Tìm kiếm Bài giảng
Bài 46. Thực hành: Tìm hiểu môi trường và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Thế Dự
Ngày gửi: 13h:57' 22-03-2021
Dung lượng: 32.9 MB
Số lượt tải: 563
Nguồn:
Người gửi: Lương Thế Dự
Ngày gửi: 13h:57' 22-03-2021
Dung lượng: 32.9 MB
Số lượt tải: 563
Số lượt thích:
0 người
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ SINH THÁI
LÊN ĐỜI SỐNG SINH VẬT
TRONG KHUÔN VIÊN
TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT
BÀI 45-46
THÀNH VIÊN
*NGUYỄN QUỐC ANH *LÂM THANH BÌNH *NGUYỄN THANH THIÊN PHỤNG *NGUYỄN THANH THẢO NGUYÊN *PHAN BẢO ANH *ĐẶNG VĂN TRUNG
NỘI DUNG
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA SINH VẬT
TÌNH HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG TỚI HÌNH THÁI CÂY
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA ĐỘNG VẬT
NHẬN XÉT CHUNG CỦA NHÓM VỀ MÔI TRƯỜNG ĐÃ QUAN SÁT
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNGSỐNG CỦA SINH VẬT
Cây xác pháo
Cây xương rồng
Lá cọ
Mạ non
Tảo
Thài lài tía
Cây ngọc lan trắng
Cây phương vĩ
Cây si
Cây sò huyết
Cây thủy trúc
Cây vạn niên thanh
Cây mạng nhện
Cây mật cật
Cây me đất
Cây môn đốn
Cây nam thiên trúc
Cây lan ý
Cây lô hội
Cây lược vàng
Cây lưỡi hổ
Cây mai địa thảo
Cây măng leo
Cây Địa lan
Cây Đinh lăng
Hoa cúc vàng
Cây khế
Cây kim tiền
Cây lan chi
Cây bàng
Cây bìm bịp
Cây cải
Cây cau
Cây dạ yến
Cây dã yến
Cây bách tùng
Bèo lục bình
Bèo cái ( Bèo tai tượng)
Chim bồ câu
Chim sẻ
Gà rừng
Dế mèn
Cá Koi
02
Bàng là cây thân gỗ sinh sống chủ yếu ở vùng nhiệt dới. Loài cây này có thể mọc cao tới 35 m, với tán lá mọc thẳng, đối xứng và các cành nằm ngang.Khi cây già hơn thì trở nên phẳng hơn để tạo thành hình dáng giống như cái bát trải rộng. Lá to, dài khoảng 15–25 cm và rộng 10–14 cm, hình trứng, xanh sẫm và bóng. Đây là loài cây có lá sớm rụng về mùa khô; trước khi rụng thì các lá chuyển màu thành màu đỏ ánh hồng hay nâu vàng. Hoa nở vào mùa hè.Hoa đơn tính cùng gốc với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây. Cả hai loại hoa có đường kính khoảng 1 cm, có màu trắng hơi xanh, không lộ rõ, không có cánh hoa; chúng mọc trên các nách lá hoặc ở đầu cành. Quả thuộc loại quả hạch dài 5–7 cm và rộng 3-5,5 cm, khi non có màu xanh lục, sau đó ngả sang màu vàng và cuối cùng có màu đỏ khi chín, chứa một hạt.
CÂY BÀNG
Lúa là một trong những lương thực chính của đất nước. Lúa sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp khoảng (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Rễ chùm, có thể dài tới 2–3 m/cây trong thời kỳ trổ bông. Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Các hoa nhỏ, màu trắng sữa, tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 1–2 mm. Cây lúa non được gọi là mạ.
MẠ NON
Hoa súng Các loài súng sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Lá súng hình tròn. Nếu thời tiết ấm thì súng có thể cho hoa quanh năm. Súng chi thành hai loại là súng nhiệt dới và súng chịu rét. Các loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày còn các loài súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm cũng như là nhóm duy nhất có chứa các loài súng với hoa có màu xanh lam. Khả năng tồn tại của hạt súng theo thời gian là rất dài, vào khoảng 2000 năm. Hoa súng có thể có mùi thơm
Họ Xương rồng thường là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa. Cây xương rồng có gai và thân để chứa nước dự trữ. Xương rồng là một loài thực vật mọng nước, có nhiều dạng phát triển: thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài ký sinh trên các loài cây khác để phát triển. Phần lớn xương rồngcó lá tiêu biến rất đáng kể. Cánh hoa phân bố đồng đều và đồng tâm, hoa đa phần là lưỡng tính, nở vào cả sáng và tối tuỳ theo loài. Hình dạng thay đổi từ dạng-phễu qua dạng-chuông và tới dạng-tròn-phẳng, kích thước trong khoảng từ 0,2 đến 15–30 cm. Phần lớn có đài hoa (từ 5-50 cái hoặc hơn), thay đổi dạng từ ngoài vào trong, từ lá bắc đến cánh hoa. Số lượng nhị rất lớn, từ 50 đến 1.500 (hiếm khi ít hơn). Gần như tất cả các loài xương rồng có vị đắng, thi thoảng bên trong còn có nhựa đục. Một trái xương rồng chứa khoảng 3.000 hạt, mỗi hạt dài 0,4-12mm
XƯƠNG RỒNG
03
Trên không
Một con chim nhỏ, nó có chiều dài điển hình là 16 cm. Con mái có màu nâu nhạt và màu xám, và con trống có màu đen sáng hơn, màu trắng, và những mảng màu nâu. Sẻ nhà là loài chim lùn và chắc mập, thường dài trung bình khoảng 16cm, từ 14–18 cm. Sẻ có đầu tròn lớn, đuôi ngắn và mỏ cứng. Sẻ nhà nặng từ. Con mái thường nhỏ hơn con trống.
CHIM SẺ
_ Cấu tạo ngoài:
+Da khô phủ lông vũ, lông vũ bao bọc toàn thân là lông ống, có phiến lông rộng tạo thành cánh dài, đuôi chim làm bánh lái.
+ Lông vũ mọc áp sát vào thân là lông tơ. Lông tơ chỉ có một chùm lông, sợi lông mảnh gồm một lớp xốp giữ nhiệt và làm thân chim nhẹ.
+ Cánh chim khi xòe tạo một diện rộng quạt gió. Khi cụp cánh chim gọn lại vào thân.
+ Chi sau bàn chân dài, có 3 ngón trước và 1 ngón sau, đều có vuốt giúp chim bám chặt vào cành cây khi chim đậu hoặc duỗi thẳng, xòe rộng ngón khi chim hạ cánh. + Mỏ sừng bao bọc hàm không có răng làm đầu chim nhẹ.
+ Cổ dài, đầu chim linh hoạt giúp phát huy được tác dụng của giác quan (mắt, tai) tạo điều kiện thuận lợi khi bắt mồi, rỉa lông.
+ Tuyến phao câu tiết chất nhờn khi chim rỉa lông giúp lông mịn, không thấm nước.
CHIM BỒ CÂU
Trên không
Trên mặt đất
_ Chúng là các loài chim lớn, với con trống có bộ lông sáng và tươi màu, nhưng nói chung khó phát hiện trong các khu vực rừng rậm rạp, nơi chúng sinh sống. _Giống như nhiều loài chim khác trong họ Trĩ, con trống không tham gia vào việc ấp trứng hay nuôi nấng các con non có thể sống độc lập ngay từ khi mới sinh ra. Các công việc này do con mái có bộ lông nâu xám và dễ ngụy trang đảm nhận.
_Gà rừng là chim ăn hạt, nhưng chúng cũng ăn cả sâu bọ khi có thể, đặc biệt là ở các con non.
_Một loài trong chi này, gà rừng lông đỏ, có tầm quan trọng lịch sử đối với con người, như là tổ tiên có thể nhất của gà nhà, mặc dù một số tác giả cho rằng gà rừng lông xám cũng có thể là tổ tiên của gà nhà.
CON GÀ RỪNG
CON DẾ MÈN
Trên
Mặt đất
* Có cơ thể hình trụ, đầu tròn, và một cặp râu dài (giống con lợn). *Chân sau thích hợp cho việc nhảy. Cặp cánh trước được chuyên biệt hóa thành một dạng cánh bảo vệ, cặp cánh sau có dạng màng, và được gập lại khi không sử dụng. *Tuy nhiên, vài loài không có cánh. Chúng xuất hiện tại nhiều môi trường, từ đồng cỏ, bụi rậm, và rừng tới đầm lầy, bãi biển và hang động. *Các loài dế mèn đa số sống về đêm, và con trống có tiếng gáy to dai dẳng để thu hút con mái, dù vài loài không gáy được. *Dế đực cánh màu nâu pha đen, không bóng mượt. Dế đực bụng nhỏ hơn. Dế đực không có máng đẻ trứng. Dế đực kêu để ve vãn con cái. *Dế cái cánh màu đen, bóng mượt. Dế cái bụng to hơn vì bụng dế cái có trứng. Dế cái có máng đẻ trứng ở phần đuôi, giống cái kim khâu quần áo dể dế cái cắm xuống đất đẻ trứng. Dế cái không kêu được.
Trong
Nước
_Cá Koi được thuần hóa, lai tạo để nuôi làm cảnh trong những hồ nhỏ. Cá coi đồng thời được coi như là cá phong thủy. Người Nhật tin rằng những mảng màu trên mình cá chép Koi khi là những hình xăm sẽ luôn luôn mang lại sự may mắn. Tiêu chuẩn về màu được người Nhật đặt tên như sau:
Trắng pha Đỏ = Kohaku.
Trắng pha Đỏ+Đen = Showa Sanke.
Trắng pha Đen = Utsurimono.
Đen pha Trắng = Shiro Bekko.
Vàng pha Đen = Ki Utsuri.
Bạch kim hoặc Vàng kim = Kinginrin.
Xám bạc = Asagi
Trắng, trên đỉnh đầu có một vòng tròn Đỏ = Tancho. + _Trước đây, cá chép Koi được xác nhận là chiều dài có thể tới 2 m và chúng có thể sống tới 230 năm, rồi suy giảm dần xuống theo các thế hệ. Người ta cho rằng, phần lớn cá Koi hiện nay, có thể dài tới 1 và tuổi thọ từ 40 đến 60 năm tuổi. Nếu cá Koi được nuôi ở ao thì đến năm thứ 8 có thể chiều dài tối đa của cá đạt đến 1 mét.
CON CÁ KOI 04
NHẬN XÉT
*Biết thêm những cá thể khác ở trong trường mà từ trước giờ chúng em không để ý hay chú tâm đến *Giải tỏa căng thẳng sau những giờ học hay giờ kiểm tra căng thẳng, mệt mỏi * Yêu thiên nhiên hơn, sống lành mạnh hơn *Có nguồn không khí trong lành, thoáng đãng *- Làm chúng em yêu quý bộ môn Sinh học hơn và tìm ra hứng thú với môn học * Thay vì dành thời gian cho sách vở, internet thì cây cối, thực vật, động vật làm chúng em thấy thú vị hơn, bổ ích hơn, hạn chế mức học tập, làm việc quá sức *Biết trồng và chăm sóc các loài thực vật, động vật khác
- Chúng em thấy rằng, môi trường này đã đảm bảo tốt cho động và thực vật sinh sống.
- Qua bài thực hành: em đã tìm hiểu và phân loại được các loài thực vật dựa vào đặc điểm hình thái của chúng cũng như môi trường sống của một số loài động vật. THANKS FOR LISTENING
LÊN ĐỜI SỐNG SINH VẬT
TRONG KHUÔN VIÊN
TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT
BÀI 45-46
THÀNH VIÊN
*NGUYỄN QUỐC ANH *LÂM THANH BÌNH *NGUYỄN THANH THIÊN PHỤNG *NGUYỄN THANH THẢO NGUYÊN *PHAN BẢO ANH *ĐẶNG VĂN TRUNG
NỘI DUNG
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA SINH VẬT
TÌNH HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG TỚI HÌNH THÁI CÂY
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA ĐỘNG VẬT
NHẬN XÉT CHUNG CỦA NHÓM VỀ MÔI TRƯỜNG ĐÃ QUAN SÁT
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNGSỐNG CỦA SINH VẬT
Cây xác pháo
Cây xương rồng
Lá cọ
Mạ non
Tảo
Thài lài tía
Cây ngọc lan trắng
Cây phương vĩ
Cây si
Cây sò huyết
Cây thủy trúc
Cây vạn niên thanh
Cây mạng nhện
Cây mật cật
Cây me đất
Cây môn đốn
Cây nam thiên trúc
Cây lan ý
Cây lô hội
Cây lược vàng
Cây lưỡi hổ
Cây mai địa thảo
Cây măng leo
Cây Địa lan
Cây Đinh lăng
Hoa cúc vàng
Cây khế
Cây kim tiền
Cây lan chi
Cây bàng
Cây bìm bịp
Cây cải
Cây cau
Cây dạ yến
Cây dã yến
Cây bách tùng
Bèo lục bình
Bèo cái ( Bèo tai tượng)
Chim bồ câu
Chim sẻ
Gà rừng
Dế mèn
Cá Koi
02
Bàng là cây thân gỗ sinh sống chủ yếu ở vùng nhiệt dới. Loài cây này có thể mọc cao tới 35 m, với tán lá mọc thẳng, đối xứng và các cành nằm ngang.Khi cây già hơn thì trở nên phẳng hơn để tạo thành hình dáng giống như cái bát trải rộng. Lá to, dài khoảng 15–25 cm và rộng 10–14 cm, hình trứng, xanh sẫm và bóng. Đây là loài cây có lá sớm rụng về mùa khô; trước khi rụng thì các lá chuyển màu thành màu đỏ ánh hồng hay nâu vàng. Hoa nở vào mùa hè.Hoa đơn tính cùng gốc với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây. Cả hai loại hoa có đường kính khoảng 1 cm, có màu trắng hơi xanh, không lộ rõ, không có cánh hoa; chúng mọc trên các nách lá hoặc ở đầu cành. Quả thuộc loại quả hạch dài 5–7 cm và rộng 3-5,5 cm, khi non có màu xanh lục, sau đó ngả sang màu vàng và cuối cùng có màu đỏ khi chín, chứa một hạt.
CÂY BÀNG
Lúa là một trong những lương thực chính của đất nước. Lúa sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp khoảng (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Rễ chùm, có thể dài tới 2–3 m/cây trong thời kỳ trổ bông. Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Các hoa nhỏ, màu trắng sữa, tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 1–2 mm. Cây lúa non được gọi là mạ.
MẠ NON
Hoa súng Các loài súng sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Lá súng hình tròn. Nếu thời tiết ấm thì súng có thể cho hoa quanh năm. Súng chi thành hai loại là súng nhiệt dới và súng chịu rét. Các loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày còn các loài súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm cũng như là nhóm duy nhất có chứa các loài súng với hoa có màu xanh lam. Khả năng tồn tại của hạt súng theo thời gian là rất dài, vào khoảng 2000 năm. Hoa súng có thể có mùi thơm
Họ Xương rồng thường là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa. Cây xương rồng có gai và thân để chứa nước dự trữ. Xương rồng là một loài thực vật mọng nước, có nhiều dạng phát triển: thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài ký sinh trên các loài cây khác để phát triển. Phần lớn xương rồngcó lá tiêu biến rất đáng kể. Cánh hoa phân bố đồng đều và đồng tâm, hoa đa phần là lưỡng tính, nở vào cả sáng và tối tuỳ theo loài. Hình dạng thay đổi từ dạng-phễu qua dạng-chuông và tới dạng-tròn-phẳng, kích thước trong khoảng từ 0,2 đến 15–30 cm. Phần lớn có đài hoa (từ 5-50 cái hoặc hơn), thay đổi dạng từ ngoài vào trong, từ lá bắc đến cánh hoa. Số lượng nhị rất lớn, từ 50 đến 1.500 (hiếm khi ít hơn). Gần như tất cả các loài xương rồng có vị đắng, thi thoảng bên trong còn có nhựa đục. Một trái xương rồng chứa khoảng 3.000 hạt, mỗi hạt dài 0,4-12mm
XƯƠNG RỒNG
03
Trên không
Một con chim nhỏ, nó có chiều dài điển hình là 16 cm. Con mái có màu nâu nhạt và màu xám, và con trống có màu đen sáng hơn, màu trắng, và những mảng màu nâu. Sẻ nhà là loài chim lùn và chắc mập, thường dài trung bình khoảng 16cm, từ 14–18 cm. Sẻ có đầu tròn lớn, đuôi ngắn và mỏ cứng. Sẻ nhà nặng từ. Con mái thường nhỏ hơn con trống.
CHIM SẺ
_ Cấu tạo ngoài:
+Da khô phủ lông vũ, lông vũ bao bọc toàn thân là lông ống, có phiến lông rộng tạo thành cánh dài, đuôi chim làm bánh lái.
+ Lông vũ mọc áp sát vào thân là lông tơ. Lông tơ chỉ có một chùm lông, sợi lông mảnh gồm một lớp xốp giữ nhiệt và làm thân chim nhẹ.
+ Cánh chim khi xòe tạo một diện rộng quạt gió. Khi cụp cánh chim gọn lại vào thân.
+ Chi sau bàn chân dài, có 3 ngón trước và 1 ngón sau, đều có vuốt giúp chim bám chặt vào cành cây khi chim đậu hoặc duỗi thẳng, xòe rộng ngón khi chim hạ cánh. + Mỏ sừng bao bọc hàm không có răng làm đầu chim nhẹ.
+ Cổ dài, đầu chim linh hoạt giúp phát huy được tác dụng của giác quan (mắt, tai) tạo điều kiện thuận lợi khi bắt mồi, rỉa lông.
+ Tuyến phao câu tiết chất nhờn khi chim rỉa lông giúp lông mịn, không thấm nước.
CHIM BỒ CÂU
Trên không
Trên mặt đất
_ Chúng là các loài chim lớn, với con trống có bộ lông sáng và tươi màu, nhưng nói chung khó phát hiện trong các khu vực rừng rậm rạp, nơi chúng sinh sống. _Giống như nhiều loài chim khác trong họ Trĩ, con trống không tham gia vào việc ấp trứng hay nuôi nấng các con non có thể sống độc lập ngay từ khi mới sinh ra. Các công việc này do con mái có bộ lông nâu xám và dễ ngụy trang đảm nhận.
_Gà rừng là chim ăn hạt, nhưng chúng cũng ăn cả sâu bọ khi có thể, đặc biệt là ở các con non.
_Một loài trong chi này, gà rừng lông đỏ, có tầm quan trọng lịch sử đối với con người, như là tổ tiên có thể nhất của gà nhà, mặc dù một số tác giả cho rằng gà rừng lông xám cũng có thể là tổ tiên của gà nhà.
CON GÀ RỪNG
CON DẾ MÈN
Trên
Mặt đất
* Có cơ thể hình trụ, đầu tròn, và một cặp râu dài (giống con lợn). *Chân sau thích hợp cho việc nhảy. Cặp cánh trước được chuyên biệt hóa thành một dạng cánh bảo vệ, cặp cánh sau có dạng màng, và được gập lại khi không sử dụng. *Tuy nhiên, vài loài không có cánh. Chúng xuất hiện tại nhiều môi trường, từ đồng cỏ, bụi rậm, và rừng tới đầm lầy, bãi biển và hang động. *Các loài dế mèn đa số sống về đêm, và con trống có tiếng gáy to dai dẳng để thu hút con mái, dù vài loài không gáy được. *Dế đực cánh màu nâu pha đen, không bóng mượt. Dế đực bụng nhỏ hơn. Dế đực không có máng đẻ trứng. Dế đực kêu để ve vãn con cái. *Dế cái cánh màu đen, bóng mượt. Dế cái bụng to hơn vì bụng dế cái có trứng. Dế cái có máng đẻ trứng ở phần đuôi, giống cái kim khâu quần áo dể dế cái cắm xuống đất đẻ trứng. Dế cái không kêu được.
Trong
Nước
_Cá Koi được thuần hóa, lai tạo để nuôi làm cảnh trong những hồ nhỏ. Cá coi đồng thời được coi như là cá phong thủy. Người Nhật tin rằng những mảng màu trên mình cá chép Koi khi là những hình xăm sẽ luôn luôn mang lại sự may mắn. Tiêu chuẩn về màu được người Nhật đặt tên như sau:
Trắng pha Đỏ = Kohaku.
Trắng pha Đỏ+Đen = Showa Sanke.
Trắng pha Đen = Utsurimono.
Đen pha Trắng = Shiro Bekko.
Vàng pha Đen = Ki Utsuri.
Bạch kim hoặc Vàng kim = Kinginrin.
Xám bạc = Asagi
Trắng, trên đỉnh đầu có một vòng tròn Đỏ = Tancho. + _Trước đây, cá chép Koi được xác nhận là chiều dài có thể tới 2 m và chúng có thể sống tới 230 năm, rồi suy giảm dần xuống theo các thế hệ. Người ta cho rằng, phần lớn cá Koi hiện nay, có thể dài tới 1 và tuổi thọ từ 40 đến 60 năm tuổi. Nếu cá Koi được nuôi ở ao thì đến năm thứ 8 có thể chiều dài tối đa của cá đạt đến 1 mét.
CON CÁ KOI 04
NHẬN XÉT
*Biết thêm những cá thể khác ở trong trường mà từ trước giờ chúng em không để ý hay chú tâm đến *Giải tỏa căng thẳng sau những giờ học hay giờ kiểm tra căng thẳng, mệt mỏi * Yêu thiên nhiên hơn, sống lành mạnh hơn *Có nguồn không khí trong lành, thoáng đãng *- Làm chúng em yêu quý bộ môn Sinh học hơn và tìm ra hứng thú với môn học * Thay vì dành thời gian cho sách vở, internet thì cây cối, thực vật, động vật làm chúng em thấy thú vị hơn, bổ ích hơn, hạn chế mức học tập, làm việc quá sức *Biết trồng và chăm sóc các loài thực vật, động vật khác
- Chúng em thấy rằng, môi trường này đã đảm bảo tốt cho động và thực vật sinh sống.
- Qua bài thực hành: em đã tìm hiểu và phân loại được các loài thực vật dựa vào đặc điểm hình thái của chúng cũng như môi trường sống của một số loài động vật. THANKS FOR LISTENING
 









Các ý kiến mới nhất