyện cổ tích “Cây khế”:
+ Thời gian: ngày xửa ngày xưa.
+ Không gian: ở một nhà kia.
- Ý nghĩa: có ý phiếm chỉ không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, nhằm đưa
người đọc vào thế giới hư cấu thuận lợi hơn.
Câu hỏi 4: Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang có phải là con vật kì ảo không? Vì
sao?
TRẢ LỜI:
- Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang là con vật kì ảo. Vì nó mang 1 số đặc điểm như:
+ Biết nói tiếng người: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng
+Có phép thần kì,biết chỗ giấu của cải,vàng bạc,kim cương,...
Câu hỏi 5: Trong lời kể của truyện cổ tích, tác giả dân gian thường xen vào
những câu có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời cổ vần dễ thuộc, dễ nhớ. Trong
truyện này, có câu nói nào như thế? Nhân vật nào đã nói câu nói đó?
TRẢ LỜI:
- Câu nói của con chim lớn: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!” là câu có vần,
dễ thuộc, dễ nhớ.
- Ngày nay, câu “ăn một quả, trả cục vàng” hay “ăn khế, trả vàng” cũng thường được nhân dân dùng để
chỉ một việc làm được trả công hậu hĩnh, có kết quả tốt đẹp.
Câu hỏi 6: Đảo xa nơi con chim đưa người em đến có điều gì kì diệu? Điều
kì diệu này đã giúp gì cho cuộc sống của người em sau đó?
TRẢ LỜI:
- Điều kì diệu ở đảo xa: trên đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc, … toàn những thứ đá
trong như thủy tinh và hổ phách đủ các màu. Có hang sâu và rộng, ngoài cửa có nhiều vàng và kim
cương.
- Điều kì diệu này đã giúp cho vợ chồng người em dần trở nên giàu có.
Câu hỏi 7: Trong truyện, hai nhân vật người anh và người em luôn đối lập
nhau về hành động. Hãy chỉ ra sự đối lập giữa họ và nêu nhận xét về đặc
điểm của hai nhân vật này. TRẢ LỜI:
Nhân vật
Hành động,Đặc điềm
Kết cục
Người anh
Người em
+ Lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc đều trút cho
vợ chồng em.
+ Chiếm hết của cải, ruộng vườn chỉ để lại cho em một
+ Thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm
gian nhà lụp xụp và 1 cây khế ngọt.
lụng.
+ Thấy chim lạ đến thì hớt hải chạy ra.
+ Không ta thán.
+ Tru tréo lên: “Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn
+ Đợi cho chim ăn xong bay đi mới lên
ráo ăn tiệt thì tôi cậy vào đâu”.
cây hái.
+ Cuống quýt bàn cãi may túi. Mới đầu định mang nhiều túi
+ Người vợ nói: “Ông chim ơi, ông ăn
nhưng sợ chim không ưng nên chỉ may 1 túi nhưng to gấp
như thế còn gì là khế của nhà cháu nữa!
3 lần
Cây khế nhà cháu cũng sắp hết quả rồi
túi của người em.
đấy, ông ạ!”
+ Người chồng tót ngay lên lưng chim còn người vợ vái lấy,
+ Nghe lời chim may một túi vải, bề dọc,
vái
bề ngang vừa đúng ba gang.
để chim thần.
+ Trèo lên lưng chim.
+ Hoa mắt vì của quý. Vào trong hang lại càng mê mẩn
+ Thấy hang sâu và rộng không dám vào
tâm thần, quên đói, quên khát, cố nhặt vàng và kim
chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài
cương cho thật đầy
rồi ra hiệu cho chim bay về.
tay nải, dồn cả vào ống tay áo, ống quần, lê mãi mới ra khỏi
hang. Đặt tay nải dưới cánh chim rồi lấy dây buộc chặt
vào lưng chim và cổ mình.
Vì mang nặng lại gặp cơn gió mạnh nên chim và người
anh đều
rơi xuống biển. Người anh bị sóng cuốn đi mất.
Chim đưa người em về đến nhà. Từ đấy,
hai vợ chồng người em trở nên giàu có.
Câu hỏi 8: Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân
gian muốn gửi gắm bài học gì trong truyện này?
TRẢ LỜI:
Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi gắm bài học:
+ Cần phải luôn chăm chỉ, cần mẫn lao động thì mới có được thành quả tốt
+ Hiền lành, tốt bụng thì sẽ được đền đáp xứng đáng.
+ Quá tham lam thì sẽ phải gánh chịu hậu quả.
+ Hãy giúp đỡ người khác khó khăn hơn mình.
Tưởng tượng một kết thúc khác cho truyện “Cây khế”. Viết đoạn văn
(khoảng 5-7 câu) kể về kết thúc đó.
Đoạn văn tham khảo:
Sau khi bị rơi xuống biển, người anh trôi dạt vào bờ. Tỉnh lại được người dân cứu giúp và
đưa trở về nhà trong tình trạng thê thảm. Từ đó, người anh hiểu ra hậu quả do thói tham lam
gây nên và sống tử tế, nhân hậu hơn. Chứng kiến người anh đã thức tỉnh, người em trai hết
lòng giúp đỡ anh vực dậy, cùng nhau chia ruộng đất, lao động cần mẫn, chăm chỉ và yêu
thương nhau hơn xưa. Thấm thoát cả hai anh em cùng trở nên khá giả. Họ đã bàn với nhau
để dành một phần riêng thóc gạo giúp đỡ những người nghèo khổ. Tiếng lành đồn xa, ai ai
cũng yêu quý hai anh em nhà ấy.
NHÓM:
Câu 1. Giải thích nghĩa của các từ ngữ in đậm trong những câu sau:
a. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lỉu
sát đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
b. Từ đó ròng rã một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm làm
quả vợi hẳn đi.
TRẢ LỜI:a. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn mởn,
quả lúc lỉu sát đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
Mơn mởn: Tả trạng thái tươi tốt, xanh non, đầy sức sống (thường dùng để miêu tả
cây cối hoặc sức sống của tuổi trẻ).
Lúc lỉu: Diễn tả quả sai, nhiều, nặng trĩu, thõng xuống (quả treo lủng lẳng trên
cành).
b. Từ đó ròng rã một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm làm
quả vợi hẳn đi.
Ròng rã: Chỉ sự kéo dài liên tục, không ngừng nghỉ trong một khoảng thời gian
(thường là dài và vất vả).
Vợi hẳn: Chỉ sự giảm đi rõ rệt về số lượng (ở đây là số quả bị chim ăn mất nhiều).
Câu 2. So sánh những lời kể về vợ chồng người em và vợ chồng người anh (khi chuẩn bị theo
chim ra đảo, khi lấy vàng bạc trên đảo) và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
a. Tìm những động từ
hoặc cụm động từ thể
hiện rõ sự khác biệt về
hành động giữa vợ chồng
người em và vợ chồng
người anh.
b. Giải thích nghĩa của
những động từ hoặc cụm
động từ tìm được ở trên.
a. Tìm những động từ hoặc cụm động từ thể hiện rõ sự khác biệt về hành động giữa vợ chồng
người em và vợ chồng người anh.
b. Giải thích nghĩa của những động từ hoặc cụm động từ tìm được ở trên.
Tót: Động từ này diễn tả hành động di chuyển đến một nơi khác một cách nhanh chóng, gọn
gàng và bất ngờ.
Cuống quýt: Trạng thái này mô tả sự vội vã, rối rít khi bị mất bình tĩnh do một tình huống bất
ngờ.
Mê mẩn tâm thần: Cụm từ này chỉ trạng thái tâm trí và tinh thần không còn tỉnh táo, hoặc quá
say mê đến mức mất kiểm soát.
Nghe lời chim: Cụm từ này có nghĩa là lắng nghe và làm theo lời chỉ dẫn của chim. Trong văn
học, "chim" có thể là một biểu tượng cho trí tuệ, sự thông thái hoặc một thế lực siêu nhiên.
Câu 3:Trong hai câu văn bạn đưa ra, biện pháp tu từ được sử dụng là phép điệp từ. Phép điệp từ là biện pháp lặp lại một từ hoặc cụm từ
nhiều lần trong câu văn nhằm nhấn mạnh, tạo nhịp điệu và tăng tính biểu cảm.
•Câu a: "Quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng niêu cơm bé xíu cứ ăn hết lại đầy." Ở đây, từ "ăn mãi" được lặp lại để nhấn mạnh sự
khó khăn, gian khổ của quân sĩ khi phải ăn uống thiếu thốn trong hoàn cảnh chiến tranh. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự kỳ lạ, phi thường của
niêu cơm "ăn hết lại đầy", mang yếu tố huyền ảo, cổ tích.
•Câu b: "Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả." Từ "bay mãi" được lặp lại
để diễn tả sự liên tục, không ngừng nghỉ của hành trình bay lượn. Nó gợi lên hình ảnh về một không gian rộng lớn, bao la mà cánh chim tự do
khám phá. Việc lặp lại cấu trúc "hết...đến..." cũng là một dạng của phép điệp, nhấn mạnh sự liên tiếp của các địa điểm mà chim bay qua.
Trả lời:
Trong văn học, việc lặp lại từ ngữ là một biện pháp tu từ phổ biến, được sử dụng để nhấn mạnh,
tạo nhịp điệu hoặc gợi cảm xúc. Hai ví dụ được đưa ra trong hình ảnh minh họa rõ điều này:
a. "ăn mãi, ăn mãi": Việc lặp lại từ "ăn" không chỉ đơn thuần chỉ hành động ăn, mà còn diễn tả sự
liên tục, không ngừng nghỉ của hành động này. Nó gợi lên hình ảnh một người hoặc vật ăn không
ngừng, ăn rất nhiều và kéo dài, như thể không bao giờ biết no.
b. "hết...đến..., hết...đến...": Cấu trúc lặp lại này, kết hợp với điệp ngữ "hết đồng ruộng đến rừng
xanh, hết rừng xanh đến biển cả", tạo ra một cảm giác về sự liên tục và vô tận của không gian. Nó
không chỉ đơn thuần miêu tả hành động "bay" mà còn gợi lên một hành trình dài, không có điểm
dừng, qua những vùng đất khác nhau, tạo cảm giác về sự rộng lớn và bao la của thế giới.
Câu 4:Đặt một câu có sử dụng biện pháp tu từ được chỉ ra ở bài tập 3
VD: Ăn mãi,ăn mãi:Sau một ngày chạy nhảy nô đùa thỏa thích cùng lũ bạn trong xóm, cậu bé
trở về nhà mồ hôi nhễ nhại, vừa ngồi vào mâm cơm mẹ dọn sẵn đã cắm cúi ăn mãi, ăn mãi, hết
bát này đến bát khác, khiến ai nhìn cũng phải bật cười vì độ “háu ăn” dễ thương của cậu.
Đợi mãi,đợi mãi:Trời mỗi lúc một tối dần, gió thổi se lạnh, cô bé đứng bên cổng trường với
ánh mắt mong ngóng, đợi mãi, đợi mãi mà vẫn chẳng thấy mẹ đến đón, lòng bắt đầu thấy lo
lắng và tủi thân, chỉ mong mẹ dìa sớm để được ôm chầm lấy và kể hết bao chuyện xảy ra trong
ngày hôm nay.
Sau bài học, học sinh có thể:
-Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện cổ tích "Cây khế".
-Nhận biết các đặc trưng của truyện cổ tích (nhân vật, yếu tố kỳ ảo, kết thúc có hậu…).
-Biết kể lại truyện và rút ra bài học đạo đức.
-Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, tóm tắt, phân tích nhân vật và chi tiết truyện.
Cây khế
Ngày xửa ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm. Hai anh em chăm lo làm lụng nên trong nhà cũng đủ ăn. Nhưng từ khi cưới vợ, người anh sinh ra lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc
đều trút cho vợ chồng em. Hai vợ chồng người em thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm lụng. Thấy thế người anh sợ em tranh công, liền bàn với em chia nhà cửa để ở riêng.
Người anh chia cho em được một gian nhà lụp xụp ở trước cửa có một cây khế ngọt. Còn người anh có bao nhiêu ruộng cho làm rẽ(*) rồi về ngồi hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ta thán(2), lại lo cho
là đần độn và bị lừa vì em không nói.
Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là những ngày khế chín. Quanh năm hai vợ chồng chăm chỉ cheo chắt cho cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lỉu sai, thật là, trái bèn cả cây thích ơi là
thích.
Một buổi sáng, hai vợ chồng ra hái khế để ăn thì bỗng nghe tiếng động rất lạ, liền thấy trên cây có tiếng rụng mạnh như có người chặt. Hai vợ chồng nhìn lên thì thấy có một con chim to lông vàng đang ăn khế
chín. Hai người dỗi con chim ăn xong liền kêu:
– Chim ơi chim! Từ đầu rồng ra một thúng rơm, sáng háng ngày chim cứ đến ăn và lúc sáng sớm làm gì với quả hấn đi.
Một hôm chim đỗ xuống ăn nữa, vợ chồng nói:
– Ông chim ơi, ông ăn như thế còn gì là khế của nhà châu nữa! Cây khế nhà châu cũng chỉ để quả rốt đấy, ông à!
Chim nói:
– Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang(*), mang đi mà đựng!
Nói rồi nó lại lặp lại lần, chim mới vỗ cánh bay đi. Hai vợ chồng nghe lời chim may một cái túi, bế đốc chờ ngày chim đến đón đi lấy vàng.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn cơm xong thì thấy gió mù mịt và một con chim rất lớn hạ xuống giữa sân, quay mặt vào nhà kêu mấy tiếng như chào hỏi. Người chồng xách túi ra, chim rạp mình xuống đất
cho anh trèo lên lưng rồi vỗ cánh bay lên. Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả… Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo toàn đá trắng, đá
xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc(1). Chim bay một vòng quanh đảo, rồi từ từ hạ xuống một cái hang.
Chim ra hiệu cho anh vào lấy gì thì lấy. Ngay cửa hang anh thấy toàn những thứ đã trong như thuỷ tinh và hồ phách(2) đủ các màu. Anh thấy hang sâu lắm, tối om, rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng,
kim cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim bay về.
Chim lại cất cánh trở về, bay qua hết biển cả đến rừng xanh, hết rừng xanh đến đồng ruộng, tới khi mặt trời đứng bóng thì chim đưa anh về đến nhà. Từ đó vợ chồng người em trở nên giàu có.
Tiếng đồn người em giàu có đến tai vợ chồng người anh. Hai vợ chồng người anh vốn chỉ chực chờ. Nghe chuyện, người anh thì thè lẻ hét đòi người em, người anh góp đổi gia sản lấy túp lều và cây khế. Người
em ưng thuận.
Hai vợ chồng người anh mừng quýnh dọn đến ở túp lều. Họ chỉ ăn và chờ ngày chim đến. Một buổi sáng, hai vợ chồng thấy lưỡng gió mạnh nổi lên và nghe một cánh khế rung chuyển. Hai người hối hả chạy ra
thì quả nhiên là một con chim lớn đang ăn khế. Họ vội tru tréo(3) lên:
– Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn rồi ăn tiệt(2) tôi thì tôi cậy vào đâu.
Chim liền đáp:
– Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!
Rồi bay vụt đi.
Hai vợ chồng cuống quýt bàn cãi may túi. Mỗi đứa hì hụi chọn những miếng túi, sau lại sợ chim không ưng, bèn chỉ mang một túi như em nhưng to gấp ba lần, thành ra như một cái tay nải(3) lớn.
Sáng hôm sau, chim đến. Người chồng tức tốc ngay lên lưng chim, còn người vợ vái lạy vái để chim thận. Chim cũng bay mãi, bay mãi hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả rồi cuối cùng cho
người anh đến cái đảo vàng giữa biển.
Trên lưng chim bước xuống, anh ta đã hoa mắt vì của quý. Vào trong hang, anh ta lại càng mê mẩn tầm mắt, quên đồ, quên khổ, chỉ chọn vàng và kim cương cho thật đầy tay nải. Tay nải đã đầy, anh ta còn lấy
thêm vàng đeo cả vào ống tay áo, ông quần đến nỗi nặng quá phải lê mãi ra khỏi hang.
Chim chờ lâu chốc chốc lại kêu lên mấy tiếng thúc giục. Mãi gần chiều anh ta mới lếch được đến chỗ chim đợi. Muốn khỏi rơi, anh ta đật tay nải dưới chân chim rồi lấy dây buộc chặt vào lưng chim và cố nính.
Chim lây đã mãi mới cất cánh nổi. Trời đã về chiều, chim còn bay được hai phần biển cả thì bỗng nổi cơn gió mạnh. Mang nặng, bay ngược chiều, yếu dần, hai cánh rủ xuống. Tay nải vàng thổn(4) bị gió hất
mạnh vào cánh chim. Chim buông vội hai cánh làm bố rơi luôn.
Trong chớp mắt, người anh đã bị ngọn sóng cuốn đi với tay nải vàng và chưa bao giờ trở về. Còn chim thì bị uốt lòng, uốt thân, chim lại vung lên bay về núi về rừng.
(Bùi Mạnh Nhị, Văn học dân gian: những tác phẩm chọn lọc)
GIẢI NGHĨA
(1) Làm rẽ: (người nghèo) nhận
đất, ruộng... để sản xuất sau đó nộp một phần sản phẩm,
TỪ
hoa lợi,... cho người chủ đất.
(2) Ta thán: than thở, than vãn.
(3) Gang (hay gang tay): khoảng cách tối đa giữa đầu ngón tay cái và đầu ngón tay giữa khi
bàn tay được căng ra, dùng làm đơn vị đo độ dài, thường khoảng 20 cm.
(1) Ngũ sắc: năm màu chính thường được dùng trong trang trí (xanh, đỏ, vàng, đen, trắng).
(2) Hổ phách: nhựa cây (thường là nhựa thông) đã hóa đá, màu vàng nhạt, trong suốt,
thường dùng làm đồ trang sức, chữa bệnh.
(3) Tru tréo: la hét rất to, để nhiều người cùng biết, cố ý ăn vạ.
(4) Ăn tiệt: ăn hết, không còn gì.
(5) Tay nải: túi vải may theo kiểu xưa, có quai, đeo, có dạng như một cái bọc, dùng để đựng
đồ đi đường.
(6) Thốt nhiên (từ cổ): bỗng, đột ngột, bất chợt.
TRẢ LỜI CÂU
HỎI
Thảo luận theo nhóm
Chữa bài trước
Chữalớp
bài trước
lớp
Câu hỏi 1.Cây khế kể về chuyện gì? Em thích nhất chi tiết nào trong truyện?
TRẢ LỜI:
- “Cây khế” kể về chuyện người em hiền lành được báo đáp xứng đáng và
người anh tham lam phải chịu kết cục thê thảm khi cùng được chim trả công
sau khi ăn khế. Đây là câu chuyện về bài học đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở
hiền sẽ gặp lành và may mắn của nhân dân.
- Em thích nhất chi tiết chim đưa người em đến đảo hoang ngoài biển với
nhiều loại đá quý, vàng bạc, kim cương lấp lánh, đủ màu sắc.
Câu hỏi 2:Hãy tóm tắt truyện Cây khế.
TRẢ LỜI:
Ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm để lại cho một khối gia tài. Vợ chồng người
anh tham lam giành hết chỉ chừa lại cho người em một gian nhà lụp xụp, trước cửa có một cây khế ngọt.
Vợ chồng người em chăm chỉ làm ăn và chăm sóc cây khế chu đáo. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng
một hôm có con chim lạ đến ăn khế. Vợ chồng người em than thở và chim lạ liền bảo người em may túi ba
gang để chim trả ơn. Hôm sau, chim đưa người em ra đảo lấy vàng và trở về. Từ đó, người em trở nên giàu
có. Người anh hay tin, lân la đến dò hỏi và đổi cả gia tài của mình để lấy túp lều cùng cây khế. Đến mùa khế
chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn. Người anh vì tham lam nên đã may túi to để dựng
được nhiều vàng. Trên đường đi lấy vàng về vì quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống biển và chết.
Câu hỏi 3: Truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ quen thuộc chỉ
thời gian quá khứ, không gian không xác định. Hãy tìm các từ ngữ đó trong
truyện Cây khế.
TRẢ LỜI:
- Từ ngữ chỉ không gian – thời gian trong truyện cổ tích “Cây khế”:
+ Thời gian: ngày xửa ngày xưa.
+ Không gian: ở một nhà kia.
- Ý nghĩa: có ý phiếm chỉ không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, nhằm đưa
người đọc vào thế giới hư cấu thuận lợi hơn.
Câu hỏi 4: Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang có phải là con vật kì ảo không? Vì
sao?
TRẢ LỜI:
- Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang là con vật kì ảo. Vì nó mang 1 số đặc điểm như:
+ Biết nói tiếng người: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng
+Có phép thần kì,biết chỗ giấu của cải,vàng bạc,kim cương,...
Câu hỏi 5: Trong lời kể của truyện cổ tích, tác giả dân gian thường xen vào
những câu có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời cổ vần dễ thuộc, dễ nhớ. Trong
truyện này, có câu nói nào như thế? Nhân vật nào đã nói câu nói đó?
TRẢ LỜI:
- Câu nói của con chim lớn: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!” là câu có vần,
dễ thuộc, dễ nhớ.
- Ngày nay, câu “ăn một quả, trả cục vàng” hay “ăn khế, trả vàng” cũng thường được nhân dân dùng để
chỉ một việc làm được trả công hậu hĩnh, có kết quả tốt đẹp.
Câu hỏi 6: Đảo xa nơi con chim đưa người em đến có điều gì kì diệu? Điều
kì diệu này đã giúp gì cho cuộc sống của người em sau đó?
TRẢ LỜI:
- Điều kì diệu ở đảo xa: trên đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc, … toàn những thứ đá
trong như thủy tinh và hổ phách đủ các màu. Có hang sâu và rộng, ngoài cửa có nhiều vàng và kim
cương.
- Điều kì diệu này đã giúp cho vợ chồng người em dần trở nên giàu có.
Câu hỏi 7: Trong truyện, hai nhân vật người anh và người em luôn đối lập
nhau về hành động. Hãy chỉ ra sự đối lập giữa họ và nêu nhận xét về đặc
điểm của hai nhân vật này. TRẢ LỜI:
Nhân vật
Hành động,Đặc điềm
Kết cục
Người anh
Người em
+ Lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc đều trút cho
vợ chồng em.
+ Chiếm hết của cải, ruộng vườn chỉ để lại cho em một
+ Thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm
gian nhà lụp xụp và 1 cây khế ngọt.
lụng.
+ Thấy chim lạ đến thì hớt hải chạy ra.
+ Không ta thán.
+ Tru tréo lên: “Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn
+ Đợi cho chim ăn xong bay đi mới lên
ráo ăn tiệt thì tôi cậy vào đâu”.
cây hái.
+ Cuống quýt bàn cãi may túi. Mới đầu định mang nhiều túi
+ Người vợ nói: “Ông chim ơi, ông ăn
nhưng sợ chim không ưng nên chỉ may 1 túi nhưng to gấp
như thế còn gì là khế của nhà cháu nữa!
3 lần
Cây khế nhà cháu cũng sắp hết quả rồi
túi của người em.
đấy, ông ạ!”
+ Người chồng tót ngay lên lưng chim còn người vợ vái lấy,
+ Nghe lời chim may một túi vải, bề dọc,
vái
bề ngang vừa đúng ba gang.
để chim thần.
+ Trèo lên lưng chim.
+ Hoa mắt vì của quý. Vào trong hang lại càng mê mẩn
+ Thấy hang sâu và rộng không dám vào
tâm thần, quên đói, quên khát, cố nhặt vàng và kim
chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài
cương cho thật đầy
rồi ra hiệu cho chim bay về.
tay nải, dồn cả vào ống tay áo, ống quần, lê mãi mới ra khỏi
hang. Đặt tay nải dưới cánh chim rồi lấy dây buộc chặt
vào lưng chim và cổ mình.
Vì mang nặng lại gặp cơn gió mạnh nên chim và người
anh đều
rơi xuống biển. Người anh bị sóng cuốn đi mất.
Chim đưa người em về đến nhà. Từ đấy,
hai vợ chồng người em trở nên giàu có.
Câu hỏi 8: Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân
gian muốn gửi gắm bài học gì trong truyện này?
TRẢ LỜI:
Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi gắm bài học:
+ Cần phải luôn chăm chỉ, cần mẫn lao động thì mới có được thành quả tốt
+ Hiền lành, tốt bụng thì sẽ được đền đáp xứng đáng.
+ Quá tham lam thì sẽ phải gánh chịu hậu quả.
+ Hãy giúp đỡ người khác khó khăn hơn mình.
Tưởng tượng một kết thúc khác cho truyện “Cây khế”. Viết đoạn văn
(khoảng 5-7 câu) kể về kết thúc đó.
Đoạn văn tham khảo:
Sau khi bị rơi xuống biển, người anh trôi dạt vào bờ. Tỉnh lại được người dân cứu giúp và
đưa trở về nhà trong tình trạng thê thảm. Từ đó, người anh hiểu ra hậu quả do thói tham lam
gây nên và sống tử tế, nhân hậu hơn. Chứng kiến người anh đã thức tỉnh, người em trai hết
lòng giúp đỡ anh vực dậy, cùng nhau chia ruộng đất, lao động cần mẫn, chăm chỉ và yêu
thương nhau hơn xưa. Thấm thoát cả hai anh em cùng trở nên khá giả. Họ đã bàn với nhau
để dành một phần riêng thóc gạo giúp đỡ những người nghèo khổ. Tiếng lành đồn xa, ai ai
cũng yêu quý hai anh em nhà ấy.
NHÓM:
Câu 1. Giải thích nghĩa của các từ ngữ in đậm trong những câu sau:
a. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lỉu
sát đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
b. Từ đó ròng rã một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm làm
quả vợi hẳn đi.
TRẢ LỜI:a. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn mởn,
quả lúc lỉu sát đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
Mơn mởn: Tả trạng thái tươi tốt, xanh non, đầy sức sống (thường dùng để miêu tả
cây cối hoặc sức sống của tuổi trẻ).
Lúc lỉu: Diễn tả quả sai, nhiều, nặng trĩu, thõng xuống (quả treo lủng lẳng trên
cành).
b. Từ đó ròng rã một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm làm
quả vợi hẳn đi.
Ròng rã: Chỉ sự kéo dài liên tục, không ngừng nghỉ trong một khoảng thời gian
(thường là dài và vất vả).
Vợi hẳn: Chỉ sự giảm đi rõ rệt về số lượng (ở đây là số quả bị chim ăn mất nhiều).
Câu 2. So sánh những lời kể về vợ chồng người em và vợ chồng người anh (khi chuẩn bị theo
chim ra đảo, khi lấy vàng bạc trên đảo) và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
a. Tìm những động từ
hoặc cụm động từ thể
hiện rõ sự khác biệt về
hành động giữa vợ chồng
người em và vợ chồng
người anh.
b. Giải thích nghĩa của
những động từ hoặc cụm
động từ tìm được ở trên.
a. Tìm những động từ hoặc cụm động từ thể hiện rõ sự khác biệt về hành động giữa vợ chồng
người em và vợ chồng người anh.
b. Giải thích nghĩa của những động từ hoặc cụm động từ tìm được ở trên.
Tót: Động từ này diễn tả hành động di chuyển đến một nơi khác một cách nhanh chóng, gọn
gàng và bất ngờ.
Cuống quýt: Trạng thái này mô tả sự vội vã, rối rít khi bị mất bình tĩnh do một tình huống bất
ngờ.
Mê mẩn tâm thần: Cụm từ này chỉ trạng thái tâm trí và tinh thần không còn tỉnh táo, hoặc quá
say mê đến mức mất kiểm soát.
Nghe lời chim: Cụm từ này có nghĩa là lắng nghe và làm theo lời chỉ dẫn của chim. Trong văn
học, "chim" có thể là một biểu tượng cho trí tuệ, sự thông thái hoặc một thế lực siêu nhiên.
Câu 3:Trong hai câu văn bạn đưa ra, biện pháp tu từ được sử dụng là phép điệp từ. Phép điệp từ là biện pháp lặp lại một từ hoặc cụm từ
nhiều lần trong câu văn nhằm nhấn mạnh, tạo nhịp điệu và tăng tính biểu cảm.
•Câu a: "Quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng niêu cơm bé xíu cứ ăn hết lại đầy." Ở đây, từ "ăn mãi" được lặp lại để nhấn mạnh sự
khó khăn, gian khổ của quân sĩ khi phải ăn uống thiếu thốn trong hoàn cảnh chiến tranh. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự kỳ lạ, phi thường của
niêu cơm "ăn hết lại đầy", mang yếu tố huyền ảo, cổ tích.
•Câu b: "Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả." Từ "bay mãi" được lặp lại
để diễn tả sự liên tục, không ngừng nghỉ của hành trình bay lượn. Nó gợi lên hình ảnh về một không gian rộng lớn, bao la mà cánh chim tự do
khám phá. Việc lặp lại cấu trúc "hết...đến..." cũng là một dạng của phép điệp, nhấn mạnh sự liên tiếp của các địa điểm mà chim bay qua.
Trả lời:
Trong văn học, việc lặp lại từ ngữ là một biện pháp tu từ phổ biến, được sử dụng để nhấn mạnh,
tạo nhịp điệu hoặc gợi cảm xúc. Hai ví dụ được đưa ra trong hình ảnh minh họa rõ điều này:
a. "ăn mãi, ăn mãi": Việc lặp lại từ "ăn" không chỉ đơn thuần chỉ hành động ăn, mà còn diễn tả sự
liên tục, không ngừng nghỉ của hành động này. Nó gợi lên hình ảnh một người hoặc vật ăn không
ngừng, ăn rất nhiều và kéo dài, như thể không bao giờ biết no.
b. "hết...đến..., hết...đến...": Cấu trúc lặp lại này, kết hợp với điệp ngữ "hết đồng ruộng đến rừng
xanh, hết rừng xanh đến biển cả", tạo ra một cảm giác về sự liên tục và vô tận của không gian. Nó
không chỉ đơn thuần miêu tả hành động "bay" mà còn gợi lên một hành trình dài, không có điểm
dừng, qua những vùng đất khác nhau, tạo cảm giác về sự rộng lớn và bao la của thế giới.
Câu 4:Đặt một câu có sử dụng biện pháp tu từ được chỉ ra ở bài tập 3
VD: Ăn mãi,ăn mãi:Sau một ngày chạy nhảy nô đùa thỏa thích cùng lũ bạn trong xóm, cậu bé
trở về nhà mồ hôi nhễ nhại, vừa ngồi vào mâm cơm mẹ dọn sẵn đã cắm cúi ăn mãi, ăn mãi, hết
bát này đến bát khác, khiến ai nhìn cũng phải bật cười vì độ “háu ăn” dễ thương của cậu.
Đợi mãi,đợi mãi:Trời mỗi lúc một tối dần, gió thổi se lạnh, cô bé đứng bên cổng trường với
ánh mắt mong ngóng, đợi mãi, đợi mãi mà vẫn chẳng thấy mẹ đến đón, lòng bắt đầu thấy lo
lắng và tủi thân, chỉ mong mẹ dìa sớm để được ôm chầm lấy và kể hết bao chuyện xảy ra trong
ngày hôm nay.
 








Các ý kiến mới nhất