thuyết trình 2020-2021

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lô Văn Hoài
Ngày gửi: 17h:45' 04-12-2021
Dung lượng: 580.5 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lô Văn Hoài
Ngày gửi: 17h:45' 04-12-2021
Dung lượng: 580.5 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
BÀI THUYẾT TRÌNH
GIÁO VIÊN: LÔ VĂN HOÀI
PHÒNG GD & ĐT TƯƠNG DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU KIỀN
CHÀO MỪNG CÁC THẦY CÔ ĐẾN VỚI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH CHƯA ĐẠT CHUẨN MÔN TOÁN LỚP 5
HỌC TIẾN BỘ HƠN
I. Lí do chọn đề tài:
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh hiện nay, một thực trạng không hiếm đó là trong quá trình học tập trên lớp các em còn thiếu tự tin và mạnh dạn, nhất là môn toán các em học sinh tiếp thu bài còn chậm dẫn đến lười học, không hoàn thành yêu cầu bài học, có nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kỹ năng và phương pháp học tập Toán chưa tốt. Làm sao để các em hiểu bài, theo kịp các bạn và có niềm tin trong học tập? Đặc biệt là lớp 5, lớp cuối cấp, chuẩn bị cho các em bước vào học bậc trung học cơ sở. Làm sao để các em nắm chắc và vận dụng tốt các kiến thức, kĩ năng học toán ở tiểu học, chuẩn bị tiếp thu các kiến thức lớp 6 - đấy là điều mà tôi vô cùng trăn trở.
PHẦN 1: NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Lí do chọn đề tài:
Trải qua hai năm học tiếp tục giảng dạy tại một lớp, nên đã nắm bắt được một cách toàn diện ở tất cả các mặt: đức, trí, thể, mĩ… Riêng về mặt học tập, đặc biệt là môn Toán thì càng cần phải quan tâm, chú trọng nhiều. Toán học góp phần hình thành phát triển nhân cách của học sinh. Cung cấp tri thức ban đầu về số học, các số tự nhiên các phân số, các đại lượng cơ bản, một số yếu tố hình học đơn giản, ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Nếu học sinh chưa đạt chuẩn toán cũng là đồng nghĩa với việc các em phát triển chưa trọn vẹn nó ảnh hưởng đến tương lai của chính bản thân các em và cả xã hội. Ngay từ cấp tiểu học chúng ta cần tạo nền tảng vững chắc cho các em, bằng cách là không để cho học sinh chưa đạt chuẩn toán, đây là vấn đề mà mỗi giáo viên chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm.
I. Lí do chọn đề tài:
Nhất là những học sinh còn tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn về môn toán, thiếu tự tin dẫn đến lười học, không hoàn thành yêu cầu bài học, là một giáo viên chủ nhiệm thì tôi phải làm gì đối với những học sinh tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn về môn toán này? Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học.
Chính vì những lí do như tôi đã nêu ở trên, nên tôi mạnh dạn chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp giúp học sinh chưa đạt chuẩn môn toán lớp 5 học tập tiến bộ hơn ” là sáng kiến nhỏ được rút ra trong quá trình dạy học mong được góp phần nào vào việc tích lũy kinh nghiệm trong công tác dạy học.
II. Mục tiêu của đề tài.
* Tìm ra các biện pháp nhằm giúp học sinh hạn toán ở lớp 5, hực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặt ra của ngành giáo dục và cho mỗi giáo viên đứng lớp như bản thân tôi, là làm thế nào để nâng cao chất lượng học sinh, tránh để học sinh ngồi nhầm lớp. Chính vì thế, việc tìm hiểu về mức độ nắm và vận dụng kiến thức của từng học sinh là vô cùng quan trọng, từ đó mà để ra các biện pháp, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh thì hiệu quả giảng dạy sẽ cao hơn.
1. Mục tiêu tổng quát.
* Nhằm giúp học sinh tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn về môn toán nắm chắc kiến thức ngày càng vững vàng hơn, hăng say trong giờ học toán và làm nền tảng vững chắc cho các lớp trên. Bởi vì có những em, tiếp thu bài rất chậm và chưa chắc chắn, có những em nắm được nội dung lý thuyết nhưng khi vận dụng thực hành lại không áp dụng được, dẫn đến các em chán nản trong giờ học toán, dần dần các em sẽ không theo kịp các bạn ở môn toán.
- Môn toán lớp 5 chủ yếu là ôn luyện các kiến thức đã học ở các lớp dưới và vận dụng sâu hơn, vì vậy, những học sinh chưa nắm chắc các kiến thức các lớp dưới, đặc biệt là lớp 4 thì việc học toán lớp 5 trở nên vô cùng khó khăn. Cụ thể các mục tiêu đó là:
2. Mục tiêu cụ thể.
- Giúp HS có thói quen độc lập suy nghĩ, tự giác trong học tập, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật.
- Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo HS tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn.
Đó cũng chính là đạt được mục tiêu dạy học môn Toán ở lớp 5, để học sinh nắm vững kiến thức cũ và tiếp thu tốt kiến thức mới, giúp các em hứng thú trong học tập và cũng là để đạt được mục tiêu giáo dục của ngành, đáp ứng nguyện vọng của bản thân giáo viên, phụ huynh và học sinh.
2. Mục tiêu cụ thể.
* Trong năm học qua tôi đã theo dõi học sinh lớp tôi chủ nhiệm khi học môn Toán tôi thấy các em có một thói quen không tốt cho lắm đó là:
- Phần đa học sinh đọc đề bài toán qua loa sau đó làm bài ngay, làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, cho nên khi trả bài các em mới biết là mình sai.
- Các em chưa thuộc bảng nhân, chia; nên không nhớ cách cộng, trừ, nhân chia…
- Khả năng tính nhẩm kém chưa thuần thục dẫn đến tính toán chậm, thiếu chính xác khi thực hiện các phép tính với số có nhiều chữ số hay phân số, số thập phân
1. THỰC TRẠNG CHUNG
PHẦN II: NỘI DUNG, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
- Chưa có kỹ năng làm bài tập dạng trắc nghiệm, lười tính và thường chọn kết quả theo cảm tính hoặc xem bài của bạn.
*Tóm lại sự hạn chế môn toán lớp tôi, như tôi đã nêu lên 5 đặc điểm đó là:
+ Nhiều "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng , từ các lớp dưới bị quên nhiều, đặc biệt sau những tháng nghỉ COVID 19 và một tháng hè nên vào đầu năm học lớp 5, các em học sinh hầu như không còn nhớ gì kiến thức lớp dưới.
1. THỰC TRẠNG CHUNG.
+ Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng chậm .
+ Năng lực tư duy bị hạn chế .
+ Phương pháp học tập toán chưa tốt .
+ Thờ ơ với giờ học trên lớp.
+ Thường xuyên không ôn bài, làm bài tập ở nhà .
Kết quả khảo sát đầu năm học 2020- 2021 như sau:
Tuy nhiên, trong số học sinh trung bình vẫn còn một số em chưa nắm vững kiến thức còn “non” trong kỹ năng vận dụng và khả năng xuống loại rất cao, cũng cần phải bám sát và tăng cường phụ đạo thêm để không bị tụt bậc.
1. THỰC TRẠNG CHUNG .
* Sự hạn chế Toán ở học sinh được biểu hiện bằng nhiều hình, nhiều vẻ. Nhưng nhìn chung các em hạn chế Toán thường có các đặc điểm chung sau đây:
- Các em có nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kỹ năng trong học Toán.
- Các em tiếp thu bài còn chậm.
- Phương pháp học tập Toán của các em chưa tốt.
- Chưa tự giác học.
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế.
- Hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
- Lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô và bạn bè giúp đỡ.
- Sự tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
1. THỰC TRẠNG RIÊNG
1. Từ học sinh.
- Không chịu chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên.
- Học sinh đi học thất thường.
- Ở nhà các em chưa tự giác ôn bài, làm bài.
- Chưa lập được thời gian biểu hằng ngày.
- Hạn chế các cơ bản, cần thiết như(cộng, trừ, nhân, chia).
- Học vẹt, học đối phó không có khả năng vận dụng kiến thức.
1. Từ học sinh.
2. Từ giáo viên.
- Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng, chưa khắc sâu cho học sinh.
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH.
- Chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy.
- Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp.
- Năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế.
- Chưa động viên tuyên dương kịp thời.
- Chưa quan tâm đến từng đối tượng HS trong lớp.
- Hay chú trọng tới các em HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp.
- Tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không đánh giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy.
3. Từ phụ huynh.
- Thiếu sự quan tâm, thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà trường là chưa cao.
- Một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.
- Một bộ phận phụ huynh thường xuyên đi là ăn xa, bỏ mặc con cái cho ông bà già.
- Chưa động viên tuyên dương kịp thời đối với con cái.
1. Xây dựng môi trường học tập thân thiện:
- Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn cho học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập...
- Tôi luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng,…
- Bên cạnh đó, tôi phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ như tôi nên thay chê bai bằng khen ngợi và tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em…..
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
2. Phân loại các đối tượng học sinh:
- Tôi phải xem xét, phân loại những học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn đúng với đặc điểm vốn có của các em, để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em.
- Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài chậm, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
- Trong quá trình thiết kế bài học, tôi cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh hạn chế được củng cố và luyện tập phù hợp.
- Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
3. Phân loại các đối tượng học sinh:
- Yêu cầu của một tiết luyện tập là 4 bài tập chẳng hạn, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài là được, tuỳ theo khả năng của các em.
- Ngoài ra, tôi có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh chưa đạt chuẩn vào các tiết luyện hoặc dành thời gian ngoài giờ như buổi tối.
* Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui chơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
4. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:
- Trong mỗi tiết dạy tôi phải dùng nhiều kiến thức vào thực tế để các em được thoải mãi. Từ đó, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức.
- Bên cạnh đó, tôi phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ các em về thái độ học tập. Đồng thời, tôi phải phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập cho các em học ở nhà.
- Tôi đã phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm của gia đình, sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên.
- Phối hợp một cách nhịp nhàng và chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường thì dù các em có học chậm và không có ý thức trong học tập cỡ nào, nhất định rằng việc học của các em sẽ dần tiến bộ.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
5. Phân công kèm cặp học sinh hạn chế:
- Ngay từ đầu năm tôi cần phải khảo sát chất lượng để biết số lượng học sinh hạn chế là bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo. Như lớp 5D mà bản thân tôi đang chủ nhiệm, sau khi thi khảo sát chất lượng đầu năm thì có 6 học sinh hạn chế, bản thân đã lên kế hoạch phụ đạo cho các em.
- Lập danh sách học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn, cần chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết dạy, như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời câu hỏi, làm các bài tập đơn giản nhất, khen ngợi các em đó khi các em trả lời đúng, làm đúng…
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
1. Tìm các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh:
- Ngay từ đầu năm học, tôi đã lập kế hoạch và tìm phương pháp dạy học để giúp các em.
- Ngoài ra vào buổi tối hàng tuần tôi tới nhà học sinh, trao đổi với phụ huynh việc học ở nhà, quan sát góc học tập… rồi góp ý.
- Từ đó, nhờ phụ huynh kèm thêm ở nhà, theo dõi, kiểm tra, nhờ đó mà các em tiến bộ rõ rệt nhất là phần nhân, chia số có nhiều chữ số, cộng, trừ, nhân, chia phân số.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
2. Khuyến khích từng học sinh chủ động và tích cực hoạt động học tập đem lại kết quả cao nhất cho từng học sinh:
- Giáo viên không nên khắt khe đòi hỏi các em làm những bài tập quá sức, mà ra bài tập vừa sức các em làm được để các em có niềm tin trong học tập, và lúc đó giáo viên khen ngợi kịp thời tăng bài tập ở mức học sinh trung bình có thể làm được.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
3. Khơi dậy tính tò mò và năng lực của từng học sinh qua các hoạt động học tập nhằm khám phá để có được những hiểu biết theo bài học:
- Trong quá trình giảng dạy, ta cần có các đồ dùng trực quan đẹp, phù hợp với nội dung bài để học sinh hứng tú học tập, cần liên hệ thực tế và mở rộng kiến thức để các em áp dụng vào cuộc sống hằng ngày.
Ví dụ: Khi dạy về hỗn số, cần có mảnh bìa hình tròn, hình vuông hoặc quả cam để chia các phần bằng nhau. Khi dạy về đơn vị đo khối lượng cần có cân, các bài toán có lời văn nên có hình ảnh minh họa…
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
4. Coi học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học:
- Trong quá trình dạy học, người giáo viên tổ chức, hướng dẫn và là trọng tài khoa học. Mọi học sinh đều được hoạt động và phát triển.
- Giáo viên cần tránh nói nhiều và làm thay cho học sinh.
- Cần tổ chức cùng làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
5. Kết hợp với cha mẹ học sinh, tổ chức học ở nhà cho học sinh.
- Qua các buổi họp phụ huynh học sinh, các buổi thăm nhà học sinh giáo viên chủ động lên thời gian biểu cho các em học ở nhà, giáo dục cho các em tự giác học bài ở nhà.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
6. Thường xuyên kiểm tra kiến thức cũ, và giao bài khi buổi học kết thúc:
- Giáo viên đến lớp trước 15 phút để kiểm tra.
- Lớp phó học tập kiển tra thường xuyên Giáo viên khen thưởng khuyến khích tiến bộ của học sinh.
- Chia nhóm, phân công bạn giỏi kèm bạn hạn chế.
+ Bạn giỏi có trách nhiệm giúp các bạn hạn chế tiến bộ, để bạn hạn chế phải tiếp thu học hỏi.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
7. Dành thời gian, giảng giải kiến thức cũ mà học sinh chưa nắm vững:
- Muốn tiếp thu kiến thức mới thì học sinh phải nắm vững kiến thức cũ.
+ Qua các buổi phụ đạo hàng tuần giáo viên ôn tập và củng cố kiến thức cũ cho các em về đọc, viết số thập phân, các phép tính với số tự nhiên, phân số, số thập phân và giải toán có lời văn các dạng toán, các dạng toán về tỉ số phần trăm, toán về chu vi, diện tích các hình…
+ Tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố kiến thức từng chương qua các trò chơi.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
* Sau khi áp dụng các biện pháp phụ đạo cho học sinh hạn chế, thực tế cho thấy : Các em có ý thức hơn trong việc học Toán. Học sinh phấn khởi, tự tin hơn trong các tiết học. Các em thích học Toán, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Kết quả học tập Toán có tiến bộ rõ rệt, sự chiếm lĩnh kiến thức của các em.Vì vậy, khi phụ đạo cho các em hạn chế Toán, chúng ta cần kiên trì, nhẫn nại, không nôn nóng, dạy đến đâu cần cho học sinh nắm chắc đến đấy. Nói tóm lại “Phụ đạo học sinh hạn chế chưa đạt chuẩn Toán ở lớp 5”đã góp phần không nhỏ vào kết quả học tập của học sinh.
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
PHẦN III: KẾT QUẢ, ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
+ Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học kết quả học tập của học sinh chuyển biến rõ rệt, cụ thể như sau :
1. Tình hình phát biểu xây dựng bài:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 30%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 90%
2. Thái độ mạnh dạn, nhanh nhẹn, trong học Toán:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 20%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 80%
3. Chủ động tìm tòi học hỏi, hiểu kĩ và nhớ lâu hơn:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 30%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 80%
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Như vậy, qua kết quả trên cho thấy thái độ nhút nhát, thụ động, giảm dần thay vào đó là thái độ mạnh dạn, hăng say phát biểu chủ động chiếm lĩnh kiến thức tăng lên. Do đó kết quả học tập nâng cao rõ rệt. Kết quả trên góp phần hình thành con người toàn diện giúp học sinh vận dụng kết quả vào thực tiễn và là nền tảng vững chắc trên con đường học tập của các em.
Số liệu tổng hợp qua các kỳ kiểm tra, khảo sát của lớp năm học 2020-2021 như sau:
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
* Từ kết quả đạt được sau khi áp dụng Một số biện pháp tôi đã rút ra kết luận, đó là:
- Để không còn học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn, trước hết cần phải tiến hành việc điều tra, tìm hiểu cụ thể từng đối tượng học sinh cũng như theo dõi sự chuyển của từng em..
- Giáo viên phải nắm chắc chương trình, có kế hoạch giảng dạy phù hợp.
- Giáo viên cần phải nhiệt tình theo dõi sát học sinh để kịp thời bồi dưỡng, phụ đạo.
- Giáo viên phải nắm rõ từng đối tượng học sinh, phát hiện những chỗ hổng kiến thức của học sinh để có kế hoạch phụ đạo kịp thời
2. KẾT LUẬN
- Giáo viên cần có nhiều hình thức tổ chức dạy học để học sinh học tập nhẹ nhàng.
- Giáo viên phải luôn luôn tự học tự rèn để có kiến thức vững vàng, giúp học sinh học tập có kết quả.
- Giáo viên nên động viên, khen ngợi kịp thời các học sinh có tiến bộ nhằm thúc đẩy tinh thần thi đua học tập của các em.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
- Việc phụ đạo học sinh yếu cần thực hiện bằng nhiều con đường thông qua nhiều hình thức khác nhau và vận dụng một cách linh hoạt.
2. KẾT LUẬN
Giáo viên nên động viên, khen ngợi kịp thời các học sinh có tiến bộ nhằm thúc đẩy tinh thần thi đua học tập của các em.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
- Việc phụ đạo học sinh hạn chế cần thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và vận dụng một cách linh hoạt.
- Khi thực hiện phụ đạo học sinh hạn chế cần tránh xúc phạm đến nhân cách của học sinh, giáo viên cần có thái độ phù hợp và phải có tính kiên trì, yêu thương gần gũi với học sinh.
2. KẾT LUẬN
- Việc vận dụng sáng kiến này vào thực tế sẽ giúp học sinh hứng thú học tập môn toán hơn. Từ đó kết quả học tập sẽ tốt hơn sẽ không còn học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn trong nhà trường . Vì vậy khi phụ đạo học sinh giáo viên cần kiên trì, nhẫn nại ,không nôn nóng, theo tôi nghĩ chất lượng của học sinh là do người giáo viên quyết định
- Theo tôi khả năng áp dụng triển khai của kích nghiệm này với toàn bộ học sinh lớp 5 sẽ có hiệu quả và chất lượng rất cao, các em sẽ không còn lúng túng hay e ngại khi giải toán ,các em sẽ yêu môn toán hơn
3. TÍNH KHẢ THI ÁP DỤNG KÍCH NGHIỆM.
* Qua quá trình thực hiện và giảng dạy tôi thấy có những khó khăn cần đề xuất, kiến nghị như sau:
- BGH nhà trường và giáo viên đứng lớp cần kiên quyết thực hiện đúng nội dung cuộc vận động Hai không với 4 nội dung của BGD&ĐT, tránh để học sinh ngồi nhầm lớp chỉ vì thành tích.
- Tạo điều kiện về không gian và thời gian cho giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém.
4. KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT.
Sau một năm nghiên cứu và ứng dụng kinh nghiệm vào thực tế cụ thể là lớp 5D, bản thân tôi thấy các em đã có những tiến bộ vượt bậc .Tỷ lệ học sinh hạn chế không còn, tỷ lệ học sinh khá giỏi cũng được nâng lên .Tuy nhiên, kinh nghiệm bản thân còn có những hạn chế, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, Rất mong các bạn đồng nghiệp và hội đồng khoa học góp ý để đề tài hoàn thiện hơn.
4. KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
GIÁO VIÊN: LÔ VĂN HOÀI
PHÒNG GD & ĐT TƯƠNG DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU KIỀN
CHÀO MỪNG CÁC THẦY CÔ ĐẾN VỚI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH CHƯA ĐẠT CHUẨN MÔN TOÁN LỚP 5
HỌC TIẾN BỘ HƠN
I. Lí do chọn đề tài:
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh hiện nay, một thực trạng không hiếm đó là trong quá trình học tập trên lớp các em còn thiếu tự tin và mạnh dạn, nhất là môn toán các em học sinh tiếp thu bài còn chậm dẫn đến lười học, không hoàn thành yêu cầu bài học, có nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kỹ năng và phương pháp học tập Toán chưa tốt. Làm sao để các em hiểu bài, theo kịp các bạn và có niềm tin trong học tập? Đặc biệt là lớp 5, lớp cuối cấp, chuẩn bị cho các em bước vào học bậc trung học cơ sở. Làm sao để các em nắm chắc và vận dụng tốt các kiến thức, kĩ năng học toán ở tiểu học, chuẩn bị tiếp thu các kiến thức lớp 6 - đấy là điều mà tôi vô cùng trăn trở.
PHẦN 1: NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Lí do chọn đề tài:
Trải qua hai năm học tiếp tục giảng dạy tại một lớp, nên đã nắm bắt được một cách toàn diện ở tất cả các mặt: đức, trí, thể, mĩ… Riêng về mặt học tập, đặc biệt là môn Toán thì càng cần phải quan tâm, chú trọng nhiều. Toán học góp phần hình thành phát triển nhân cách của học sinh. Cung cấp tri thức ban đầu về số học, các số tự nhiên các phân số, các đại lượng cơ bản, một số yếu tố hình học đơn giản, ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Nếu học sinh chưa đạt chuẩn toán cũng là đồng nghĩa với việc các em phát triển chưa trọn vẹn nó ảnh hưởng đến tương lai của chính bản thân các em và cả xã hội. Ngay từ cấp tiểu học chúng ta cần tạo nền tảng vững chắc cho các em, bằng cách là không để cho học sinh chưa đạt chuẩn toán, đây là vấn đề mà mỗi giáo viên chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm.
I. Lí do chọn đề tài:
Nhất là những học sinh còn tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn về môn toán, thiếu tự tin dẫn đến lười học, không hoàn thành yêu cầu bài học, là một giáo viên chủ nhiệm thì tôi phải làm gì đối với những học sinh tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn về môn toán này? Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học.
Chính vì những lí do như tôi đã nêu ở trên, nên tôi mạnh dạn chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp giúp học sinh chưa đạt chuẩn môn toán lớp 5 học tập tiến bộ hơn ” là sáng kiến nhỏ được rút ra trong quá trình dạy học mong được góp phần nào vào việc tích lũy kinh nghiệm trong công tác dạy học.
II. Mục tiêu của đề tài.
* Tìm ra các biện pháp nhằm giúp học sinh hạn toán ở lớp 5, hực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặt ra của ngành giáo dục và cho mỗi giáo viên đứng lớp như bản thân tôi, là làm thế nào để nâng cao chất lượng học sinh, tránh để học sinh ngồi nhầm lớp. Chính vì thế, việc tìm hiểu về mức độ nắm và vận dụng kiến thức của từng học sinh là vô cùng quan trọng, từ đó mà để ra các biện pháp, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh thì hiệu quả giảng dạy sẽ cao hơn.
1. Mục tiêu tổng quát.
* Nhằm giúp học sinh tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn về môn toán nắm chắc kiến thức ngày càng vững vàng hơn, hăng say trong giờ học toán và làm nền tảng vững chắc cho các lớp trên. Bởi vì có những em, tiếp thu bài rất chậm và chưa chắc chắn, có những em nắm được nội dung lý thuyết nhưng khi vận dụng thực hành lại không áp dụng được, dẫn đến các em chán nản trong giờ học toán, dần dần các em sẽ không theo kịp các bạn ở môn toán.
- Môn toán lớp 5 chủ yếu là ôn luyện các kiến thức đã học ở các lớp dưới và vận dụng sâu hơn, vì vậy, những học sinh chưa nắm chắc các kiến thức các lớp dưới, đặc biệt là lớp 4 thì việc học toán lớp 5 trở nên vô cùng khó khăn. Cụ thể các mục tiêu đó là:
2. Mục tiêu cụ thể.
- Giúp HS có thói quen độc lập suy nghĩ, tự giác trong học tập, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật.
- Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo HS tiếp thu chậm và chưa đạt chuẩn.
Đó cũng chính là đạt được mục tiêu dạy học môn Toán ở lớp 5, để học sinh nắm vững kiến thức cũ và tiếp thu tốt kiến thức mới, giúp các em hứng thú trong học tập và cũng là để đạt được mục tiêu giáo dục của ngành, đáp ứng nguyện vọng của bản thân giáo viên, phụ huynh và học sinh.
2. Mục tiêu cụ thể.
* Trong năm học qua tôi đã theo dõi học sinh lớp tôi chủ nhiệm khi học môn Toán tôi thấy các em có một thói quen không tốt cho lắm đó là:
- Phần đa học sinh đọc đề bài toán qua loa sau đó làm bài ngay, làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, cho nên khi trả bài các em mới biết là mình sai.
- Các em chưa thuộc bảng nhân, chia; nên không nhớ cách cộng, trừ, nhân chia…
- Khả năng tính nhẩm kém chưa thuần thục dẫn đến tính toán chậm, thiếu chính xác khi thực hiện các phép tính với số có nhiều chữ số hay phân số, số thập phân
1. THỰC TRẠNG CHUNG
PHẦN II: NỘI DUNG, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
- Chưa có kỹ năng làm bài tập dạng trắc nghiệm, lười tính và thường chọn kết quả theo cảm tính hoặc xem bài của bạn.
*Tóm lại sự hạn chế môn toán lớp tôi, như tôi đã nêu lên 5 đặc điểm đó là:
+ Nhiều "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng , từ các lớp dưới bị quên nhiều, đặc biệt sau những tháng nghỉ COVID 19 và một tháng hè nên vào đầu năm học lớp 5, các em học sinh hầu như không còn nhớ gì kiến thức lớp dưới.
1. THỰC TRẠNG CHUNG.
+ Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng chậm .
+ Năng lực tư duy bị hạn chế .
+ Phương pháp học tập toán chưa tốt .
+ Thờ ơ với giờ học trên lớp.
+ Thường xuyên không ôn bài, làm bài tập ở nhà .
Kết quả khảo sát đầu năm học 2020- 2021 như sau:
Tuy nhiên, trong số học sinh trung bình vẫn còn một số em chưa nắm vững kiến thức còn “non” trong kỹ năng vận dụng và khả năng xuống loại rất cao, cũng cần phải bám sát và tăng cường phụ đạo thêm để không bị tụt bậc.
1. THỰC TRẠNG CHUNG .
* Sự hạn chế Toán ở học sinh được biểu hiện bằng nhiều hình, nhiều vẻ. Nhưng nhìn chung các em hạn chế Toán thường có các đặc điểm chung sau đây:
- Các em có nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kỹ năng trong học Toán.
- Các em tiếp thu bài còn chậm.
- Phương pháp học tập Toán của các em chưa tốt.
- Chưa tự giác học.
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế.
- Hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
- Lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô và bạn bè giúp đỡ.
- Sự tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
1. THỰC TRẠNG RIÊNG
1. Từ học sinh.
- Không chịu chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên.
- Học sinh đi học thất thường.
- Ở nhà các em chưa tự giác ôn bài, làm bài.
- Chưa lập được thời gian biểu hằng ngày.
- Hạn chế các cơ bản, cần thiết như(cộng, trừ, nhân, chia).
- Học vẹt, học đối phó không có khả năng vận dụng kiến thức.
1. Từ học sinh.
2. Từ giáo viên.
- Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng, chưa khắc sâu cho học sinh.
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH.
- Chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy.
- Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp.
- Năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế.
- Chưa động viên tuyên dương kịp thời.
- Chưa quan tâm đến từng đối tượng HS trong lớp.
- Hay chú trọng tới các em HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp.
- Tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không đánh giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy.
3. Từ phụ huynh.
- Thiếu sự quan tâm, thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà trường là chưa cao.
- Một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.
- Một bộ phận phụ huynh thường xuyên đi là ăn xa, bỏ mặc con cái cho ông bà già.
- Chưa động viên tuyên dương kịp thời đối với con cái.
1. Xây dựng môi trường học tập thân thiện:
- Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn cho học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập...
- Tôi luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng,…
- Bên cạnh đó, tôi phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ như tôi nên thay chê bai bằng khen ngợi và tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em…..
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
2. Phân loại các đối tượng học sinh:
- Tôi phải xem xét, phân loại những học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn đúng với đặc điểm vốn có của các em, để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em.
- Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài chậm, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
- Trong quá trình thiết kế bài học, tôi cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh hạn chế được củng cố và luyện tập phù hợp.
- Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
3. Phân loại các đối tượng học sinh:
- Yêu cầu của một tiết luyện tập là 4 bài tập chẳng hạn, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài là được, tuỳ theo khả năng của các em.
- Ngoài ra, tôi có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh chưa đạt chuẩn vào các tiết luyện hoặc dành thời gian ngoài giờ như buổi tối.
* Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui chơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
4. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:
- Trong mỗi tiết dạy tôi phải dùng nhiều kiến thức vào thực tế để các em được thoải mãi. Từ đó, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức.
- Bên cạnh đó, tôi phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ các em về thái độ học tập. Đồng thời, tôi phải phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập cho các em học ở nhà.
- Tôi đã phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm của gia đình, sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên.
- Phối hợp một cách nhịp nhàng và chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường thì dù các em có học chậm và không có ý thức trong học tập cỡ nào, nhất định rằng việc học của các em sẽ dần tiến bộ.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
5. Phân công kèm cặp học sinh hạn chế:
- Ngay từ đầu năm tôi cần phải khảo sát chất lượng để biết số lượng học sinh hạn chế là bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo. Như lớp 5D mà bản thân tôi đang chủ nhiệm, sau khi thi khảo sát chất lượng đầu năm thì có 6 học sinh hạn chế, bản thân đã lên kế hoạch phụ đạo cho các em.
- Lập danh sách học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn, cần chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết dạy, như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời câu hỏi, làm các bài tập đơn giản nhất, khen ngợi các em đó khi các em trả lời đúng, làm đúng…
II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHUNG.
1. Tìm các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh:
- Ngay từ đầu năm học, tôi đã lập kế hoạch và tìm phương pháp dạy học để giúp các em.
- Ngoài ra vào buổi tối hàng tuần tôi tới nhà học sinh, trao đổi với phụ huynh việc học ở nhà, quan sát góc học tập… rồi góp ý.
- Từ đó, nhờ phụ huynh kèm thêm ở nhà, theo dõi, kiểm tra, nhờ đó mà các em tiến bộ rõ rệt nhất là phần nhân, chia số có nhiều chữ số, cộng, trừ, nhân, chia phân số.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
2. Khuyến khích từng học sinh chủ động và tích cực hoạt động học tập đem lại kết quả cao nhất cho từng học sinh:
- Giáo viên không nên khắt khe đòi hỏi các em làm những bài tập quá sức, mà ra bài tập vừa sức các em làm được để các em có niềm tin trong học tập, và lúc đó giáo viên khen ngợi kịp thời tăng bài tập ở mức học sinh trung bình có thể làm được.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
3. Khơi dậy tính tò mò và năng lực của từng học sinh qua các hoạt động học tập nhằm khám phá để có được những hiểu biết theo bài học:
- Trong quá trình giảng dạy, ta cần có các đồ dùng trực quan đẹp, phù hợp với nội dung bài để học sinh hứng tú học tập, cần liên hệ thực tế và mở rộng kiến thức để các em áp dụng vào cuộc sống hằng ngày.
Ví dụ: Khi dạy về hỗn số, cần có mảnh bìa hình tròn, hình vuông hoặc quả cam để chia các phần bằng nhau. Khi dạy về đơn vị đo khối lượng cần có cân, các bài toán có lời văn nên có hình ảnh minh họa…
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
4. Coi học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học:
- Trong quá trình dạy học, người giáo viên tổ chức, hướng dẫn và là trọng tài khoa học. Mọi học sinh đều được hoạt động và phát triển.
- Giáo viên cần tránh nói nhiều và làm thay cho học sinh.
- Cần tổ chức cùng làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
5. Kết hợp với cha mẹ học sinh, tổ chức học ở nhà cho học sinh.
- Qua các buổi họp phụ huynh học sinh, các buổi thăm nhà học sinh giáo viên chủ động lên thời gian biểu cho các em học ở nhà, giáo dục cho các em tự giác học bài ở nhà.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
6. Thường xuyên kiểm tra kiến thức cũ, và giao bài khi buổi học kết thúc:
- Giáo viên đến lớp trước 15 phút để kiểm tra.
- Lớp phó học tập kiển tra thường xuyên Giáo viên khen thưởng khuyến khích tiến bộ của học sinh.
- Chia nhóm, phân công bạn giỏi kèm bạn hạn chế.
+ Bạn giỏi có trách nhiệm giúp các bạn hạn chế tiến bộ, để bạn hạn chế phải tiếp thu học hỏi.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
7. Dành thời gian, giảng giải kiến thức cũ mà học sinh chưa nắm vững:
- Muốn tiếp thu kiến thức mới thì học sinh phải nắm vững kiến thức cũ.
+ Qua các buổi phụ đạo hàng tuần giáo viên ôn tập và củng cố kiến thức cũ cho các em về đọc, viết số thập phân, các phép tính với số tự nhiên, phân số, số thập phân và giải toán có lời văn các dạng toán, các dạng toán về tỉ số phần trăm, toán về chu vi, diện tích các hình…
+ Tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố kiến thức từng chương qua các trò chơi.
III. BIỆN PHÁP CỦ THỂ
* Sau khi áp dụng các biện pháp phụ đạo cho học sinh hạn chế, thực tế cho thấy : Các em có ý thức hơn trong việc học Toán. Học sinh phấn khởi, tự tin hơn trong các tiết học. Các em thích học Toán, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Kết quả học tập Toán có tiến bộ rõ rệt, sự chiếm lĩnh kiến thức của các em.Vì vậy, khi phụ đạo cho các em hạn chế Toán, chúng ta cần kiên trì, nhẫn nại, không nôn nóng, dạy đến đâu cần cho học sinh nắm chắc đến đấy. Nói tóm lại “Phụ đạo học sinh hạn chế chưa đạt chuẩn Toán ở lớp 5”đã góp phần không nhỏ vào kết quả học tập của học sinh.
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
PHẦN III: KẾT QUẢ, ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
+ Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học kết quả học tập của học sinh chuyển biến rõ rệt, cụ thể như sau :
1. Tình hình phát biểu xây dựng bài:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 30%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 90%
2. Thái độ mạnh dạn, nhanh nhẹn, trong học Toán:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 20%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 80%
3. Chủ động tìm tòi học hỏi, hiểu kĩ và nhớ lâu hơn:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 30%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 80%
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Như vậy, qua kết quả trên cho thấy thái độ nhút nhát, thụ động, giảm dần thay vào đó là thái độ mạnh dạn, hăng say phát biểu chủ động chiếm lĩnh kiến thức tăng lên. Do đó kết quả học tập nâng cao rõ rệt. Kết quả trên góp phần hình thành con người toàn diện giúp học sinh vận dụng kết quả vào thực tiễn và là nền tảng vững chắc trên con đường học tập của các em.
Số liệu tổng hợp qua các kỳ kiểm tra, khảo sát của lớp năm học 2020-2021 như sau:
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
* Từ kết quả đạt được sau khi áp dụng Một số biện pháp tôi đã rút ra kết luận, đó là:
- Để không còn học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn, trước hết cần phải tiến hành việc điều tra, tìm hiểu cụ thể từng đối tượng học sinh cũng như theo dõi sự chuyển của từng em..
- Giáo viên phải nắm chắc chương trình, có kế hoạch giảng dạy phù hợp.
- Giáo viên cần phải nhiệt tình theo dõi sát học sinh để kịp thời bồi dưỡng, phụ đạo.
- Giáo viên phải nắm rõ từng đối tượng học sinh, phát hiện những chỗ hổng kiến thức của học sinh để có kế hoạch phụ đạo kịp thời
2. KẾT LUẬN
- Giáo viên cần có nhiều hình thức tổ chức dạy học để học sinh học tập nhẹ nhàng.
- Giáo viên phải luôn luôn tự học tự rèn để có kiến thức vững vàng, giúp học sinh học tập có kết quả.
- Giáo viên nên động viên, khen ngợi kịp thời các học sinh có tiến bộ nhằm thúc đẩy tinh thần thi đua học tập của các em.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
- Việc phụ đạo học sinh yếu cần thực hiện bằng nhiều con đường thông qua nhiều hình thức khác nhau và vận dụng một cách linh hoạt.
2. KẾT LUẬN
Giáo viên nên động viên, khen ngợi kịp thời các học sinh có tiến bộ nhằm thúc đẩy tinh thần thi đua học tập của các em.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
- Việc phụ đạo học sinh hạn chế cần thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và vận dụng một cách linh hoạt.
- Khi thực hiện phụ đạo học sinh hạn chế cần tránh xúc phạm đến nhân cách của học sinh, giáo viên cần có thái độ phù hợp và phải có tính kiên trì, yêu thương gần gũi với học sinh.
2. KẾT LUẬN
- Việc vận dụng sáng kiến này vào thực tế sẽ giúp học sinh hứng thú học tập môn toán hơn. Từ đó kết quả học tập sẽ tốt hơn sẽ không còn học sinh hạn chế và chưa đạt chuẩn trong nhà trường . Vì vậy khi phụ đạo học sinh giáo viên cần kiên trì, nhẫn nại ,không nôn nóng, theo tôi nghĩ chất lượng của học sinh là do người giáo viên quyết định
- Theo tôi khả năng áp dụng triển khai của kích nghiệm này với toàn bộ học sinh lớp 5 sẽ có hiệu quả và chất lượng rất cao, các em sẽ không còn lúng túng hay e ngại khi giải toán ,các em sẽ yêu môn toán hơn
3. TÍNH KHẢ THI ÁP DỤNG KÍCH NGHIỆM.
* Qua quá trình thực hiện và giảng dạy tôi thấy có những khó khăn cần đề xuất, kiến nghị như sau:
- BGH nhà trường và giáo viên đứng lớp cần kiên quyết thực hiện đúng nội dung cuộc vận động Hai không với 4 nội dung của BGD&ĐT, tránh để học sinh ngồi nhầm lớp chỉ vì thành tích.
- Tạo điều kiện về không gian và thời gian cho giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém.
4. KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT.
Sau một năm nghiên cứu và ứng dụng kinh nghiệm vào thực tế cụ thể là lớp 5D, bản thân tôi thấy các em đã có những tiến bộ vượt bậc .Tỷ lệ học sinh hạn chế không còn, tỷ lệ học sinh khá giỏi cũng được nâng lên .Tuy nhiên, kinh nghiệm bản thân còn có những hạn chế, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, Rất mong các bạn đồng nghiệp và hội đồng khoa học góp ý để đề tài hoàn thiện hơn.
4. KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
 







Các ý kiến mới nhất