Bài 24. Tình hình văn hóa ở các thế kỷ XVI-XVIII

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Sao Mai
Ngày gửi: 22h:41' 11-03-2022
Dung lượng: 8.0 MB
Số lượt tải: 71
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Sao Mai
Ngày gửi: 22h:41' 11-03-2022
Dung lượng: 8.0 MB
Số lượt tải: 71
Số lượt thích:
1 người
(Phạm Thị Sao Mai)
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ VĂN HỌC
TÌNH HÌNH VĂN HÓA Ở CÁC THẾ KỈ XVI - XVIII
GIÁO DỤC
01
Nhà Mạc thành lập, tiếp tục phát triển giáo dục, tổ chức đều đặn các kì thi Hương, thi Hội để tuyển chọn nhân tài.
Thi Hương là một khoa thi liên tỉnh, theo lệ 3 năm tổ chức 1 lần về nho học do triều đình phong kiến tổ chức để tuyển chọn người có tài, học rộng và bổ nhiệm làm quan. Sau khi đỗ Cống sĩ thì năm sau mới được dự thi kỳ thi cao cấp hơn là thi Hội, và nếu đậu thi Hội sẽ vào xếp hạng Tiến sĩ khi thi Đình.
(Nhà Mạc tổ chức được 22 kì thi Hội, lấy 485 tiến sĩ)
Đàng Ngoài, nhà nước Lê – Trịnh tiếp tục mở rộng giáo dục Nho học theo chế độ Lê sơ. Nhiều khoa thi được tổ chức nhưng số người đi thi và đỗ đạt không nhiều.
Đàng Trong: Chúa Nguyễn mở khoa thi đầu tiên năm 1646. Nội dung Nho học sơ lược.
Thời Quang Trung: Giáo dục được chấn chỉnh, dịch các sách kinh từ chữ Hán sang chữ Nôm, đưa thơ văn Nôm vào nội dung thi cử.
Chiếu chỉ của vua Quang Trung ra năm 1792 về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm
Việc dạy học thời xưa
Trường thi xưa
Nhận xét:
Nội dung giáo dục chủ yếu là kinh, sử.
Các bộ môn khoa học tự nhiên không được chú trọng, không được đưa vào thi cử.
=>Nội dung giáo dục không góp phần phát triển kinh tế thậm chí còn làm kiềm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước.
Ở các thế kỉ XVII - XVIII, việc không chú ý nhiều đến các môn khoa học tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của nước ta như:
Không thừa hưởng được những thành quả của khoa học - kĩ thuật, những tri thức tiên tiến của loài người để áp dụng vào sản xuất.
Chương trình Nho học nặng về giáo điều, học để đi thi và ra làm quan, điều này làm cho kinh tế chậm phát triển.
VĂN HỌC
02
a) Văn học chính thống
Từ thế kỉ XVI – XVII, cùng với sự suy thoái của Nho giáo, văn học chữ Hán đã mất dần vị thế vốn có của nó trong thời Lê sơ.
Tuy vậy, ở Đàng Trong, xuất hiện một số nhà thơ, hội thơ, nhà nghiên cứu biên soạn các sưu tập thơ văn, một số người viết truyện kí,… góp phần làm cho văn học thêm phong phú.
Trong các thế kỉ XVI - XVII, tuy văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế, nhưng văn học chữ Nôm đã phát triển mạnh hơn trước. Thơ Nôm, truyện Nôm xuất hiện ngày càng nhiều. Có truyện Nôm dài hơn 8000 câu như bộ diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục.
Bộ diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục.
Nội dung các truyện Nôm thường viết về hạnh phúc con người, tố cáo những bất công xã hội và bộ máy quan lại thối nát. Những nhà thơ nổi tiếng đương thời như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phùng Khắc Khoan... đều có tác phẩm bằng chữ Nôm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đào Duy Từ
Phùng Khắc Khoan
Thượng kinh ký sự (上京記事) là tập ký sự bằng chữ Hán của nhà y học và nhà văn Lê Hữu Trác
MỘT SỐ TÁC PHẨM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN VÀ CHỮ NÔM
Truyền kỳ mạn lục (chữ Hán: 傳奇漫錄), là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ, sống vào khoảng thế kỷ 16, được đánh giá là một "thiên cổ kỳ bút"
Bạch Vân quốc ngữ thi tập (白雲國語詩集) là tuyển tập thơ viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chinh phụ ngâm (征婦吟), còn có tên khác là Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲) là tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, nguyên tác chữ Hán, về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ gối chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?
(trích Trinh Phụ Ngâm – Đoàn Thị Điểm dịch)
Cung oán ngâm khúc (chữ Hán: 宮怨吟曲) là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát.
b) Văn học dân gian
Trong lúc văn học chính thống có phần suy thoái, văn học dân gian hình thành và phát triển khá rầm rộ.
- Nhiều thể loại: ca dao, tục ngữ, truyện cười, truyện dân gian v.v...
- Văn học vùng dân tộc ít người phát triển.
- Nội dung:
+ Phản ánh hiện thực xã hội, tâm tư nguyện vọng của quần chúng
+ Phản ánh phong tục, tập quán của quê hương, ca ngợi quê hương đất nước
- Phản ánh tinh thần dân tộc.
- Kho tàng văn học Việt Nam thêm phong phú
Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
(Ca dao)
Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
Ở nhà có nhớ anh chăng?
Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe.
(Ca dao)
Lá lành đùm lá rách.
(Tục ngữ)
MỘT SỐ CÂU CA DAO, TỤC NGỮ
Tại sao văn học chữ Hán từ thế kỉ XVI đến XVIII lại mất dần vị thế vốn có của nó trong thời Lê sơ?
- Thời Lê sơ: Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho bộ máy trung ương tập quyền cao độ. Chính vì thế, văn học chữ Hán phát triển mạnh.
- Thời kì XVI đến XVIII, là thời kì khủng hoảng của chế độ phong kiến với nhiều biến động, mặc dù các chính quyền Lê – Trịnh và Nguyễn tìm mọi cách củng cố nhưng vô ích -> Văn học chữ Hán cũng vì thế suy giảm, mất dần vị thế so với thời Lê sơ.
Điểm mới trong văn học thế kỷ XVI - XVIII:
- Văn học dân gian rất phát triển trong khi văn học chữ Hán suy giảm.
- Phản ánh thực tế Nho giáo ngày càng mất uy tín đồng thời chứng tỏ cuộc sống tinh thần của nhân dân được đề cao góp phần làm cho văn học thêm phong phú, đa dạng
PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NHÓM CHÚNG TÔI ĐẾN ĐÂY LÀ KẾT THÚC, CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE
TÌNH HÌNH VĂN HÓA Ở CÁC THẾ KỈ XVI - XVIII
GIÁO DỤC
01
Nhà Mạc thành lập, tiếp tục phát triển giáo dục, tổ chức đều đặn các kì thi Hương, thi Hội để tuyển chọn nhân tài.
Thi Hương là một khoa thi liên tỉnh, theo lệ 3 năm tổ chức 1 lần về nho học do triều đình phong kiến tổ chức để tuyển chọn người có tài, học rộng và bổ nhiệm làm quan. Sau khi đỗ Cống sĩ thì năm sau mới được dự thi kỳ thi cao cấp hơn là thi Hội, và nếu đậu thi Hội sẽ vào xếp hạng Tiến sĩ khi thi Đình.
(Nhà Mạc tổ chức được 22 kì thi Hội, lấy 485 tiến sĩ)
Đàng Ngoài, nhà nước Lê – Trịnh tiếp tục mở rộng giáo dục Nho học theo chế độ Lê sơ. Nhiều khoa thi được tổ chức nhưng số người đi thi và đỗ đạt không nhiều.
Đàng Trong: Chúa Nguyễn mở khoa thi đầu tiên năm 1646. Nội dung Nho học sơ lược.
Thời Quang Trung: Giáo dục được chấn chỉnh, dịch các sách kinh từ chữ Hán sang chữ Nôm, đưa thơ văn Nôm vào nội dung thi cử.
Chiếu chỉ của vua Quang Trung ra năm 1792 về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm
Việc dạy học thời xưa
Trường thi xưa
Nhận xét:
Nội dung giáo dục chủ yếu là kinh, sử.
Các bộ môn khoa học tự nhiên không được chú trọng, không được đưa vào thi cử.
=>Nội dung giáo dục không góp phần phát triển kinh tế thậm chí còn làm kiềm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước.
Ở các thế kỉ XVII - XVIII, việc không chú ý nhiều đến các môn khoa học tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của nước ta như:
Không thừa hưởng được những thành quả của khoa học - kĩ thuật, những tri thức tiên tiến của loài người để áp dụng vào sản xuất.
Chương trình Nho học nặng về giáo điều, học để đi thi và ra làm quan, điều này làm cho kinh tế chậm phát triển.
VĂN HỌC
02
a) Văn học chính thống
Từ thế kỉ XVI – XVII, cùng với sự suy thoái của Nho giáo, văn học chữ Hán đã mất dần vị thế vốn có của nó trong thời Lê sơ.
Tuy vậy, ở Đàng Trong, xuất hiện một số nhà thơ, hội thơ, nhà nghiên cứu biên soạn các sưu tập thơ văn, một số người viết truyện kí,… góp phần làm cho văn học thêm phong phú.
Trong các thế kỉ XVI - XVII, tuy văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế, nhưng văn học chữ Nôm đã phát triển mạnh hơn trước. Thơ Nôm, truyện Nôm xuất hiện ngày càng nhiều. Có truyện Nôm dài hơn 8000 câu như bộ diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục.
Bộ diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục.
Nội dung các truyện Nôm thường viết về hạnh phúc con người, tố cáo những bất công xã hội và bộ máy quan lại thối nát. Những nhà thơ nổi tiếng đương thời như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phùng Khắc Khoan... đều có tác phẩm bằng chữ Nôm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đào Duy Từ
Phùng Khắc Khoan
Thượng kinh ký sự (上京記事) là tập ký sự bằng chữ Hán của nhà y học và nhà văn Lê Hữu Trác
MỘT SỐ TÁC PHẨM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN VÀ CHỮ NÔM
Truyền kỳ mạn lục (chữ Hán: 傳奇漫錄), là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ, sống vào khoảng thế kỷ 16, được đánh giá là một "thiên cổ kỳ bút"
Bạch Vân quốc ngữ thi tập (白雲國語詩集) là tuyển tập thơ viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chinh phụ ngâm (征婦吟), còn có tên khác là Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲) là tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, nguyên tác chữ Hán, về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ gối chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?
(trích Trinh Phụ Ngâm – Đoàn Thị Điểm dịch)
Cung oán ngâm khúc (chữ Hán: 宮怨吟曲) là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát.
b) Văn học dân gian
Trong lúc văn học chính thống có phần suy thoái, văn học dân gian hình thành và phát triển khá rầm rộ.
- Nhiều thể loại: ca dao, tục ngữ, truyện cười, truyện dân gian v.v...
- Văn học vùng dân tộc ít người phát triển.
- Nội dung:
+ Phản ánh hiện thực xã hội, tâm tư nguyện vọng của quần chúng
+ Phản ánh phong tục, tập quán của quê hương, ca ngợi quê hương đất nước
- Phản ánh tinh thần dân tộc.
- Kho tàng văn học Việt Nam thêm phong phú
Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
(Ca dao)
Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
Ở nhà có nhớ anh chăng?
Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe.
(Ca dao)
Lá lành đùm lá rách.
(Tục ngữ)
MỘT SỐ CÂU CA DAO, TỤC NGỮ
Tại sao văn học chữ Hán từ thế kỉ XVI đến XVIII lại mất dần vị thế vốn có của nó trong thời Lê sơ?
- Thời Lê sơ: Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho bộ máy trung ương tập quyền cao độ. Chính vì thế, văn học chữ Hán phát triển mạnh.
- Thời kì XVI đến XVIII, là thời kì khủng hoảng của chế độ phong kiến với nhiều biến động, mặc dù các chính quyền Lê – Trịnh và Nguyễn tìm mọi cách củng cố nhưng vô ích -> Văn học chữ Hán cũng vì thế suy giảm, mất dần vị thế so với thời Lê sơ.
Điểm mới trong văn học thế kỷ XVI - XVIII:
- Văn học dân gian rất phát triển trong khi văn học chữ Hán suy giảm.
- Phản ánh thực tế Nho giáo ngày càng mất uy tín đồng thời chứng tỏ cuộc sống tinh thần của nhân dân được đề cao góp phần làm cho văn học thêm phong phú, đa dạng
PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NHÓM CHÚNG TÔI ĐẾN ĐÂY LÀ KẾT THÚC, CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE
 







Các ý kiến mới nhất