tieng anh 5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: huỳnh chương
Ngày gửi: 11h:49' 23-02-2026
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: huỳnh chương
Ngày gửi: 11h:49' 23-02-2026
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TUY PHƯỚC
TRƯỜNG THCS TT TUY PHƯỚC
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG
TÁC GIẢNG DẠY THAM GIA HỘI THI GIÁO
VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 20202021
Tên biện pháp: Nâng cao khả năng tiếp thu và ghi
nhớ từ vựng môn Tiếng Anh
TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tuy Phước, tháng 12 năm 2020
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
“ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. ”
Như chúng ta đã biết, trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới, nhất là trong thời đại công nghệ phát triển hiện nay, việc học
ngoại ngữ đặc biệt là Tiếng Anh rất cần thiết. Để muốn thành công
trong tương lai chúng ta phải học Tiếng Anh, để chiếm lĩnh kiến
thức hàng đầu, để tìm kiếm thông tin mới nhất, để giao tiếp và giao
thương, để thăng tiến và thành công trong sự nghiệp và hiện tại để
đạt học sinh giỏi trong năm học và đậu vào các trường công lập cấp
ba bắt buộc học sinh phải có kiến thức Tiếng Anh nhất định … Vì
vậy, Tiếng Anh không những là công cụ giao tiếp hiệu quả hằng
ngày của giới trẻ, mà còn là một trong những môn học chính không
thể thiếu trong các trường phổ thông, và cũng là một trong những
môn thi bắt buộc trong các kỳ thi cuối cấp của học sinh đặc biệt là
kỳ thi tuyển 10 đối với học sinh THCS.
Từ vựng là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong Tiếng Anh
Có từ vựng học sinh có thể tiếp thu ngữ pháp cũng như rèn luyện các kỹ
năng Nghe, Nói, Đọc, Viết. Muốn giao tiếp, muốn phát huy các kỹ năng
chúng ta phải biết và hiểu được nhiều từ.
Mỗi giáo viên đều có những biện pháp và thủ thuật riêng trong quá trình
dạy học đặc biệt là trong việc dạy từ vựng.
Và câu hỏi “Làm thế nào để nâng cao chất lượng tiếp thu và ghi nhớ từ
vựng và cuối cùng là chất lượng giảng dạy bộ môn?”
Là một câu hỏi mà hầu như tất cả giáo viên đều rất trăn trở và suy
ngẫm. Đó cũng chính là lý do tôi quan tâm đến biện pháp nâng cao khả
năng tiếp thu và ghi nhớ từ vựng cho học sinh.
2. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
2.1. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp.
2.2. Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3. Hiệu quả của biện pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học và
giáo dục, phù hợp với đối tượng học sinh, thực tiễn nhà trường,
địa phương.
2.4. Các kết quả, minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp
dụng biện pháp.
2.1. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp.
Qua nhiều năm giảng dạy tiếp xúc với thực tiễn tình hình
học tâp của học sinh, các em luôn gặp rắc rối về vấn đề từ vựng
trong quá trình học và làm bài kiểm tra. Vì khả năng hiểu nghĩa và
nhớ từ không cao nên các em không tự tin và không đạt điểm cao
trong các bài tập về từ vựng như: xác định từ loại, chọn từ chính xác
điền vào câu, đọc đoạn văn trả lời câu hỏi hay viết lại câu với từ cho
sẵn và cơ bản là nói và viết theo chủ đề … Ngay cả trong những
năm gần đây học sinh có phần thi Nói vào cuối học kì nhưng đa số
các em đều soạn và học vẹt để đi thi chứ không thể sắp xếp câu chữ
để trình bày chủ đề một cách trôi chảy và mạch lạc khi các em bốc
trúng đề tài mà mình chưa học thuộc. Khả năng ghi nhớ từ của các
em không cao, tuy đã học qua rồi nhưng các em không nhớ và khắc
sâu. Ở trên lớp tôi thường xuyên kiểm tra từ vựng nhưng các em chỉ
học đối phó lúc đó nên khi kiểm tra lại thì các em đã quên. Khả
năng ghi nhớ từ vựng của học sinh trước khi áp dụng biện pháp khá
thấp dù có tăng theo hằng năm như sau:
Năm học 2017-2018: Có khoảng 37% học sinh hiểu và học
thuộc từ vựng.
Năm học 2018-2019: Có khoảng 44% học sinh hiểu và học
thuộc từ vựng.
Năm học 2019-2020: Có khoảng 51% học sinh hiểu và học
thuộc từ vựng.
Năm học 2020-2021: (Học Kì I) Có khoảng 58% học sinh
hiểu và học thuộc từ vựng.
2.2. Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.2.1. The use of techniques for communicating vocabulary at
secondary school. (Sử dụng các thủ thuật để dạy từ vựng ở trường
Trung học cơ sở)
2.2.2. Some of techiques or games to help the students remember
vocabulary. (Một số thủ thuật hoặc trò chơi giúp học sinh nhớ từ
đã học.)
2.2.3. Some ways of learning to help the students remember
vocabulary at everywhere. (Hướng dẫn học sinh một số cách tự
học TỪ MỚI như sau.)
2.2.1. The use of techniques for communicating
vocabulary at secondary school. (Sử dụng các thủ thuật
để dạy từ vựng ở trường Trung học cơ sở)
2.2.1.1. Explaination, example or definition. (Giải thích, cho
ví dụ hoặc định nghĩa)
Các ví dụ đơn giản, những lời giải thích hoặc định nghĩa sẽ giúp học
sinh không những hiểu nghĩa của từ một cách cụ thể mà còn có thể sử
dụng từ.
*Ví dụ : Unit 3: Peoples of Viet Nam - A Closer Look 1 ( SGK
English 8)
Khi dạy từ “Costume”, giáo viên hỏi học sinh “Shirts,
trousers, jeans, shorts are called costumes. A shirt is a kind of
costume. What does a kind of costume mean? Học sinh sẽ hiểu nghĩa
của từ trên là “Một loại trang phục”.
2.2.1.2. Drawing. (Vẽ)
Đối với một số từ, vẽ trên bảng thì rất là tốt cho giáo viên để giải
thích bởi vì nó có thể thu hút sự tâp trung của học sinh, tạo ra một
bầu không khí thư giãn cũng như kích thích khả năng đoán của học
sinh.
*Ví dụ: Dạy từ “Car” trong unit 7: Traffic – Getting Started
(SGK Tiếng Anh 7) chúng ta có thể phác họa như sau, học sinh sẽ
hiểu là “ô tô”
2.2.1.3. Guessing from context. (Đoán từ qua ngữ cảnh)
Đoán từ qua ngữ cảnh là một thủ thuật tốt để hiểu được cả nghĩa
của từ và cách dùng của từ. Học sinh sẽ phải nghĩ và cố gắng dùng
kiến thức của các em để đoán nghĩa của từ. Hơn nữa đoán từ qua
ngữ cảnh sẽ giúp các em tập trung suy nghĩ về những gì giáo viên
đang trình bày. Vì vậy, thủ thuật này được dùng đối với những từ
có liên quan đến tình huống thật và học sinh phải đọc cả câu mới
hiểu hết nghĩa của từ.
*Ví dụ: Khi dạy từ: skillful, skillfully, chúng ta có thể đưa vào ngữ
cảnh để giúp học sinh dễ hiểu như: Lan likes playing sports. She is
a skillful badminton player. She play badminton skillfully.
2.2.1.4. Relia or Objects. (Đồ vật thật)
Khi nhìn thấy các đồ vật thật này học sinh sẽ nhớ một thời gian dài
những gì các em đã thấy và đã học. Giáo viên có thể dùng bất cứ cái
gì có sẵn ở trong lớp học như các đồ vật ( a ruler, a notebooook, a
rubber, a compass, a school bag, a pencil, a pen, a pencil case… hoặc
đem theo những vật thật để dạy như các loại sách cho các môn học
(Math, English, Music, History, Physics, Geography, Literature,
Dictionary… trong Unit 1: My New School – A Closer Look 1 English 6)
2.2.1.5. Pictures. (Tranh ảnh)
Dùng tranh ảnh cũng là một cách rất tốt giúp học sinh hiểu được
những gì chúng ta truyền đạt. Dùng tranh photo, tranh in hay tranh vẽ
kích thích động cơ học tập của học sinh giúp các em hào hứng rất
nhiều. Nó làm tăng sự phỏng đoán của học sinh. Chúng ta có thể
dùng tranh để dạy các từ liên quan đến các hoạt động thường ngày
của cuộc sống, các thành viên trong gia đình, các danh lam thắng
cảnh, đền chùa của Việt Nam …
*Ví dụ: Từ Rural, urban…Unit 2: Life in the countryside (E 8)
Rural(a) thuộc nông thôn
Urban (a) thuộc thành phố
2.2.1.6. Flashcards or charts. (Bảng phụ hoặc sơ đồ)
Bảng phụ hoặc sơ đồ cũng là một thủ thuật tốt cho giáo viên để giải
thích từ vựng. Thủ thuật này được sử dụng cho những từ có thể được
in hoặc vẽ trên một bảng phụ bằng các bức tranh theo một sơ đồ.
*Ví dụ: Bảng với các phần của cơ thể con người (Knee, shoulder,
eyes, elbow, finger, cheek, chest, leg, foot, toe, …) trong Unit 3: My
Friends – A Closer Look 1 – Parts of the body (English 6).
2.2.1.7. Mime. (Cử chỉ, điệu bộ)
Cử chỉ, điệu bộ được dùng để dạy những từ vựng liên quan đến các
cử chỉ và các hành động. Giáo viên có thể hành động kết hợp với cử
chỉ của nét mặt để thể hiện một từ mới. Thủ thuật này sẽ hấp dẫn sự
chú ý của học sinh thể hiện qua các động tác như: quan sát, nghe và
đoán từ. Điều này giúp học sinh nhìn cử chỉ hay hành động, điệu bộ
để giúp học sinh nhớ được từ lâu hơn.
*Ví dụ: Unit 7: Health - English 7 Giáo viên có thể thể hiện thái
độ, nét mặt các từ “sickness, flu, headache, toothache, tired, week,
sick…” và yêu cầu học sinh đoán từ. Giáo viên có thể yêu cầu một
học sinh lên thể hiện trước lớp các thái độ trên. Các học sinh còn lại
đoán và trả lời qua câu hỏi “How does he/ she feel?”
She is tired.
2.2.1.8. Synonyms/Antonyms/Hyponymys. (Đồng nghĩa, trái
nghĩa, bao nghĩa)
Nếu một vài từ có từ đồng nghĩa, trái nghĩa và bao nghĩa, giáo viên
có thể sử dụng thủ thuật này để giải thích từ vựng.Thủ thuật này sẽ
mở rộng vốn từ của học sinh và khuyến khích học sinh có khả năng
phỏng đoán và được áp dụng cho những loại từ sau: Từ chỉ kích cỡ
như ( tall, thin, strong, wide… # short, fat, weak, narrow…), Từ chỉ
thời gian như ( morning, dawn, sunrise… # evening, dusk,
sunset…), từ chỉ quan hệ gia đình như ( brother, mother, aunt,…#
sister, father, uncle,…) đối với từ trái nghĩa.
*Ví dụ: Khi chúng ta giải thích từ “holliday” Chúng ta có thể hỏi
như sau: What is another word for “ holiday”?
-> Holiday= Vacation (Từ đồng nghĩa)
Antonymy ( trái nghĩa)
Hyponymy (bao nghĩa)
seat
2.2.1.9. Guessing from sterms and affixes. (Đoán từ qua
tiền tố và hậu tố)
Giáo viên có thể chia một từ thành các tiền tố và hậu tố để giúp học
sinh hiểu từ bởi vì đôi lúc các em có thể hiểu được các tiền tố và hậu
tố đó hoặc những phần của từ đã phân chia nhưng các em lại không
hiểu cả từ. Đoán từ bằng tiền tố và hậu tố được sử dụng để dạy
những từ mà được tạo bởi các phần riêng biệt hoặc ta thêm các tiền
tố và hậu tố này để tạo ra nhiều từ loại của từ. Chung ta cũng nên
cho đa dạng về các loại từ khi dạy từ vựng để học sinh nắm bởi dạng
bài tập “Xác định từ loại chính xác” cũng xuất hiện trong bài kiểm
tra của học như đề thi tuyển vào 10 trong những năm học vừa qua.
*Ví dụ: Khi dạy động từ “deny” giáo viên có thể thêm tiền tố “un”
và hậu tố “able” để tạo tính từ “undeniable” bằng cách phân tích:
undeniable un deni
able
(a)
(not) (deny) (ability)
2.2.1.10. Semantic field. (Nhóm từ theo cùng một lĩnh vực
ngữ nghĩa)
Giáo viên có thể đưa ra một chuỗi từ có liên quan đến từ cần giải
thích để hướng dẫn học sinh. Sử dụng thủ thuật này cung cấp cho các
em nhiều từ vựng cùng một lĩnh vực ngữ nghĩa nên các em biết thêm
khá nhiều từ vựng.
*Ví dụ: Unit 1: My New School – Getting started (SGK
Tiếng Anh 6) khi dạy từ “Schoolbag” học sinh biết khá nhiều từ liên
quan như: ruler, notebook, textbook, pencil case, compass,
calculator, rubber, pencil sharpener, …
2.2.2. Some of techiques or games to help the students
remember vocabulary. (Một số thủ thuật hoặc trò chơi
giúp học sinh nhớ từ đã học.)
Có rất nhiều các thủ thuật cụ thể là các trò chơi giúp học sinh
nhớ từ lâu ngay tại lớp học và mục đích là giúp học sinh nhớ nghĩa và
đọc tốt. Sau đây là những trò chơi khá phổ biến cũng như dễ dàng
cho học sinh hoạt động nhưng lại tạo hứng thú cho các em, giúp các
em say mê và yêu thích môn học nhiều hơn. Đồng thời tạo môi
trường học tập hứng khởi và vui vẻ.
2.2.2.1. Rub out and remember (Xóa và nhớ)
Giáo viên cần ôn lại các từ mới trên bảng vừa dạy, cho học
sinh đọc lại 2 lần để ghi nhớ. Sau đó xóa dần từng từ Tiếng Anh và
yêu cầu học sinh nhìn lại từ Tiếng Việt để đọc lại từ Tiếng Anh. Khi
các từ Tiếng Anh đã được xóa hết yêu cầu học sinh lên bảng viết lại.
Có thể thực hiện trò chơi này theo hình thức cá nhân, đội, nhóm.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 8: Sports and Games – Lesson : A
Closer Look 1, giáo viên sử dụng các game “Rub out and
remember” để kiểm tra các từ mới vừa dạy.
racket (n) cái vợt
(n) cái vợt
goggles (n) kính bơi
kính bơi
……… racket (n) cái vợt
.…… (n) goggles
bơi
(n)
kính
skateboard (n) ván
skateboard (n) ván trượt
....……… (n) trượt
2.2.2.2. Slap the board (Vỗ vào bảng)
Giáo viên viết từ mới bằng Tiếng việt hoặc dán tranh lên bảng.
Giáo viên gọi 2 đội hoặc 2 nhóm học sinh lên bảng.Yêu cầu các nhóm
học sinh đứng một khoảng cách so với bảng là như nhau. Khi giáo
viên giáo viên hô to từ Tiếng Việt nếu trên bảng bằng tiếng Anh và
ngược lại. (nếu dùng tranh thì hô to bằng Tiếng Anh) thì học sinh của
2 đội vỗ vào từ hoặc tranh. Đội nào vỗ được nhiều từ sẽ chiến thắng.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 11: Our Greener World – Lesson: Getting
started, giáo viên sử dụng các game Slap the board để kiểm tra các
từ: “environment, pollution, plastic bag, deforestation…”
environment
pollution
deforestation
Plastic bag
store
reusable
flood
2.2.2.3. What and Where (Cái gì và ở đâu)
Viết một số từ trong bài lên bảng không theo một trật tự
nhất định và khoanh tròn chúng lại. Xoá một từ nhưng không xoá
vòng tròn bên ngoài. Cho học sinh lặp lại các từ kể cả từ bị xoá.
Xoá từ khác cho đến khi xoá hết các từ (chỉ còn lại những khoanh
tròn). Cho học sinh lên bảng viết lại hoặc đọc lại các từ đã xóa
historic
2.2.2.4. Odd one out: (Loại một từ)
Giáo viên sử dụng phương pháp này để có thể kiểm tra nghĩa
của nhiều từ cùng một lúc. Với thủ thuật này giáo viên vừa giúp học
sinh nhớ lại kiến thức cũ đồng thời ôn lại kiến thức học sinh vừa
mới được học một cách rất hiệu quả. Đối với trò chơi này giáo viên
cần phải chuẩn bị các từ cho sẵn trên tờ giấy A2 hoặc chiếu lên màn
hình. Giáo viên có thể tổ chúc trò chơi này theo 4 nhóm. Học sinh
tìm từ loại bỏ không phù hợp. Trong thời gian nhất định, nhóm nào
tìm được nhiều từ chính xác và nhanh nhất sẽ thắng.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 1: My New School – Leson: A Closer Look
1, giáo viên có thể sử dụng trò chơi “Odd one out” để kiểm tra từ.
Circle the odd one out
a) English
b) Football
History
Judo
Music
Science
Exercise
Karate
2.2.2.5. Jumbled word (Từ lộn xộn)
Giáo viên chuẩn bị bảng phụ và trên bảng phụ ghi những từ giáo viên
muốn kiểm tra sau khi dạy từ, hoặc giáo viên có thể soạn bằng
powerpoint để chiếu lên màn hình. Giáo viên lớp thành 2 nhóm, mỗi
nhóm 3 em. Giáo viên lần lượt gọi từng cặp thành viên của 2 nhóm lên
sắp xếp lại vị trí các chữ cái trong từ đúng vị trí để tạo thành từ có
nghĩa. Trong thời gian nhất định, nhóm nào tìm được nhiều từ chính
xác và nhanh nhất sẽ thắng.
2.2.2.6. Matching (Ghép)
* Chuẩn bị đối với giáo viên: Giáo viên viết các từ mới
Tiếng anh cần kiểm tra lại giúp học sinh nhớ từ vào cột thứ nhất.
Viết ý nghĩa, từ Tiếng Việt, hoặc tranh vẽ vào cột thứ hai không
theo thứ tự của các từ ở cột thứ nhất.
* Cách tổ chức trò chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm
mỗi nhóm 3 em. Yêu cầu học sinh ghép từ Tiếng anh ở cột thứ nhất
tương với từ Tiếng việt, ý nghĩa hoặc tranh ở cột thứ hai. Lần lượt
gọi từng thành viên của 2 nhóm lên sắp xếp. Trong thời gian nhất
định, nhóm nào hoàn thành nhanh, đúng sẽ thắng cuộc.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 1: My New School – Lesson: Getting
started, giáo viên sử dụng trò chơi “Matching” để kiểm tra từ.
“Match the words in Column A with the right pictures in Colum
B”
2.2.2.7. Guess the picture ( Đoán tranh)
Giáo viên vẽ hoặc photo một số tranh đơn giản minh hoạ một
số từ cần ôn tập trên giấy A4; cho một học sinh lên chọn một bức
tranh ( không cho những học sinh khác thấy); những học sinh khác
đoán xem đó là tranh gì bằng cách hỏi: “ Is it a……………..?” ; học
sinh đoán đúng sẽ lên thay cho em trước.
*Ví dụ: Bảng với các phương tiện giao thông để các em có thể nhìn
tổng thể và so sánh các loại phương tiện với nhau (motor, bicycle,
car, plane, train, bus …) trong Unit 7: Traffic – Getting Started
(SGK Tiếng Anh 7)
2.2.2.8. Sy-lla-ble search: (Tìm vần)
Đây là loại trò chơi từ vựng. Nhằm mục đích giúp học sinh
ôn tập lại các từ đã học trong bài. Đối với trò chơi này giáo viên
cần phải chuẩn bị các mảnh ghép các âm tiết kề nhau bị tách rời từ
những từ có nghĩa được ghép vào nhau viết lên tờ giấy A2 hoặc
chiếu lên màn hình. Hình thức tổ chức trò chơi này có thể chia lớp
thành 4 nhóm. Học sinh tìm và ghép các âm tiết đó lại với nhau để
tạo thành từ có nghĩa. Trong thời gian nhất định, nhóm nào ghép
được nhiều từ có nghĩa chính xác và nhanh nhất sẽ thắng.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 7: Television – Lesson: A Closer Look 1,
giáo viên sử dụng trò chơi “Sy-lla-ble search ” để kiểm tra từ.
mote
control
Wea-
man
sreaM-
Re-
dule
TVC
ther
sche-
der
1. MC
4. Newsreader
Vie-
wer
New-
2. Viewer
5. Remote control
3. TV Schedule
6. Weatherman
2.2.3. Some ways of learning to help the students
remember vocabulary at everywhere. (Hướng dẫn học
sinh một số cách tự học TỪ MỚI như sau.)
2.2.3.1. Trong khi học từ mới các em phải luôn luôn
đọc to từ mình đang học để nhớ cách phát âm trước rồi sau
đó mới tập viết từng từ 1 ít nhất là 5 lần.
2.2.3.2. Nên có 1 quyển sổ tay học từ vựng và luôn mang
theo mỗi ngày. Sau khi đã thuộc xong bao nhiêu từ vựng
ta lập tức liệt kê các từ này vào trong sổ. Lâu dần
khoảng 1 tuần ta lật lại quyển sổ tay học từ
vựng có thể sắp xếp từ vựng trong sổ tay
theo nhiều nhóm. eg: theo nhóm trái cây,
màu sắc hoặc quần áo, nhóm động từ bất qui
tắc, hoặc nhóm giới từ…
2.2.3.3. Ghi lại các từ tiếng Anh đọc được hay nghe được khi
xem chương trình ti vi, hoặc tình cờ gặp.
2.2.3.4. Làm những mẩu giấy nhỏ mỗi ngày viết
5 từ vào mẫu giấy nhỏ bỏ vào túi lúc nào rảnh
mang ra học.
2.2.3.5. Dùng bút dạ để làm nổi bật các từ mới trong 1 đoạn
văn, hoặc gạch chân, các từ này sẽ nổi bật lên trong câu. Khi
ta hiểu hết nghĩa của câu thì từ mới này các em cũng sẽ dễ
thuộc nghĩa
2.2.3.6. Học từ vựng qua các đồ vật trong gia
đình: Viết các từ mới vào mẫu giấy và dán mẫu
giấy vào các đồ vật trong gia đình có nghĩa
tương ứng với tên của đồ vật.
Eg:
table, chair, television…
tiếng Anh: bằng cách dán những mẩu giấy
vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu
trong nhà ta đều nhìn thấy những từ ghi trên đó.
Khi đã thuộc những từ này rồi, ta thay bằng
những từ mới.
2.2.3.8. Chơi các trò chơi về từ cũng là một cách học từ vựng.
2.2.3.8. Chơi các trò chơi về từ cũng là một cách học từ vựng.
2.2.3.9. Học từ vựng nhờ vào hình ảnh
Có 1 cách học từ vựng rất hay đó là "học từ vựng
qua hình ảnh". Không cần phải giải thích thêm
chắc bạn cũng biết là hình luôn có ý nghĩa và
tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn chữ.
2.3. Hiệu quả của biện pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy
học và giáo dục, phù hợp với đối tượng học sinh, thực tiễn
nhà trường, địa phương.
Trước đây, phương pháp chủ đạo trong dạy và học là thầy đọc-trò
chép thì thực tế cho thấy chỉ có khoảng 15% - 20% học sinh suy
nghĩ và làm việc tích cực, số học sinh còn lại cũng chỉ ghi bài và
lắng nghe một cách thụ động, máy móc mà không hiểu được nội
dung bài. Hiện nay với sự xuất hiện các phương pháp dạy học tích
cực sơ đồ tư duy, ứng dụng CNTT, phần mềm ngoại ngữ,
powerpoint và bảng tương tác… thì càng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh và chắc chắn những cái mới sẽ đem lại hiệu quả
tích cực cho HS và đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học và giáo
dục, rất phù hợp với từng đối tượng học sinh. Biện pháp này cũng
không mất quá nhiều kinh phí nên khá phù hợp với thực tiễn nhà
trường và địa phương chủ yếu mỗi giáo viên cần đầu tư cho giảng
dạy, bỏ một chút công sức trong mỗi bài học thì sẽ đem lại hiệu quả
cao về chất lượng cho bộ môn Tiếng Anh nói riêng và học sinh nói
2.4. Các kết quả, minh chứng về sự tiến bộ của học sinh
khi áp dụng biện pháp.
Qua thực tế giảng dạy các năm qua với phương pháp dạy học mới,
trong các tiết dạy, tôi nhận thấy với các kỹ thủ thuật dạy từ mới như
trên nhiều học sinh có thể nắm bắt ngay tại lớp. Các em rất hào hứng
và sôi nổi trong học tập. Các em đã có thể đoán được nhiều từ mới
qua ngữ cảnh, tình huống, chủ đề, tranh ảnh, điệu bộ…Nhiều em học
sinh trước đây rất nhút nhát, không dám nói trước lớp thì giờ đây đã
tự tin khi giao tiếp, nhiều em học sinh yếu cũng tham gia phát biểu
mỗi khi nhìn tranh, điệu bộ, vẽ … của giáo viên khi giải thích từ. Tôi
đã tạo cho các em nhiều tình huống cụ thể để các em có thể khắc sâu
được nhiều từ, đặc biệt là các từ khó. Trên thực tế trong những năm
qua có thấy sự tiến bộ trong khả năng hiểu và nhớ từ của học sinh
nhất là trong 2 năm học: 2018-2019 và 2019-2020 vừa qua đối với
tất cả các khối lớp 6,7,8,9.
Năm học 2017-2018: Có khoảng 51% học sinh hiểu và học thuộc từ
vựng. (tăng 14%) so với trước khi dùng biện pháp.
Năm học 2018-2019: Có khoảng 63% học sinh hiểu và học thuộc từ
vựng. (tăng 19%) so với trước khi dùng biện pháp
Năm học 2019-2020: Có khoảng 72% học sinh hiểu và học thuộc từ
vựng. (tăng 23%) so với trước khi dùng biện pháp
Năm học 2020-2021: (Học Kì I) Có khoảng 83% học sinh hiểu và
học thuộc từ vựng. (tăng 25% ) so với trước khi dùng biện pháp.
Đối chiếu với thực trạng trước khi sử dụng biện pháp thì tỷ lệ học
sinh tiếp thu và ghi nhớ từ vựng ngày một tăng cao theo hằng năm.
Năm học 2018-2019 kết quả trung bình môn cuối học kì của khối 6
đạt trên 90%, khối 7 đạt trên 92%.
Năm học 2019-2020 kết quả trung bình môn cuối học kì của khối 8
đạt trên 95%, khối 9 đạt trên 95%.
3. KẾT LUẬN
Để khai thác từ vựng và việc dạy, học từ đạt kết quả cao, bên
cạnh việc sử dụng các thủ thuật khai thác từ vựng giáo viên nên
hướng dẫn cách học từ vựng ở nhà như đã trình bày ở trên và kiểm
tra thường xuyên. Ngoài ra giáo viên cũng thường xuyên thay đổi
cách kiểm tra từ vựng bằng cách lồng ghép thông qua các trò chơ
như: Slap The Board, Jumble Words, Networds, Rub Out And
Remember, Matching, What and Where, Guess The Pictures,… như
đã trình bày trên.
Hơn thế nữa, người giáo viên cần phải luôn luôn trau dồi các
kỹ năng dạy học của mình bằng phương pháp tự sưu tầm sách và
học hỏi các bạn đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn của
mình đem lại những giờ học bổ ích cho các em học sinh nhằm giúp
các em đạt kết quả học tập cao hơn nữa.
TRƯỜNG THCS TT TUY PHƯỚC
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG
TÁC GIẢNG DẠY THAM GIA HỘI THI GIÁO
VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 20202021
Tên biện pháp: Nâng cao khả năng tiếp thu và ghi
nhớ từ vựng môn Tiếng Anh
TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tuy Phước, tháng 12 năm 2020
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
“ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. ”
Như chúng ta đã biết, trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới, nhất là trong thời đại công nghệ phát triển hiện nay, việc học
ngoại ngữ đặc biệt là Tiếng Anh rất cần thiết. Để muốn thành công
trong tương lai chúng ta phải học Tiếng Anh, để chiếm lĩnh kiến
thức hàng đầu, để tìm kiếm thông tin mới nhất, để giao tiếp và giao
thương, để thăng tiến và thành công trong sự nghiệp và hiện tại để
đạt học sinh giỏi trong năm học và đậu vào các trường công lập cấp
ba bắt buộc học sinh phải có kiến thức Tiếng Anh nhất định … Vì
vậy, Tiếng Anh không những là công cụ giao tiếp hiệu quả hằng
ngày của giới trẻ, mà còn là một trong những môn học chính không
thể thiếu trong các trường phổ thông, và cũng là một trong những
môn thi bắt buộc trong các kỳ thi cuối cấp của học sinh đặc biệt là
kỳ thi tuyển 10 đối với học sinh THCS.
Từ vựng là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong Tiếng Anh
Có từ vựng học sinh có thể tiếp thu ngữ pháp cũng như rèn luyện các kỹ
năng Nghe, Nói, Đọc, Viết. Muốn giao tiếp, muốn phát huy các kỹ năng
chúng ta phải biết và hiểu được nhiều từ.
Mỗi giáo viên đều có những biện pháp và thủ thuật riêng trong quá trình
dạy học đặc biệt là trong việc dạy từ vựng.
Và câu hỏi “Làm thế nào để nâng cao chất lượng tiếp thu và ghi nhớ từ
vựng và cuối cùng là chất lượng giảng dạy bộ môn?”
Là một câu hỏi mà hầu như tất cả giáo viên đều rất trăn trở và suy
ngẫm. Đó cũng chính là lý do tôi quan tâm đến biện pháp nâng cao khả
năng tiếp thu và ghi nhớ từ vựng cho học sinh.
2. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
2.1. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp.
2.2. Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3. Hiệu quả của biện pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học và
giáo dục, phù hợp với đối tượng học sinh, thực tiễn nhà trường,
địa phương.
2.4. Các kết quả, minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp
dụng biện pháp.
2.1. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp.
Qua nhiều năm giảng dạy tiếp xúc với thực tiễn tình hình
học tâp của học sinh, các em luôn gặp rắc rối về vấn đề từ vựng
trong quá trình học và làm bài kiểm tra. Vì khả năng hiểu nghĩa và
nhớ từ không cao nên các em không tự tin và không đạt điểm cao
trong các bài tập về từ vựng như: xác định từ loại, chọn từ chính xác
điền vào câu, đọc đoạn văn trả lời câu hỏi hay viết lại câu với từ cho
sẵn và cơ bản là nói và viết theo chủ đề … Ngay cả trong những
năm gần đây học sinh có phần thi Nói vào cuối học kì nhưng đa số
các em đều soạn và học vẹt để đi thi chứ không thể sắp xếp câu chữ
để trình bày chủ đề một cách trôi chảy và mạch lạc khi các em bốc
trúng đề tài mà mình chưa học thuộc. Khả năng ghi nhớ từ của các
em không cao, tuy đã học qua rồi nhưng các em không nhớ và khắc
sâu. Ở trên lớp tôi thường xuyên kiểm tra từ vựng nhưng các em chỉ
học đối phó lúc đó nên khi kiểm tra lại thì các em đã quên. Khả
năng ghi nhớ từ vựng của học sinh trước khi áp dụng biện pháp khá
thấp dù có tăng theo hằng năm như sau:
Năm học 2017-2018: Có khoảng 37% học sinh hiểu và học
thuộc từ vựng.
Năm học 2018-2019: Có khoảng 44% học sinh hiểu và học
thuộc từ vựng.
Năm học 2019-2020: Có khoảng 51% học sinh hiểu và học
thuộc từ vựng.
Năm học 2020-2021: (Học Kì I) Có khoảng 58% học sinh
hiểu và học thuộc từ vựng.
2.2. Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.2.1. The use of techniques for communicating vocabulary at
secondary school. (Sử dụng các thủ thuật để dạy từ vựng ở trường
Trung học cơ sở)
2.2.2. Some of techiques or games to help the students remember
vocabulary. (Một số thủ thuật hoặc trò chơi giúp học sinh nhớ từ
đã học.)
2.2.3. Some ways of learning to help the students remember
vocabulary at everywhere. (Hướng dẫn học sinh một số cách tự
học TỪ MỚI như sau.)
2.2.1. The use of techniques for communicating
vocabulary at secondary school. (Sử dụng các thủ thuật
để dạy từ vựng ở trường Trung học cơ sở)
2.2.1.1. Explaination, example or definition. (Giải thích, cho
ví dụ hoặc định nghĩa)
Các ví dụ đơn giản, những lời giải thích hoặc định nghĩa sẽ giúp học
sinh không những hiểu nghĩa của từ một cách cụ thể mà còn có thể sử
dụng từ.
*Ví dụ : Unit 3: Peoples of Viet Nam - A Closer Look 1 ( SGK
English 8)
Khi dạy từ “Costume”, giáo viên hỏi học sinh “Shirts,
trousers, jeans, shorts are called costumes. A shirt is a kind of
costume. What does a kind of costume mean? Học sinh sẽ hiểu nghĩa
của từ trên là “Một loại trang phục”.
2.2.1.2. Drawing. (Vẽ)
Đối với một số từ, vẽ trên bảng thì rất là tốt cho giáo viên để giải
thích bởi vì nó có thể thu hút sự tâp trung của học sinh, tạo ra một
bầu không khí thư giãn cũng như kích thích khả năng đoán của học
sinh.
*Ví dụ: Dạy từ “Car” trong unit 7: Traffic – Getting Started
(SGK Tiếng Anh 7) chúng ta có thể phác họa như sau, học sinh sẽ
hiểu là “ô tô”
2.2.1.3. Guessing from context. (Đoán từ qua ngữ cảnh)
Đoán từ qua ngữ cảnh là một thủ thuật tốt để hiểu được cả nghĩa
của từ và cách dùng của từ. Học sinh sẽ phải nghĩ và cố gắng dùng
kiến thức của các em để đoán nghĩa của từ. Hơn nữa đoán từ qua
ngữ cảnh sẽ giúp các em tập trung suy nghĩ về những gì giáo viên
đang trình bày. Vì vậy, thủ thuật này được dùng đối với những từ
có liên quan đến tình huống thật và học sinh phải đọc cả câu mới
hiểu hết nghĩa của từ.
*Ví dụ: Khi dạy từ: skillful, skillfully, chúng ta có thể đưa vào ngữ
cảnh để giúp học sinh dễ hiểu như: Lan likes playing sports. She is
a skillful badminton player. She play badminton skillfully.
2.2.1.4. Relia or Objects. (Đồ vật thật)
Khi nhìn thấy các đồ vật thật này học sinh sẽ nhớ một thời gian dài
những gì các em đã thấy và đã học. Giáo viên có thể dùng bất cứ cái
gì có sẵn ở trong lớp học như các đồ vật ( a ruler, a notebooook, a
rubber, a compass, a school bag, a pencil, a pen, a pencil case… hoặc
đem theo những vật thật để dạy như các loại sách cho các môn học
(Math, English, Music, History, Physics, Geography, Literature,
Dictionary… trong Unit 1: My New School – A Closer Look 1 English 6)
2.2.1.5. Pictures. (Tranh ảnh)
Dùng tranh ảnh cũng là một cách rất tốt giúp học sinh hiểu được
những gì chúng ta truyền đạt. Dùng tranh photo, tranh in hay tranh vẽ
kích thích động cơ học tập của học sinh giúp các em hào hứng rất
nhiều. Nó làm tăng sự phỏng đoán của học sinh. Chúng ta có thể
dùng tranh để dạy các từ liên quan đến các hoạt động thường ngày
của cuộc sống, các thành viên trong gia đình, các danh lam thắng
cảnh, đền chùa của Việt Nam …
*Ví dụ: Từ Rural, urban…Unit 2: Life in the countryside (E 8)
Rural(a) thuộc nông thôn
Urban (a) thuộc thành phố
2.2.1.6. Flashcards or charts. (Bảng phụ hoặc sơ đồ)
Bảng phụ hoặc sơ đồ cũng là một thủ thuật tốt cho giáo viên để giải
thích từ vựng. Thủ thuật này được sử dụng cho những từ có thể được
in hoặc vẽ trên một bảng phụ bằng các bức tranh theo một sơ đồ.
*Ví dụ: Bảng với các phần của cơ thể con người (Knee, shoulder,
eyes, elbow, finger, cheek, chest, leg, foot, toe, …) trong Unit 3: My
Friends – A Closer Look 1 – Parts of the body (English 6).
2.2.1.7. Mime. (Cử chỉ, điệu bộ)
Cử chỉ, điệu bộ được dùng để dạy những từ vựng liên quan đến các
cử chỉ và các hành động. Giáo viên có thể hành động kết hợp với cử
chỉ của nét mặt để thể hiện một từ mới. Thủ thuật này sẽ hấp dẫn sự
chú ý của học sinh thể hiện qua các động tác như: quan sát, nghe và
đoán từ. Điều này giúp học sinh nhìn cử chỉ hay hành động, điệu bộ
để giúp học sinh nhớ được từ lâu hơn.
*Ví dụ: Unit 7: Health - English 7 Giáo viên có thể thể hiện thái
độ, nét mặt các từ “sickness, flu, headache, toothache, tired, week,
sick…” và yêu cầu học sinh đoán từ. Giáo viên có thể yêu cầu một
học sinh lên thể hiện trước lớp các thái độ trên. Các học sinh còn lại
đoán và trả lời qua câu hỏi “How does he/ she feel?”
She is tired.
2.2.1.8. Synonyms/Antonyms/Hyponymys. (Đồng nghĩa, trái
nghĩa, bao nghĩa)
Nếu một vài từ có từ đồng nghĩa, trái nghĩa và bao nghĩa, giáo viên
có thể sử dụng thủ thuật này để giải thích từ vựng.Thủ thuật này sẽ
mở rộng vốn từ của học sinh và khuyến khích học sinh có khả năng
phỏng đoán và được áp dụng cho những loại từ sau: Từ chỉ kích cỡ
như ( tall, thin, strong, wide… # short, fat, weak, narrow…), Từ chỉ
thời gian như ( morning, dawn, sunrise… # evening, dusk,
sunset…), từ chỉ quan hệ gia đình như ( brother, mother, aunt,…#
sister, father, uncle,…) đối với từ trái nghĩa.
*Ví dụ: Khi chúng ta giải thích từ “holliday” Chúng ta có thể hỏi
như sau: What is another word for “ holiday”?
-> Holiday= Vacation (Từ đồng nghĩa)
Antonymy ( trái nghĩa)
Hyponymy (bao nghĩa)
seat
2.2.1.9. Guessing from sterms and affixes. (Đoán từ qua
tiền tố và hậu tố)
Giáo viên có thể chia một từ thành các tiền tố và hậu tố để giúp học
sinh hiểu từ bởi vì đôi lúc các em có thể hiểu được các tiền tố và hậu
tố đó hoặc những phần của từ đã phân chia nhưng các em lại không
hiểu cả từ. Đoán từ bằng tiền tố và hậu tố được sử dụng để dạy
những từ mà được tạo bởi các phần riêng biệt hoặc ta thêm các tiền
tố và hậu tố này để tạo ra nhiều từ loại của từ. Chung ta cũng nên
cho đa dạng về các loại từ khi dạy từ vựng để học sinh nắm bởi dạng
bài tập “Xác định từ loại chính xác” cũng xuất hiện trong bài kiểm
tra của học như đề thi tuyển vào 10 trong những năm học vừa qua.
*Ví dụ: Khi dạy động từ “deny” giáo viên có thể thêm tiền tố “un”
và hậu tố “able” để tạo tính từ “undeniable” bằng cách phân tích:
undeniable un deni
able
(a)
(not) (deny) (ability)
2.2.1.10. Semantic field. (Nhóm từ theo cùng một lĩnh vực
ngữ nghĩa)
Giáo viên có thể đưa ra một chuỗi từ có liên quan đến từ cần giải
thích để hướng dẫn học sinh. Sử dụng thủ thuật này cung cấp cho các
em nhiều từ vựng cùng một lĩnh vực ngữ nghĩa nên các em biết thêm
khá nhiều từ vựng.
*Ví dụ: Unit 1: My New School – Getting started (SGK
Tiếng Anh 6) khi dạy từ “Schoolbag” học sinh biết khá nhiều từ liên
quan như: ruler, notebook, textbook, pencil case, compass,
calculator, rubber, pencil sharpener, …
2.2.2. Some of techiques or games to help the students
remember vocabulary. (Một số thủ thuật hoặc trò chơi
giúp học sinh nhớ từ đã học.)
Có rất nhiều các thủ thuật cụ thể là các trò chơi giúp học sinh
nhớ từ lâu ngay tại lớp học và mục đích là giúp học sinh nhớ nghĩa và
đọc tốt. Sau đây là những trò chơi khá phổ biến cũng như dễ dàng
cho học sinh hoạt động nhưng lại tạo hứng thú cho các em, giúp các
em say mê và yêu thích môn học nhiều hơn. Đồng thời tạo môi
trường học tập hứng khởi và vui vẻ.
2.2.2.1. Rub out and remember (Xóa và nhớ)
Giáo viên cần ôn lại các từ mới trên bảng vừa dạy, cho học
sinh đọc lại 2 lần để ghi nhớ. Sau đó xóa dần từng từ Tiếng Anh và
yêu cầu học sinh nhìn lại từ Tiếng Việt để đọc lại từ Tiếng Anh. Khi
các từ Tiếng Anh đã được xóa hết yêu cầu học sinh lên bảng viết lại.
Có thể thực hiện trò chơi này theo hình thức cá nhân, đội, nhóm.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 8: Sports and Games – Lesson : A
Closer Look 1, giáo viên sử dụng các game “Rub out and
remember” để kiểm tra các từ mới vừa dạy.
racket (n) cái vợt
(n) cái vợt
goggles (n) kính bơi
kính bơi
……… racket (n) cái vợt
.…… (n) goggles
bơi
(n)
kính
skateboard (n) ván
skateboard (n) ván trượt
....……… (n) trượt
2.2.2.2. Slap the board (Vỗ vào bảng)
Giáo viên viết từ mới bằng Tiếng việt hoặc dán tranh lên bảng.
Giáo viên gọi 2 đội hoặc 2 nhóm học sinh lên bảng.Yêu cầu các nhóm
học sinh đứng một khoảng cách so với bảng là như nhau. Khi giáo
viên giáo viên hô to từ Tiếng Việt nếu trên bảng bằng tiếng Anh và
ngược lại. (nếu dùng tranh thì hô to bằng Tiếng Anh) thì học sinh của
2 đội vỗ vào từ hoặc tranh. Đội nào vỗ được nhiều từ sẽ chiến thắng.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 11: Our Greener World – Lesson: Getting
started, giáo viên sử dụng các game Slap the board để kiểm tra các
từ: “environment, pollution, plastic bag, deforestation…”
environment
pollution
deforestation
Plastic bag
store
reusable
flood
2.2.2.3. What and Where (Cái gì và ở đâu)
Viết một số từ trong bài lên bảng không theo một trật tự
nhất định và khoanh tròn chúng lại. Xoá một từ nhưng không xoá
vòng tròn bên ngoài. Cho học sinh lặp lại các từ kể cả từ bị xoá.
Xoá từ khác cho đến khi xoá hết các từ (chỉ còn lại những khoanh
tròn). Cho học sinh lên bảng viết lại hoặc đọc lại các từ đã xóa
historic
2.2.2.4. Odd one out: (Loại một từ)
Giáo viên sử dụng phương pháp này để có thể kiểm tra nghĩa
của nhiều từ cùng một lúc. Với thủ thuật này giáo viên vừa giúp học
sinh nhớ lại kiến thức cũ đồng thời ôn lại kiến thức học sinh vừa
mới được học một cách rất hiệu quả. Đối với trò chơi này giáo viên
cần phải chuẩn bị các từ cho sẵn trên tờ giấy A2 hoặc chiếu lên màn
hình. Giáo viên có thể tổ chúc trò chơi này theo 4 nhóm. Học sinh
tìm từ loại bỏ không phù hợp. Trong thời gian nhất định, nhóm nào
tìm được nhiều từ chính xác và nhanh nhất sẽ thắng.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 1: My New School – Leson: A Closer Look
1, giáo viên có thể sử dụng trò chơi “Odd one out” để kiểm tra từ.
Circle the odd one out
a) English
b) Football
History
Judo
Music
Science
Exercise
Karate
2.2.2.5. Jumbled word (Từ lộn xộn)
Giáo viên chuẩn bị bảng phụ và trên bảng phụ ghi những từ giáo viên
muốn kiểm tra sau khi dạy từ, hoặc giáo viên có thể soạn bằng
powerpoint để chiếu lên màn hình. Giáo viên lớp thành 2 nhóm, mỗi
nhóm 3 em. Giáo viên lần lượt gọi từng cặp thành viên của 2 nhóm lên
sắp xếp lại vị trí các chữ cái trong từ đúng vị trí để tạo thành từ có
nghĩa. Trong thời gian nhất định, nhóm nào tìm được nhiều từ chính
xác và nhanh nhất sẽ thắng.
2.2.2.6. Matching (Ghép)
* Chuẩn bị đối với giáo viên: Giáo viên viết các từ mới
Tiếng anh cần kiểm tra lại giúp học sinh nhớ từ vào cột thứ nhất.
Viết ý nghĩa, từ Tiếng Việt, hoặc tranh vẽ vào cột thứ hai không
theo thứ tự của các từ ở cột thứ nhất.
* Cách tổ chức trò chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm
mỗi nhóm 3 em. Yêu cầu học sinh ghép từ Tiếng anh ở cột thứ nhất
tương với từ Tiếng việt, ý nghĩa hoặc tranh ở cột thứ hai. Lần lượt
gọi từng thành viên của 2 nhóm lên sắp xếp. Trong thời gian nhất
định, nhóm nào hoàn thành nhanh, đúng sẽ thắng cuộc.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 1: My New School – Lesson: Getting
started, giáo viên sử dụng trò chơi “Matching” để kiểm tra từ.
“Match the words in Column A with the right pictures in Colum
B”
2.2.2.7. Guess the picture ( Đoán tranh)
Giáo viên vẽ hoặc photo một số tranh đơn giản minh hoạ một
số từ cần ôn tập trên giấy A4; cho một học sinh lên chọn một bức
tranh ( không cho những học sinh khác thấy); những học sinh khác
đoán xem đó là tranh gì bằng cách hỏi: “ Is it a……………..?” ; học
sinh đoán đúng sẽ lên thay cho em trước.
*Ví dụ: Bảng với các phương tiện giao thông để các em có thể nhìn
tổng thể và so sánh các loại phương tiện với nhau (motor, bicycle,
car, plane, train, bus …) trong Unit 7: Traffic – Getting Started
(SGK Tiếng Anh 7)
2.2.2.8. Sy-lla-ble search: (Tìm vần)
Đây là loại trò chơi từ vựng. Nhằm mục đích giúp học sinh
ôn tập lại các từ đã học trong bài. Đối với trò chơi này giáo viên
cần phải chuẩn bị các mảnh ghép các âm tiết kề nhau bị tách rời từ
những từ có nghĩa được ghép vào nhau viết lên tờ giấy A2 hoặc
chiếu lên màn hình. Hình thức tổ chức trò chơi này có thể chia lớp
thành 4 nhóm. Học sinh tìm và ghép các âm tiết đó lại với nhau để
tạo thành từ có nghĩa. Trong thời gian nhất định, nhóm nào ghép
được nhiều từ có nghĩa chính xác và nhanh nhất sẽ thắng.
*Ví dụ: Khi dạy Unit 7: Television – Lesson: A Closer Look 1,
giáo viên sử dụng trò chơi “Sy-lla-ble search ” để kiểm tra từ.
mote
control
Wea-
man
sreaM-
Re-
dule
TVC
ther
sche-
der
1. MC
4. Newsreader
Vie-
wer
New-
2. Viewer
5. Remote control
3. TV Schedule
6. Weatherman
2.2.3. Some ways of learning to help the students
remember vocabulary at everywhere. (Hướng dẫn học
sinh một số cách tự học TỪ MỚI như sau.)
2.2.3.1. Trong khi học từ mới các em phải luôn luôn
đọc to từ mình đang học để nhớ cách phát âm trước rồi sau
đó mới tập viết từng từ 1 ít nhất là 5 lần.
2.2.3.2. Nên có 1 quyển sổ tay học từ vựng và luôn mang
theo mỗi ngày. Sau khi đã thuộc xong bao nhiêu từ vựng
ta lập tức liệt kê các từ này vào trong sổ. Lâu dần
khoảng 1 tuần ta lật lại quyển sổ tay học từ
vựng có thể sắp xếp từ vựng trong sổ tay
theo nhiều nhóm. eg: theo nhóm trái cây,
màu sắc hoặc quần áo, nhóm động từ bất qui
tắc, hoặc nhóm giới từ…
2.2.3.3. Ghi lại các từ tiếng Anh đọc được hay nghe được khi
xem chương trình ti vi, hoặc tình cờ gặp.
2.2.3.4. Làm những mẩu giấy nhỏ mỗi ngày viết
5 từ vào mẫu giấy nhỏ bỏ vào túi lúc nào rảnh
mang ra học.
2.2.3.5. Dùng bút dạ để làm nổi bật các từ mới trong 1 đoạn
văn, hoặc gạch chân, các từ này sẽ nổi bật lên trong câu. Khi
ta hiểu hết nghĩa của câu thì từ mới này các em cũng sẽ dễ
thuộc nghĩa
2.2.3.6. Học từ vựng qua các đồ vật trong gia
đình: Viết các từ mới vào mẫu giấy và dán mẫu
giấy vào các đồ vật trong gia đình có nghĩa
tương ứng với tên của đồ vật.
Eg:
table, chair, television…
tiếng Anh: bằng cách dán những mẩu giấy
vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu
trong nhà ta đều nhìn thấy những từ ghi trên đó.
Khi đã thuộc những từ này rồi, ta thay bằng
những từ mới.
2.2.3.8. Chơi các trò chơi về từ cũng là một cách học từ vựng.
2.2.3.8. Chơi các trò chơi về từ cũng là một cách học từ vựng.
2.2.3.9. Học từ vựng nhờ vào hình ảnh
Có 1 cách học từ vựng rất hay đó là "học từ vựng
qua hình ảnh". Không cần phải giải thích thêm
chắc bạn cũng biết là hình luôn có ý nghĩa và
tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn chữ.
2.3. Hiệu quả của biện pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy
học và giáo dục, phù hợp với đối tượng học sinh, thực tiễn
nhà trường, địa phương.
Trước đây, phương pháp chủ đạo trong dạy và học là thầy đọc-trò
chép thì thực tế cho thấy chỉ có khoảng 15% - 20% học sinh suy
nghĩ và làm việc tích cực, số học sinh còn lại cũng chỉ ghi bài và
lắng nghe một cách thụ động, máy móc mà không hiểu được nội
dung bài. Hiện nay với sự xuất hiện các phương pháp dạy học tích
cực sơ đồ tư duy, ứng dụng CNTT, phần mềm ngoại ngữ,
powerpoint và bảng tương tác… thì càng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh và chắc chắn những cái mới sẽ đem lại hiệu quả
tích cực cho HS và đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học và giáo
dục, rất phù hợp với từng đối tượng học sinh. Biện pháp này cũng
không mất quá nhiều kinh phí nên khá phù hợp với thực tiễn nhà
trường và địa phương chủ yếu mỗi giáo viên cần đầu tư cho giảng
dạy, bỏ một chút công sức trong mỗi bài học thì sẽ đem lại hiệu quả
cao về chất lượng cho bộ môn Tiếng Anh nói riêng và học sinh nói
2.4. Các kết quả, minh chứng về sự tiến bộ của học sinh
khi áp dụng biện pháp.
Qua thực tế giảng dạy các năm qua với phương pháp dạy học mới,
trong các tiết dạy, tôi nhận thấy với các kỹ thủ thuật dạy từ mới như
trên nhiều học sinh có thể nắm bắt ngay tại lớp. Các em rất hào hứng
và sôi nổi trong học tập. Các em đã có thể đoán được nhiều từ mới
qua ngữ cảnh, tình huống, chủ đề, tranh ảnh, điệu bộ…Nhiều em học
sinh trước đây rất nhút nhát, không dám nói trước lớp thì giờ đây đã
tự tin khi giao tiếp, nhiều em học sinh yếu cũng tham gia phát biểu
mỗi khi nhìn tranh, điệu bộ, vẽ … của giáo viên khi giải thích từ. Tôi
đã tạo cho các em nhiều tình huống cụ thể để các em có thể khắc sâu
được nhiều từ, đặc biệt là các từ khó. Trên thực tế trong những năm
qua có thấy sự tiến bộ trong khả năng hiểu và nhớ từ của học sinh
nhất là trong 2 năm học: 2018-2019 và 2019-2020 vừa qua đối với
tất cả các khối lớp 6,7,8,9.
Năm học 2017-2018: Có khoảng 51% học sinh hiểu và học thuộc từ
vựng. (tăng 14%) so với trước khi dùng biện pháp.
Năm học 2018-2019: Có khoảng 63% học sinh hiểu và học thuộc từ
vựng. (tăng 19%) so với trước khi dùng biện pháp
Năm học 2019-2020: Có khoảng 72% học sinh hiểu và học thuộc từ
vựng. (tăng 23%) so với trước khi dùng biện pháp
Năm học 2020-2021: (Học Kì I) Có khoảng 83% học sinh hiểu và
học thuộc từ vựng. (tăng 25% ) so với trước khi dùng biện pháp.
Đối chiếu với thực trạng trước khi sử dụng biện pháp thì tỷ lệ học
sinh tiếp thu và ghi nhớ từ vựng ngày một tăng cao theo hằng năm.
Năm học 2018-2019 kết quả trung bình môn cuối học kì của khối 6
đạt trên 90%, khối 7 đạt trên 92%.
Năm học 2019-2020 kết quả trung bình môn cuối học kì của khối 8
đạt trên 95%, khối 9 đạt trên 95%.
3. KẾT LUẬN
Để khai thác từ vựng và việc dạy, học từ đạt kết quả cao, bên
cạnh việc sử dụng các thủ thuật khai thác từ vựng giáo viên nên
hướng dẫn cách học từ vựng ở nhà như đã trình bày ở trên và kiểm
tra thường xuyên. Ngoài ra giáo viên cũng thường xuyên thay đổi
cách kiểm tra từ vựng bằng cách lồng ghép thông qua các trò chơ
như: Slap The Board, Jumble Words, Networds, Rub Out And
Remember, Matching, What and Where, Guess The Pictures,… như
đã trình bày trên.
Hơn thế nữa, người giáo viên cần phải luôn luôn trau dồi các
kỹ năng dạy học của mình bằng phương pháp tự sưu tầm sách và
học hỏi các bạn đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn của
mình đem lại những giờ học bổ ích cho các em học sinh nhằm giúp
các em đạt kết quả học tập cao hơn nữa.
 







Các ý kiến mới nhất