Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Bài 28. Trào lưu cải cách duy tân ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Chung
Ngày gửi: 06h:24' 31-05-2023
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 113
Số lượt thích: 0 người
BÀI 28: TRÀO LƯU CẢI CÁCH DUY
TÂN Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ
KỈ XIX

II. NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH Ở
VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX

- Đất nước ngày càng
nguy khốn.
- Các sĩ phu đề xướng cải
cách để tạo thực lực cho
đất nước chống ngoại
xâm .

?Vì sao các quan lại, sĩ phu đưa
ra những đề nghị cải cách?

Trần Đình Túc

Cửa biển Trà Lí
(Hải Hậu, Nam Định)

Viện Thương bạc

Nguyễn Trường Tộ
Phần mộ Nguyễn Trường Tộ
tại làng Bùi Chu, Hưng Trung,
Hưng Nguyên-Nghệ An

Nguyễn Trường Tộ (1828- 1871), quê Bùi
Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An, trong một
gia đình theo đạo Gia tô. Thủa nhỏ nổi
tiếng thông minh nhưng không được đi
thi.

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier
đưa vào chủng viện Tân ấp thuộc xứ đạo
Xã Đoài để dạy chữ Hán cho giám mục, và
được giám mục dạy lại cho chữ Pháp cũng
như kiến thức khoa học châu Âu. Năm
1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn
Trường Tộ sang Pháp để tạo điều kiện học
tập, nâng cao kiến thức nhiều mặt.

- Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về nước làm thông ngôn cho Pháp nhưng
vẫn nặng lòng với đất nước.
Từ 1863 - 1871, Nguyễn Trường Tộ viết hàng loạt điều trần, luận văn, tờ bẩm,
trình nhiều kiến nghị có tầm nhìn chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế
vươn lên cho dân tộc để giữ nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc.

Về chính trị - giáo dục
BẢN
ĐIỀU
TRẦN
CỦA
NGUYỄN
TRƯỜNG
TỘ

Cải tạo quan lại, cải cách chế
độ giáo dục, học ngoại ngữ.

Về nông nghiệp:

Áp dụng KH-KT, thủy lợi,
bảo vệ rừng.

Về công nghiệp:

Khai mỏ có quy mô, hợp tác
với nước ngoài.

Về kinh tế

Về thương nghiệp:

Về xã hội
Về quân sự
Về ngoại giao

Hợp tác buôn bán với các
nước, phát triển nội thương.

Bải bỏ các tập tục phong kiến lạc hậu, mê tín
dị đoan.Về xã hội
Xây dựng quân đội vững mạnh, trang bị đầy
đủ kiến thức, vũ khí quân sự.Về quân sự.

Nên giao hảo với nhiều nước tư bản
khác.

NGUYỄN LỘ TRẠCH
Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ông học rộng biết
nhiều, ghét lối từ chương nên không đi thi, chỉ chú tâm vào con đường
thực dụng. Ông thường giao thiệp với những người có tư tưởng tiến
bộ, chấp nhận cái mới, chịu ảnh hưởng chính trị của tân thư và của
Nguyễn Trường Tộ.
Năm 1877, ông dâng một bản Thời vụ sách nêu lên những yêu
cầu bức thiết của nước nhà. Năm 1882, ông lại dâng bản Thời vụ sách
2 gồm 5 điều cốt yếu để bảo vệ đất nước, trong đó có điểm dời đô về
Thanh Hóa lấy chỗ hiểm yếu để giữ vững gốc nước.
Triều đình Tự Đức vẫn không chấp nhận những ý kiến gan
ruột của ông. Năm 1892 triều Thành Thái, ông lại dâng lên bản Thiên
hạ đại thế luận (Bàn chuyện lớn trong thiên hạ), nhưng vẫn bị bỏ qua.
Tuy vậy bản Thiên hạ đại thế luận lại được sĩ phu và những người có
tư tưởng cách tân nhiệt liệt hưởng ứng, bái phục tài năng xuất chúng
của ông. Nguyễn Lộ Trạch được xem là nhà cách tân đất nước tiêu
biểu của thế kỷ XIX.

Thời
gian

1868

CÁC ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH
Tên quan lại, sĩ phu
Nội dung chính của những các đề nghị
đề nghị cải cách
cải cách
Trần Đình Túc
Xin mở cửa biển Trà Lý (Nam Định)
Nguyễn Huy Tế
Đinh Văn Điền

1872

Viện Thương Bạc
(cơ quan ngọai giao)

1863
-1871

Nguyễn Trường
Tộ

1877
-1882

Nguyễn Lộ Trạch

Xin đẩy mạnh việc khai hoang,
khai mỏ, phát triển buôn bán, chấn chỉnh quốc
phòng.
Xin mở ba cửa biển ở miền Bắc và miền
Trung để thông thương với bên ngoài.
Gửi lên triều đình 30 bản điều trần: chấn chỉnh
bộ máy quan lại, phát triển công, thương
nghiệp và tài chính, chỉnh đốn võ bị, mở rộng
ngoại giao, cải tổ giáo dục...
Dâng 2 bản “Thời vụ sách”, đề nghị chấn hung
dân khí, khai thông dân trí, bảo vệ đất nước.

- Các nhà cải cách tiêu biểu: Nguyễn Lộ
Trạch, Nguyễn Trường Tộ...
- Nội dung: đổi mới về mọi mặt như nội trị,
ngoại giao, kinh tế, văn hoá, quân sự….

Nguyễn Lộ Trạch:
Đề nghị chấn hưng
dân khí, khai thông
dân trí, bảo vệ  đất
nước.

Phần mộ Nguyễn Lộ Trạch tại quê nhà (làng Kế Môn,
huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế)
Sống một đời ưu tư vận nước
Chết an phần một nấm đơn sơ

Phố Nguyễn Trường Tộ, Quận Ba Đình, Hà Nội và Thanh Hóa

III. KẾT CỤC CỦA CÁC ĐỀ NGHỊ
CẢI CÁCH

a. Tích cực: Đáp ứng phần nào yêu cầu của
nước ta lúc bấy giờ.
b. Hạn chế:

Những cải cách mang tính lẻ tẻ, rời rạc
Chưa xuất phát từ thực tế trong nước
Chưa giải quyết được mâu thuẫn cơ bản
của XHVN
Nhà Nguyễn bảo thủ, bất lực trong việc
thích ứng với hoàn cảnh.

a. Tích cực: Đáp ứng phần nào yêu cầu của
nước ta lúc bấy giờ.
b. Hạn chế:
- Những cải cách mang tính lẻ tẻ, rời rạc.
- Chưa xuất phát từ thực tế trong nước
- Chưa giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của
xã hội Việt Nam.

VUA TỰ ĐỨC NÓI:
“ Nguyễn Trường Tộ
quá tin ở các điều y đề
nghị…Tại sao lại thúc
giục nhiều đến thế,
khi mà các phương
pháp cũ của trẫm đã
rất đủ để điều khiển
quốc gia rồi”

Trong đề bài thi Đình năm 1876 có hỏi rằng: “Nước
Nhật Bản theo học các nước thái Tây mà được nên
phú cường. Vậy nước ta có nên bắt chước không?”
Đáp lại thi Đình, nhất loạt các nho sĩ dự thi đều tâu
rằng: “Nước Nhật Bản trước giờ vốn theo văn minh
của nước Tàu mà bây giờ thay đổi thói cũ mà theo
các nước thái Tây thì dẫu là có nên phú cường sau
này cũng hóa ra loài mọi rợ.”

a. Tích cực: Đáp ứng phần nào yêu cầu của
nước ta lúc bấy giờ.
b. Hạn chế:
- Những cải cách mang tính lẻ tẻ, rời rạc.
- Chưa xuất phát từ thực tế trong nước
- Chưa giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của
xã hội Việt Nam.
c. Kết cục: Nhà Nguyễn không chấp nhận
những thay đổi và từ chối mọi cải cách.

d. Ý nghĩa:
-Tấn công vào tư tưởng bảo thủ của chế độ
phong kiến.
-Phản ánh trình độ nhận thức mới của những
người Việt Nam hiểu biết, thức thời.
468x90
 
Gửi ý kiến