Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

văn học việt nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Hoàng Vinh
Ngày gửi: 10h:36' 11-02-2009
Dung lượng: 510.0 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích: 0 người
A/ Về Nguyễn Xuân Ôn:

Nguyễn Xuân Ôn hiệu là Ngọc Đường , quê Nghệ An ,đỗ Tiến Sĩ 1871.
Ông là người có tính tình cương trực, thẳng thắn và là nhân vật chủ chốt trong phong trào yêu nước chống Pháp, chống đầu hàng.

B/ Các tác phẩm chính của Nguyễn Xuân Ôn

- Ngọc Đường thi tập (gồm 30 bài thơ)
- Ngọc Đường thi văn tập (văn xuôi, câu đối và một số thơ nôm.
C/ Bối cảnh xã hội và quan điểm văn chương của Nguyễn Xuân Ôn

1/ Trong số các sĩ phu tụ nghĩa dưới cờ Cần Vương tôn phò Hàm Nghi dốc lòng đánh pháp giai đoạn cuối thế kỉ 19 Nguyễn Xuân Ôn là người nổi tiếng .
Ông lưu lại cho hậu thế một số lượng phong phú các sáng tác tập trung vào đề tài chính là “chống xâm lược , chống đầu hàng”.
- Ý nghĩa của đề tài :
+ Tình thế nước nhà đang rối loạn , hàng ngũ giai cấp tan rã;
+ Giặc quá mạnh có thể làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với triều đình.
Ý thức của Nguyễn Xuân Ôn là biểu hiện tư tưởng cao đẹp của một nho sĩ yêu nước.

2/ Ông có công lớn:

+ Chỉ ra được chủ trương hoà hoãn của triều đình nhà Nguyễn = nhu nhược , hèn nhát.
Câu nói nước đôi của Tự Đức : “lấy lí mà nói thực là đáng chiến, nhưng lấy thế mà bàn không bằng hãy hoà”.
+ Do xa lánh nhân dân , không đi theo nhân dân triều đình tự đánh mất lòng tin ở chính mình , chối bỏ truyền thống và bầy tôi tự biến thành kẻ bất trung.


3/Về tư tưởng “trung quân ái quốc”


NGUYỄN XUÂN ÔN quan niệm:
“Trung quân ái quốc” đi kèm với 1 điều kiện
Khi :
- Quân = người đại diện , quản lí nhà
nước = minh quân  “trung quân ái quốc”
- Quân = bạc nhược, bán nước = hôn quân mệnh đề trên là vô nghĩa
 Tư tưởng ông gần với các bậc vĩ nhân thời trước như Nguyễn Trãi , Nguyễn Bỉnh Khiêm và các tư tưỏng của các nho sĩ tiến bộ đương thời như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bỉnh Khiêm…

4/ Ông một mực khăng khăng đòi đánh Pháp nhưng khi trình ý kiến lên triều đình lại bị từ chối thất vọng ông quyết định từ bỏ mọi lợi lộc về quê an nhàn mưu việc nghĩa .
 khí tiết cao đẹp của kẻ sĩ, vì nghĩa lớn.
5/ Sau Tự Đức triều Nguyễn càng đỗ nát hơn. 1885 Hàm Nghi xuất bôn để thoát khỏi thế o ép và duy trì phong trào chống Pháp. Pháp ngay lúc ấy dựng Đồng Khánh lên ngôi làm bù nhìn  2 vua cùng tồn tại song song  các Nho sĩ phải chọn lựa dứt khoát 1 trong 2 để theo phò tá.
 Sự phân rã trong hàng ngũ nho sĩ lên cao cực độ.

Riêng đối với Nguyễn Xuân Ôn thì ông quyết định giữ vững lập trường khí tiết theo Hàm Nghi chiến đấu đến cùng.
1887 nghĩa quân tan vỡ, những kẻ được thế khép ông vào tội chống vua. Tuy nhiên ta vẫn thấy ánh lên ở Nguyễn Xuân Ôn tư tưởng sáng ngời “Vua chống Pháp là chân, Vua thờ Pháp là nguỵ” Hàm Nghi là vị vua đáng được thờ.

6/ Thời Nguyễn Xuân Ôn với việc sùng bái kỹ nghệ phương Tây làm cho số đông nản lòng, kích thích xu thế đầu hàng. Nguyễn Xuân Ôn chỉ rõ Pháp lợi dụng thế mạnh vật chất để đục khoét, áp đảo tinh thần phía ta  ta khiếp sợ mà không dám đứng lên trên chính quê hương mình, tạo tâm thế bi quan, gây mất lòng tin nội bộ… Đối với vua, vấn đề quan trọng nhất bây giờ là phải biết khich lệ, củng cố niềm tin ở nhân dân.
“Trần, Lê tự cố hưng bình quốc
Tằng hướng Dương nhân học kĩ phầu”
(Thuật hoài)
7/ Càng khinh ghét kẻ bất lương  ông càng ca ngợi những gương trung thần nghĩa sĩ, những con người dám hi sinh vì nghĩa lớn . ông đã ca ngợi đội quân Cần Vương trong bài thơ tặng cử nhân Võ Bá Liêm :
NHÂN DUYỆT QUÂN ĐOÀN DŨNG Ở XÃ MỸ LỘC
Xuân nhĩ Dương di hám hải quan
Tư hoàng cộng phấn hãn bang gian
Tinh kì phất ngọn phong vân biến
Khải kích lâm giang thuỷ nguyệt hàn
Giới trụ sĩ phi nho giả phục
Chương phùng nhân trước tướng quân quan
Khả tri địch khái thần tâm hiệp
Bất tác tầm thường kiếm mã khan.

dịch nghĩa:
( Lũ người tây ngu xuẩn kia dám dòm ngó cửa biển
Nhiều người hăng hái chống đỡ bước gian nan cho nước nhà
Cờ xí phất phơ trên bến, trăng nước ngó cũng lạnh lùng,
Người lính trụ mặc áo thư sinh
Khách chương phùng nay đội mũ tướng võ
Phải biết mọi người đều chung lòng căm giận chống giặc
Không nên xem chỉ là hạng đeo gươm cưỡi ngựa tầm thường)
 ông đã thấy được vai trò của kẻ sĩ và tin vào sức mạnh quần chúng.
Kẻ sĩ của Nguyễn Xuân Ôn là những người vì nghĩa, là những Nho sĩ tiến bộ về mặt tư tưởng và đi kèm theo đó hình ảnh người chiến sĩ nhân dân biểu hiện nét đẹp đáng tự hào về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc đã được duy trì qua bao thế hệ.
“…Nhân dân bồn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;
Chiến sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào…”
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)

Về bài thơ:

Hoạ nguyên vận bài thơ của quan huyện
Tuy Phước khóc nghĩa sĩ


Non sông thề rửa mùi hôi
Đá vàng vững dạ, một lời đinh ninh
Cam chôn hào rãnh đã đành
Sóng to, sông rộng ngặt mình khó qua
Chí thu hồi đất còn xa
Với trời không thẹn đã nhoà lòng son
Tang bồng lỗi hẹn nước non

Đùng làm mọt sách không hồn tháng năm
sự cảm thông
ngợi ca tấm lòng trung trinh
sự cảm thông và trân trọng
- Phê phán những kẻ có học thức song lại quay lưng quên đi cái gốc truyền thống tốt đẹp của chính mình trở thành kẻ sống vô nghĩa.
- Động viên mọi người làm việc nghĩa.
Ngợi ca những người nghĩa sĩ, họ đã ngã xuống nhưng tiếng thơm sẽ lưu lại mãi mãi.

“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen…”
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu)

Như vậy nhìn chung lại ta thấy rằng:
Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn phản ánh tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Ông lên án gay gắt bọn quan lại bù nhìn tham sống sợ chết, vô trách nhiệm trong bài thơ nôm Cảm tác:
Thành trì phó mặc mấy thằng Tây,
Thế cũng cân đai với mũ giầy.
(Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn)
Ông đả kích cả vua Tự Đức, ông vua chỉ biết ung dung săn bắn giữa lúc dầu sôi, lửa bỏng:
Bồng thỉ tang hồ chí tứ phương
Tòng cầm nhật nhật đáo sơn dương
 Nha tường cẩm lạm thi lô kính
Ngọc luyện kim dư trú thảo đường
(Cảm tác)
(Tên bồng, cung dâu, người nam nhi lấy chí ở bốn phương/ Thế mà ngày ngày đi săn trên núi/ Cột buồm dây neo đậu ở khe lau/ Kiệu ngọc, xe vàng đứng nơi bờ cỏ).

 
  Ngược lại, ông ca ngợi các chí sĩ và nghĩa quân không sợ tù đày, chết chóc, dũng cảm chiến đấu:
Chí sĩ tâm tào luy tiết khổ
Nghĩa quân na quản tử vong lưu
(Cảm thuật)
(Bao nhiêu chí sĩ đều bị khổ vì nỗi gông cùm/ Người dân ứng nghĩa thì không quản gì chết chóc)
Có lúc nhà thơ mượn cảnh núi non hùng vĩ để gợi dậy khí thế hùng dũng của những đoàn quân ra trận và từ đó nghĩ đến truyền thống giết giặc cứu nước vẻ vang của nhân dân quê hương xứ Nghệ:
Ngô châu tư cổ sinh danh tướng
Huy chỉ giang sơn chuyển miện thanh
(Võ Kỳ Sơn)
(Châu ta ngày xưa sinh nhiều vị danh tướng/ Vẫy tay trong chốc lát mà non sông trong sạch)


 Nguyễn Xuân Ôn có cái nhìn riêng để đánh giá về con người, về nhân cách.
Văn chương của ông là tâm huyết của một người chiến sĩ đồng thời “có thể làm khuôn phép cho đời” (Bùi Quang Diệm).



NHÀ THỜ NGUYỄN XUÂN ÔN
Nguyễn Thông: một trí thức yêu nước, nhà hoạt động văn hóa lớn của Nam kỳ lục tỉnh nửa cuối thế kỷ XIX.
1/Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn:

Nguyễn Thông tự Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, quê ở xã Tân Thạnh - Gia Định.
Được cha dạy học từ nhỏ nhưng cha ông mất sớm. Tuổi nhỏ chịu nhiều cơ cực: phải đi chăn trâu, giúp việc nhà…
18 tuổi, Nguyễn Thông ra Huế và tiếp tục học tập. Ông nổi tiếng học giỏi vượt xa bạn bè. Năm 23 tuổi, ông đỗ cử nhân. Lúc đi thi Hội vì để bài làm lấm mực nên bị chấm hỏng. Vì nghèo nên không thể tiếp tục học , Nguyễn Thông ra làm việc, nhận chức huấn đạo huyện Phú Phong (An Giang).
7 năm sau ông chuyển về Huế làm việc ở nội các. Ngay sau đó Pháp đánh vào Gia Định năm 1859 Ông xin tòng quân dưới quyền Tôn Thất Thuyết trở lại Nam kì chiến đấu bảo vệ quê hương.
1862 ba tỉnh miền Đông vào tay giặc, 1úc này ông làm nghề dạy học, liên lạc với các sĩ phu yêu nước (Trương Định). Tiếp đó, ba tỉnh miền Tây cũng vào tay Pháp, ông trở ra Bình Thuận mà lòng đau xót khi quê hương nằm bị giày xéo dướí gót giày của kẻ thù xâm lược.
1867 ông được bổ làm Án sát Khánh Hoà gửi sớ lên vua Tự Đức khuyên vua 4 việc:
+ Chọn người hiền tài
+ Trừ tham quan ô lại
+ Tăng cường võ bị
+ Cải tiến thuế thổ sản
Ngoài ra ông còn khuyên vua giảm bớt xây dựng cung điện, lăng tẩm; giảm bớt việc đi chơi xa; khoan hậu đối với nhân dân…không được chấp thuận  thất vọng và nhân bị bệnh ông xin về quê nghỉ.
1870 ông làm Biện lí bộ hình, làm Bố chánh Quảng Ngãi. Giai đoạn này ông làm nhiều việc hữu ích : đào kênh, đấp đê; làm công tác thuỷ lợi; ráo riết thanh trừ bọn quan xấu… Giữa lúc ấy ông lại bị bọn cường hào Lê Doãn vu cáo đến nỗi bị xử trượng, cách chức, phạt giam. Nhân dân hay tin nhiều người kéo ra tận kinh thành để minh oan cho ông.

Từ sau khi bị phạt trượng, sức khoẻ ông cũng yếu kém. 1877 ông từ Huế về Bình Thuận làm Dinh điền sứ. 1880 ông làm phó sứ điền kiêm đốc học Bình Thuận. Ông khuyến khích phát triển nông nghiệp và làm công tác giáo dục lớp trẻ.
1894 ông qua đời, thọ 68 tuổi. Mộ đặt ở| Bình Thuận.


Khu lăng mộ Nguyễn Thông - Phú Hài - Phan Thiết
Sự nghiệp thơ văn:


Nguyễn Thông đã để lại cho hậu thế một số lượng lớn các tác phẩm gồm cả thơ và văn xuôi: Ngoạ du sào thi văn tập, Độn am văn tập, Kỳ Xuyên văn sào, Kỳ Xuyên công độc, Việt sử thông giám khảo lược, Nhân kim sự giám, Dưỡng chính lục.
 Tư tưởng nổi bật nhất toát lên trong thơ ông chính là tinh thần yêu nước, tìnhyêu thăm thiết đối với quê hương miền Nam.
2/ Phân tích làm rõ giá trị tư tưởng nổi bật của Nguyễn Thông qua các đề tài trong thơ.


Đưa người đi Gia Định (1855)
Chức quan nhỏ, danh muộn mằn
Mấy năm gác chuyện về thăm quê nhà
Nay nghe Đông Phố sắp qua
Nơi anh sẽ đến gần nhà của tôi
Bạn nghèo Bạch xã còn đây
Khách sang thưa thớt ai người thăm lom
Nhờ cho tin tức bà con
Để tôi vơi bớt nỗi buồn cuối năm.
Nỗi lòng vị thi sĩ sống xa quê.

Thơ viết gửi bạn
Gửi cư sĩ Hồ Huân Nghiệp
Lợi danh xe ngựa bời bời
Hay đâu có kẻ lánh đời tường đông
Trời thu bên cội quyển vàng
Cửa lồng mây trắng thoảng hương hoa rừng
Ngoài tai áo mũ lạnh lùng
Thích nâng chén ruợu sai cùng tri âm
Mịt mù khói lửa trời Nam
Biết anh đâu nhỉ để bàn nỗi riêng?
Thôn cư dạ văn điểu thanh thậm ai
(Ở thôn quê đêm nghe tiếng chim kêu rất thảm thiết)
Mặt trời khuất núi chim về
Nhà ta cũng khép cửa tre lại rồi
Vì sao thế ấy chim ơi
Nửa đêm bay mãi giữa trời lao đao?
Tổ mày xưa ở nơi nao?
Lòng mày luống những rạt rào hôm nay
Bạn xưa xa cách lâu ngày
Tiếng kêu buồn thảm của mày ai nghe?”
Thơ tức cảm
Tình trữ tình
sâu sắc
Thể hiện cái tình của ông đối với quê hương và nỗi đau sâu sắc trước cám cảnh mất nước – ông đang đau cùng nỗi đau của muôn dân thời đại ấy.
Thơ ngày Tết năm Đinh Mão (1867)
Long giang nằm mãi bao ngày
Năm này tính lại đã đầ y năm năm
Gái trai, con cái lớn dần
Trông mình chợt thấy hoa râm mái đầu
Chậm thăng chức, giấu dốt lâu
Nhà nghèo tiện tặn trước sau đủ dùng
Quê nhà khói lửa mịt mùng
Biết bao cay dắng tromg lòng bà con.
Biệt vọng đệ lữ phần

Bao giờ tan giặc cõi Nam
Mồ chôn đất khách nay càng quạnh hiu
Trên mồ rưới rượu trời chiều
Rượu lan mặt cỏ lệ tuôn ròng ròng
Thương bầy cháu nhỏ ai trông
Ra đi cô độc khác thường người ta
Sông Mân rời khỏi bến xưa
Chèo thuyền đi giữa đêm mưa lạnh lùng.

Lên Hải Đài Cổ Luỹ

Phía đông bãi cát, tuyết đồi
Vào trong cửa bể chia đôi hai dòng.
Tháng năm tấp nập thuyền đông
Gạo ngon bông trắng Nam trung đổ về.

 Những bài thơ Nguyễn Thông viết để tự thuật tả nỗi lòng :Thuật cảm (Thuật mối cảm xúc), Hàm Thuận cảm hoài (Ờ Hàm Thuận cảm nhớ)…bộc lộ nỗi lòng kẻ xa quê hương, lòng thương cảm sâu sắc đối với miền Nam đang lâm vào cảnh khốn đốn.

 Thơ vịnh cảnh vật ,cây cỏ , thiên nhiên: Ba tiêu (Cây chuối),Thôn Cư (Ở Thôn Quê), Tân Lang thụ (Cây cau), Ngô đồng (Vịnh cây Ngô đồng)… những hình ảnh này gắn liền với những sản vật ở Nam Bộ tình cảm thắm thiết bên trong đối với quê hương.
Cây Cau
Một thân thẳng đứng giữa trời
Lá tàu chịu đựng nắng phơi ngày ngày
Chống sương gió suốt đông dài
Nhường thông chịu lạnh vượt tài các cây.

 
Gửi ý kiến