Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

VH Châu Á 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lại thị hồng vân
Ngày gửi: 11h:01' 02-07-2015
Dung lượng: 7.8 MB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích: 0 người


ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH II

















NHÓM 6:
HỨA THỊ HIÊN
PHAN THỊ HOÀI THANH
TRẦN THỊ BÍCH KIỀU
BÀI THUYẾT TRÌNH
VĂN HỌC CHÂU Á 2

ẤN ĐỘ
ĐỊA LÍ

Ấn Độ là đất nước rộng lớn và  đông dân ở miền Nam Á, phía bắc có dãy núi Himallahya hùng  vĩ được ví là ” lâu đài tuyết trắng”, “bông sen trắng vĩ đại”, “nóc nhà  của thế  giới”. Đi dần  xuống phía nam   qua   hai  lưu  vực  sông  Ấn  (Indus)  và  sông   Hằng (Gange) phì nhiêu được gọi  là châu thổ “đất  vàng”. Đi tiếp gặp dãy núi Vindehia với cao nguyên Decan rộng  lớn tiếp giáp núi  Gat chạy dài xuống bờ biển  Ấn Độ dương  ngập tràn ánh  nắng mang hình vòng cung tới gần hòn đảo Sri Lanka.
C LỊCH SỬ
- Có 4 giai đoạn
Sơ lược lịch sử
Ấn Độ cận hiện đại. Sự xâm nhập của Tây phương kéo dài từ 1500 đến 1857.
Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Ấn Độ 1857-1859
Phong trào dân tộc Ấn 1858-1918
Năm 1947 Ấn Độ giành lại quyền độc lập
THÀNH TỰU
CHỮ VIẾT
NGHỆ THUẬT
TÔN GIÁO

VĂN HỌC
MAHABHARATA
RAMAYANA
ĐẠO BÀ LA MÔN
ĐẠO PHẬT
ĐẠO GIÊN
ẤN ĐỘ GIÁO

II. VĂN HỌC ẤN ĐỘ
PHÂN KÌ VĂN HỌC
   a. Thời đại Veda  từ 1500 đến 600 tr CN

“Veda” – tên của tác phẩm văn chương đồng thời là tác phẩm tôn giáo đầu tiên thường được dùng để gọi tên thời bình minh của văn học Ấn.
Thời kỳ này, văn minh Ấn Độ nảy nở giữa rừng xanh. Các rishi (thi nhân, thấu thị) đã đi từ thế giới cảm quan sinh động tới những lĩnh vực trừu tượng siêu hình và cuối cùng đạt đến kết luận về sự đồng nhất và hợp nhất giữa linh hồn con người và linh hồn vũ trụ. Thần thoại đã xuất hiện trước tiên (trong các kinh Veda, chủ yếu là Rig Veda) rồi sau đó là văn chương – triết học (trong các kinh Upanishad). Ngôn ngữ Sanskrit từ giai đoạn đầu tiên còn hết sức cổ sơ (mà nhiều học giả gọi là giai đoạn ngôn ngữ Veda) đã ngày càng được rèn giũa và tăng cường hiệu quả trong luận giải và thuyết giảng.
b.Thời sử thi và Phật giáo từ  600 tr CN đến thế kỷ IV

Nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên chứng kiến sự hình thành lần lượt các sử thi lớn nhất của Ấn Độ. Các sử thi đã phản ánh hiện thực lịch sử của thời kỳ hình thành, phát triển của những vương quốc lớn ở Ấn Độ và xung đột, chiến tranh giữa chúng. Hai sử thi sanskrit : Mahabharata và Ramayana có dung lượng lớn hơn, tầm phổ biến và ảnh hưởng rộng rãi hơn. Chúng cũng thuộc về các tác phẩm kinh điển của đạo Bà  la môn nhưng có tính văn chương, tính trần thế đậm đà hơn Veda, Upanishad  nhiều.
c.   Thời cổ điển từ  đầu công nguyên đến khoảng thế kỷ X, trong đó nổi bật là các thế kỷ IV, V, VI

Đây là thời kỳ có những triều đại phong kiến phát triển thịnh vượng về mọi mặt. Cũng là thời phục hưng của tinh thần truyền thống: đạo Bàlamôn phát triển đến giai đoạn cổ điển thành đạo Hindu. Văn học cung đình bằng tiếng Sanskrit nảy nở cực độ, để lại nhiều thành tựu có vẻ đẹp mẫu mực, kinh điển trong mọi thể loại. Trong đó nổi bật lên Kal
2.Văn học trung đại  (từ khoảng thế kỷ X đến thế kỷ XVIII)
Hồi giáo xâm nhập và sự hỗn dung Hindu giáo – Hồi giáo đã khiến cho văn học trung đại phát triển mạnh thơ ca sùng tín. Các bhakta (thi nhân – sùng tín) dâng tình yêu lên Đấng Tối Cao với niềm tin đạt đến hợp nhất với Đấng Tối Cao trong tình yêu và bằng tình yêu (bhakta) chứ không phải tri thức (jnana) hay hành động (karma). Tinh thần tự do, cởi mở nên hình thức cũng phóng khoáng. Thơ ca sùng tín nở rộ phong phú trong khắp các phương ngữ, cả ngữ hệ Arian lẫn ngữ hệ Dravidian, chấm dứt thời kỳ độc tôn của Sanskrit.
3. Văn học cận hiện đại  (từ thế kỷ XVIII đến nay)

Bị phương Tây nhòm ngó và cuối cùng bị đặt dưới sự đô hộ của thực dân Anh, Ấn Độ phải đấu tranh dài lâu để cuối cùng giành lại độc lập. Đây là thời kỳ Ấn Độ phát triển chủ nghĩa dân tộc, đồng thời mở rộng ra quốc tế. Văn học Ấn Độ đã thực hiện sự tổng hợp Đông – Tây để phát triển đến một trình độ mới. Đại diện xuất sắc nhất, Rabindranath Tagore, “kỳ công thứ hai” của văn học Ấn, đạt giải Nobel văn chương vào năm 1913 đã đưa Ấn Độ tới một  địa vị  rõ ràng hơn trong bối cảnh chung của văn học thế giới thế kỷ XX .
THẦN THOẠI ẤN ĐỘ
KHÁI NIỆM
Thần thoại Ấn  Độ  là sáng tác  dân gian truyền  miệng của nhiều chủng tộc,   nhiều  địa phương  kế thừa  lẫn nhau trong quá trình phát triển đất nước. Đó  là một thế giới thần  thoại kì ảo, được giữ trong các tập sách Veda, Brahmana, Upanisand,  Purana, Phật thoại Budda…

2. HỆ  THỐNG THẦN THOẠI  RIG VEDA
a. Nhóm thần vũ trụ-thiên nhiên
Nổi bật: Dyaus (thần trời), Addidi (mẹ đất)

THẦN GIÓ
THẦN GIÓ
THẦN SẤM


b. Nhóm thần sáng tạo thế giới và thủy tổ loài người
Thần thoại Ấn Độ  miêu  tả  một  số  mẫu người sáng thế như Toastri (thần Rèn),   Burusa ( người khổng lồ ),  thần Manu (thần Nguyên thuỷ , thủy tổ loài người ) …
Kể về thần Manu
Buổi sáng kia, Manu rửa tay trong dòng nước,  bỗng thấy có con cá bơi tới,  Manu bắt lấy  – cá nói  “Hãy nuôi ta  rồi có ngày ta sẽ cứu sống người. Sắp  đến ngày  xảy ra nạn hồng thuỷ, lúc đó ta sẽ cứu người thoát chết “.
Manu bỏ cá  nuôi trong  chậu. Cá  lớn nhanh.  Manu chuyển cá sang thùng, rồi sang hồ,  từ hồ chuyển sang sông Hằng,  từ đó ra biển, ca cứ lớn mãi. Theo lời cá,   Manu đóng sẵn một con thuyền. Khi cơn lũ lụt xãy ra,  Manu gọi cá và ngồi vào thuyền. Manu buộc thuyền vào mõm cá. Cá  đưa thuyền vượt  qua dãy núi  HimAllahya đến ngọn núi cao nhất. Theo lời cá dặn, Manu buộc thuyền vào gốc cây, ngồi chờ nước rút. Sau khi nước rút,  mặt đất trơ trọi, không một sinh vật nào sống sót. Manu thèm khát có đồng loại bèn cầu nguyện Brahma, một cô gái xuất hiện. Hai người ăn ở chung chạ, cùng lao động sinh sống và sinh hạ một đứa con trai.
. Nhóm thần tinh thần – tình cảm – thần tình yêu Kama
THẦN SIVA
Thần KAMA và UMA
KẾT LUẬN
Thần thoại Ấn  Độ phong phú, chan chứa chất trữ tình và tinh thần nhân đạo sâu  sắc – đó là  truyền thống bất hủ  của văn học nghệ thuật Ấn  Độ. Từ giai đoạn anh hùng ca về sau đến thế kỷ XX, các thế hệ văn  nghệ sĩ Ấn  Độ luôn luôn  lấy đề tài  thần thoại và mượn nó  làm phương  tiện miêu  tả. Các  nhà thơ lớn như Kalidasa ở thế kỷ thứ V, Kabia ở thế kỷ XV-XVI, Tunxidat ở thế kỷ XVI-XVII, R.Tagore (1861-1941) vv…đã vận dụng thần thoại để miêu tả và đề cao cuộc sống tình yêu,  đất nước giàu  đẹp và nhân dân lao động nghèo khổ của mình,  sáng tạo ra nhiều tác phẩm văn học xuất sắc.
Trái lại, thứ văn học tôn giáo ngày càng mờ nhạt và bị lãng quên trong thế giới huyền bí, hư vô.
Thần thoại Ấn Độ cũng có ảnh hưởng đến Việt Nam. Câu chuyện “Dạ thoa vương” trong cuốn “Lĩnh nam  chích quái” chịu ảnh hưởng motif  quỉ vương Ravana của thần thoại Ấn Độ.
S? THI ?N D?
SỬ THI RAMAYANA
       
         
            1. Vài nét về tác phẩm
Ramayana, thiên anh hùng  ca vĩ đại  ra đời khoảng  bốn, năm trăm năm trước  công nguyên, được  ghi lại  thành văn  bản vào đầu công nguyên.
Bộ sách bằng tiếng  Sanskrit, gồm 500 đoạn chia  thành 12 cuốn gồm 24000 câu thơ đôi(sloka)
Ở Ấn Độ, Ramayana còn được soạn ra nhiều thứ tiếng dân tộc, cải biên thành tuồng kịch, ca,  múa và các hình thức nghệ thuật khác.
Ramayana đã được phổ  biến đến nhiều nước ở  Đông Nam Á. Có nước đã mượn cốt truyện để  sáng tác ra những truyện  mang mầu sắc riêng của dân tộc mình như truyện Rama Kiên ở Thái Lan, Riêmkê ở Cam pu chia, Phallahk Phallahm ở Lào,   Ramayana  của đân tộc Chăm (Champa/ Chăm) và truyên cổ tích Dạ thoa vương của người Việt.
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT RAMA
Trọng danh dự
thủy chung
đẳng cấp quý tộc
qủa cảm
S
Hình tượng Rama mặc dầu còn hạn chế về quan  niệm đạo đức của đẳng cấp (danh dự dòng  họ cao hơn tình vợ chồng  ) nhưng có thể nói toàn bộ ý chí, tình cảm, tài năng và sức mạnh chiến thắng của quần chúng đã được khái quát thành  biểu tượng người anh hùng này. Đó là con người luôn luôn bênh vực  điều thiện chống cái ác, cứu người hiền đặc biệt là  phụ nữ. Đó là sản phẩm  tuyệt vời của trí tưởng tượng và ước mơ cao đẹp của người Ấn  cổ xưa.
NHÂN VẬT SITA
Nàng là người phụ nữ Ấn Độ  cổ đại mẫu mực,  người  vợ chung thuỷ tiết hạnh,   người con gái hiền từ nhu mì nhân hậu. Nàng cao cả vì đã hiến dâng một tình yêu quên mình, bất chấp mọi gian khổ, bất chấp cả tính mạng.
Khi bị Rama nghi ngờ,   nàng kêu khóc thảm  thiết. Nàng tự minh oan cho mình:    “Nếu như mối tình đằm thắm của đôi ta,  mối duyên bền chặt của đôi ta không  đủ để cho  chàng hiểu thiếp  thì chàng ơi, vì tính đa nghi của chàng, thiếp đành chịu chết thôi !”
 NGHỆ THUẬT

Will Durant một  tác giả Mỹ nổi tiếng thế giới, chuyên nghiên cứu văn hoá  phương đông, đã viết về Ramayama như sau :”Tác phẩm không chỉ nói đến kì tích mà còn là toà lâu đài đầy những nhân vật lí tưởng, soi sáng tâm hồn và hành động ….nó còn là một  tác phẩm ghi  lại các truyền  thống triết học, tôn giáo và đạo đức của dân tộc Ấn Độ. Người Ấn Độ coi trọng nó như người theo đạo thiên chúa với cuốn sách ” Đời các vị thánh ” vậy. Ngoài việc thưởng thức một cách  thú vị về văn chương, họ xem đó là một thánh kinh,   đọc xong họ tin rằng sẽ được thánh thần phù hộ và chuộc được mọi tội lỗi”.
Romesh Dutt nhà nghiên cứu văn học Ấn Độ nhận xét “ngay cả đến Shakespeare cũng không thể  diễn tả được sự thôi  thúc của những tâm tình cuồng nhiệt  trong lòng người  một cách sống  động chân thực và mạnh mẽ ghê gớm như đã thấy trong Ramayana”.
Tác phẩm còn vẽ lên cảnh chiến trường ác liệt,  cung tên rào rào, đô thành bốc cháy,   đất đá tung toé,  người và quỉ thần quần đảo nhau bằng  nhiều  phép  thuật  thần  kỳ gây hứng thú cho người đọc.
Những đặc điểm nghệ thuật  trên tạo ra tính chất  bi hùng trong tác phẩm,  nâng cao giá trị thẩm mỹ của sử thi. Ramayana đã thật sự mở ra một thời đại mới rực rỡ trong văn học Ấn  Độ.
SỬ THI  MAHABHARATA
 1 . Vài nét về tác phẩm
Cũng như Ramayana  và các tác  phẩm khác ở  thời kỳ cổ đại,  MaHabharata  cũng khó  xác định  thời gian  ra đời. Dự đoán câu truyên được lưu truyền  trươc CN,   về sau  được nhiều  người ghi chép, bổ sung, chỉnh biên cho đến thế kỷ V mới chấm dứt.
Theo truyền thuyết, người sưu  tập đầu tiên bản  sử thi này là đạo sĩ Krisna  Domopayana  Vyasa  (Vyasa  có  nghĩa là sưu  tập).
Nguyên bản lúc đầu lên đến hàng trăm vạn câu thơ. Đến nay còn lưu truyền bản 110.000 câu  thơ đôi (Sloka) gồm 22  vạn dòng, dài gấp 7 lần hai anh hùng ca Iliad và Odysse của Hi Lạp.
Mahabharata có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới , đặc biệt ở Đông Nam Á.  Khoảng thế  kỉ thứ  VII đến  thứ VIII  , ở Inđonêsia xuất hiện nhiều truyện được  phóng tác từ cốt  truyện Mahabharata bằng tiếng Java cổ như “Trận  đánh vĩ đại của con  cháu Bharata”, “Đám cưới của Acgiuna “ . Ở Cam pu chia,  Mahabharata còn xuất hiện sớm hơn, vào thời kì văn học Angko, nhiều cảnh trong Mahabharata được khắc phù điêu  trên  mặt  đền  Angko  và  các đền đài khác ở Phnompênh.
3 . Gía trị nội dung và nghệ thuật
Chủ đề của tác  phẩm vĩ  đại này  là cuộc chiến tranh lớn giữa dòng họ Bharata  để  dành  giật  đất  đai  bờ cõi. Nhưng bao quanh chủ đề còn có nhiều  nội dung và  tư tưởng rộng  lớn và sâu sắc.
Bộ sử thi đã đề cao lí tưởng và  đạo đức của thời đại. Lí tưởng và đạo đức đã đúc kết  trong tập giáo lí Bhaganat Gita gần 19 chương, 700  câu  là  một  bộ  phận sử thi MahaBaharata. Chiến thắng của anh em Pandava được coi như là  chiến thắng của đạo đức và công lý. Hành động của họ đã hoàn thiện  được bổn phận và danh dự là nội dung của Darma.
Mahabharata được coi  là cuốn   bách khoa toàn  thư  về đời sống văn hoá,   chính trị và  xã hội Ấn Độ  cổ đại.  Tác phẩm chứa đựng những sự kiện lịch sử,   tín ngưỡng tôn giáo,  tập quán sinh hoạt của toàn thể dân  tộc Ấn Độ  suốt từ chân  núi HimAllahya tới vịnh Bengan.
Biruni nhà Ấn Độ  học người  Ả-rập  đã  viết trong cuốn ” Ấn Độ “  xuất bản năm 1930 như sau:
“Người Ấn Độ  có cuốn sách mà mình tôn kính đến mức khẳng định dứt khoát,   rằng  tất cả  những gì  có trong  sách khác thì chắc chắn không có trong sách này. Tất cả  những gì có trong sách này thì không có   trong   sách   khác.   Người   ta  gọi  đó  là Mahabharata”.
Do nội dung phong phú bao gồm nhiều hình thức thần thoại,   cổ tích, trường ca,  bài ca giáo huấn,  ngụ ngôn,  kinh kệ, triết lý, nghệ thuật khác …,   tác phẩm này có  lối kết cấu khác biệt hẳn những bản anh hùng ca khác.
Nhược điểm  của Maha  là kết  cấu phức  tạp quá mức,  có nhiều đoạn trùng lặp,   mâu thuẫn và có  những đoạn  không liên quan đến nội dung tác phẩm.
Tuy vậy, Mahabharata vẫn là tác phẩm mẫu mực về qui tắc anh hùng ca / sử thi  của nhân loại.
TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN GIAN ẤN ĐỘ
I. Khái quát

Nói Ấn Độ là kho tàng cổ tích giàu nhất trên thế giới điều đó rất đúng. Kho tàng đó, từ thế hệ này đến thế hệ khác khai thác không bao giờ hết. Đó là thành quả tuyệt diệu của sự thông minh, đầy mưu trí, giàu óc tưởng tượng của nhân dân Ấn Độ.
Ngay từ  trước công nguyên cho đến về sau trải qua hàng thế kỷ, truyện kể Ấn Độ đã được ghi chép, được biên soạn lại thành nhiều hợp tuyển bằng nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau rất có giá trị và được lưu hành khắp đất nước Ấn Độ và trên thế giới, đặc biệt ở Đông Nam Á và Trung cận Đông.
2. Nội dung và ý nghĩa truyện cổ tích
Nhìn vào kho tàng truyện cổ Ấn Độ chúng ta thấy nhân vật của truyện khá phong phú. Mỗi loại nhân vật đều đại biểu cho mỗi giai cấp trong xã hội Ấn Độ. Đó là các vị vương hầu công tước, các tu sĩ Ba-la-môn, các vị quan toà, các quan hành chính, thầy cò, thầy kiện, các hiền triết, các ẩn sĩ, người đi buôn, kẻ ăn mày, người thợ cày, người thợ thủ công, v.v.
Bên cạnh lại có cả một thế giới súc vật được xây dựng theo sự tưởng tượng của con người, dùng làm tượng trưng, ám chỉ, ngụ ý, ẩn dụ, v.v. Những con vật đó đều giữ đúng đặc tính của nó, ví như rắn độc ác, lừa ngu dốt, cáo ranh mãnh.
Xây dựng những nhân vật đó các tác giả dân gian muốn phê phán thói hư tật xấu của con người và sự bất công trong xã hội.
Truyện cổ tích Ấn Độ cũng giống như các truyện cổ của các dân tộc khác đều phản ảnh hiện thực cuộc sống xã hội. Thói hư tật xấu của con người bao giờ cũng bị đả kích, bị trừng phạt, lòng tốt bao giờ cũng được phát huy và ca ngợi. Thiện bao giờ cũng thắng ác, chính nghĩa bao giờ cũng thắng hung tàn và bạo ngược. Các truyện đều ngụ ý giáo dục và khuyên răn người đời.
Kẻ mạnh bao giờ cũng chiến thắng kẻ yếu, nhưng không hẳn như vậy nếu kẻ yếu biết dùng mưu trí, biết đoàn kết tương trợ với nhau thì nhất định chiến thắng được kẻ mạnh. Chẳng hạn trong truyện “ Đoàn kết thì sống” miêu tả lũ nhái, ong vò vẽ và chim đã đoàn kết đánh chết được voi.
Truyện cổ tích Ấn Độ cũng giống như các truyện cổ của các dân tộc khác đều phản ảnh hiện thực cuộc sống xã hội. Thói hư tật xấu của con người bao giờ cũng bị đả kích, bị trừng phạt, lòng tốt bao giờ cũng được phát huy và ca ngợi. Thiện bao giờ cũng thắng ác, chính nghĩa bao giờ cũng thắng hung tàn và bạo ngược. Các truyện đều ngụ ý giáo dục và khuyên răn người đời.
Kẻ mạnh bao giờ cũng chiến thắng kẻ yếu, nhưng không hẳn như vậy nếu kẻ yếu biết dùng mưu trí, biết đoàn kết tương trợ với nhau thì nhất định chiến thắng được kẻ mạnh. Chẳng hạn trong truyện “ Đoàn kết thì sống” miêu tả lũ nhái, ong vò vẽ và chim đã đoàn kết đánh chết được voi.
Truyện “Vua Xuhayman và con sếu” tập trung ca ngợi tình bạn, nếu không có bạn bè thì cuộc sống không có ý nghĩa. Bạn bè phải chia bùi xẻ ngọt với nhau, vui buồn có nhau như trong truyện “Hai người bạn và túi tiền”. Sự cãi cọ, mâu thuẫn lẫn nhau chia rẽ nhau sẽ không đem lại lợi ích gì cho nhau, chỉ khiến cho kẻ khác “đục nước béo cò” mà thôi, như trong truyện “Của tôi và của cô”, “Chó, mèo và khỉ.” Tình nghĩa bạn bè có sâu đậm là do tính trung thực, chung thuỷ và biết yêu thương nhau. Truyện “Người thợ kim hoàn và thợ mộc” đã lên án những kẻ phản bội lại tình bạn vì hám lợi. Truyện “Tính vênh váo” vạch trần những kẻ khi đã có địa vị danh vọng trong xã hội rồi thì lên mặt, khinh thường bạn bè, quên cả cảnh sống thuở hàn vi với nhau.
3. Nghệ thuật truyện cổ Ấn Độ
Nhìn chung kết cấu truyện cổ Ấn Độ thường chặt chẽ cô đọng, súc tích, ngắn gọn. Có truyện vẻn vẹn 5, 6 dòng.
Thông thường có 2 cách bố cục:
Một là, bố cục thường bắt đầu cốt truyện chính, sau đó để nhân vật chính trong truyện kể, ngừng kể là kết thúc. Cuối truyện thỉnh thoảng có những câu thơ bình luận ngắn, hoặc ngụ ngôn, hoặc châm ngôn, hoặc một lời bình rút ra cho người đọc một bài học kinh nghiệm.
Cách bố cục thứ hai, thường mở đầu bằng lời giới thiệu của người kể truyện về đề tài chuyện, người kể chuyện có thể là một con vật hay người. Sau đó là cốt truyện, kết thúc truyện có thể là cảm tưởng của người nghe, hay lời bình về thái độ và tâm trạng của người nghe. Nếu người nghe yêu cầu kể tiếp thì truyện lại được nối tiếp bằng một truyện khác.
Về ngôn ngữ thì lời ít ý nhiều, lời lẽ giản dị, dễ hiểu có lúc bóng bảy, hóm hỉnh hài hước tạo ra một mỹ cảm sảng khoái, lạc quan. Văn chương thường uyển chuyển và sinh động.
Có nhiều truyện, nhân vật được khắc hoạ thành những nhân vật điển hình tạo nên ấn tượng sâu sắc cho người đọc, người nghe.
Giàu chất triết lý, dồi dào trí tuệ, nhiều ngụ ngôn là đặc điểm nổi bật trong truyện cổ Ấn Độ. Điều này cũng phản ảnh rõ đặc tính dân tộc Ấn Độ.
Tuy vậy, truyện cổ Ấn Độ cũng bộc lộ một số nhược điểm của nó, có nhiều truyện mang nặng màu sắc huyền bí, chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng tôn giáo đặc biệt là Phật giáo làm cho một số truyện kém phần giá trị hiện thực của nó.
 KỊCH THƠ 
Về mặt hình thức, tuồng, kịch Ấn Độ chưa phân ranh giới rõ ràng giữa các thể loại, nhưng đã có mầm mống bi kịch và hài kịch.
Cách bố cục chưa thật chặt chẽ lắm, có phần giáo đầu tiếp theo có nhiều hồi, thông thường có 7 hồi, có hồi chia hai cảnh. Ý niệm về màn lớp chưa rõ ràng. Giáo đầu giống bi kịch Hy Lạp có đối thoại giữa diễn viên để giới thiệu tác giả. Trong kịch không chú ý tính thống nhất về thời gian và địa điểm như luật tam duy nhất của Aritxtôt.
Nhân vật chính phải là con người lý tưởng, kiểu quân vương, anh hùng võ sĩ và thần thánh có đủ ba tiêu chuẩn: tình yêu, anh hùng và cao thượng.
Ngôn ngữ của nhân vật được qui định rõ ràng, nhân vật đàn ông phải dùng tiếng nói bác học Xăngcơrit, đàn bà dù quý tộc cũng vậy phải dùng tiếng Pracơrit, là khẩu ngữ thông thường của nhân dân. Khi nhân vật đối thoại với nhau thì dùng văn xuôi, độc thoại dùng văn vần. Ca múa đóng vai trò phụ hoạ trong kịch. Dùng vai hề để gây cười làm cho không khí của sân khấu thêm vui. Hội hoạ cũng được sử dụng để trang trí sân khấu. Y phục của nhân vật lại loè loẹt và cầu kỳ. Nhân vật, thường dùng động tác, cử chỉ, dáng điệu để minh hoạ ý của mình, điều này khiến cho người xem phải dùng sức tưởng tượng để hiểu hoàn cảnh hoạt động của nhân vật. Kịch thường đem diễn ở trong cung đình hay ở trong  sân nhà của kẻ giàu sang, chưa chú trọng xây dựng rạp hát.
THI HÀO RABINDRANATH TAGORE
 1.  Cuộc đời một thiên tài

Tagore là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch lớn, một hoạ sĩ có tài, một nhạc sĩ nổi tiếng,   một nhà giáo,  một vị hiền triết và một nhà hoạt động xã hội. Đó là thiên tài của Ấn Độ  và thế giới.
Tagore  sinh ngày 7 tháng  5 năm 1861 tại thành phố CANCUTTA, bang Bengan giàu đẹp. Bengan là nơi  văn học phát triển rất  sớm và có truyền thống nhân đạo chủ  nghĩa từ lâu  đời,   cũng là mảnh  đất kiên cường nổi lên những cuộc  đấu tranh chính trị chống  đế quốc và phong kiến.
Tagore xuất thân trong gia đình quí tộc Bà la môn, về sau gia đình ông vì chống lại đẳng cấp đó mà bị khai trừ ra khỏi đẳng cấp.
Cha của  Tagore là  DEVEN DRANATH  TAGORE (1817-1905) triết gia và nhà cải  cách xã  hội nổi  tiếng,  trở thành  lãnh tụ của phong trào Barahma somaj.
Gia đình Tagore có 15 anh chị em ruột. Ông là con  thứ 14. 
Tagore bước vào  cuộc đời hoạt  động xã hội  và chính trị khá sớm. Năm 1877,  cha cho qua học luật ở Anh, không thích, ông lại trở về. Từ đó ông  lại bắt tay vào  hoạt động xã hội  và tích cực sáng tác văn học nghệ thuật ông say mê hăng hái sáng tác và hoạt động xã hội.
Tagore đã tham gia  hội Brahma  Somaj, dự đại  hội Đảng  Quốc Đại (1880), xuống đường  biểu  tình  cùng  nông  dân  chống  thực dân Anh(1905), ủng hộ phong  trào đấu tranh của  Tilắc (1908),   diễn thuyết ủng hộ phong trào đấu tranh của thanh niên,   sinh viên Ấn Độ (1910), gửi thư cho  phó vương quốc  Anh phản đối  đàn áp nông dân ở Amrisa (1919), ủng hộ phong trào đấu tranh giải  phóng của Gandhi (1920).
Từ năm 1916 trở đi,  Tagore lần lượt  đi thăm một số nước trên thế giới như Anh,  Pháp,  Mỹ, Trung Quốc, Nhật, .v.v…. ông đi thăm không phải để du lịch mà làm nhiệm  vụ con ong đi hút mật ngọt bồi bổ cho dân tộc  mình,   để ông được  “tái sinh mãi  mãi” trên quê hương Ấn  Độ nghèo khổ và đau thương của mình.
Năm 1930, Tagore thực hiện ước mơ lớn lao của ông là đến thăm Liên Xô, đất nước mà giai  cấp vô sản đang làm  chủ vận mệnh của mình, đất nước có cuộc sống rất gần gũi  với ước mơ và nguyện vọng của ông.
Từ đó trở đi,  Tagore càng tích cực tham gia các hoạt động văn hoá và xã hội. Ông có chân  trong Hội các nhà văn  tiến bộ Ấn Độ thành lập năm 1936. Những  năm gần cuối đời,  Tagore  là “chiến sĩ thập tự quân chống phát xít”  – ông tích cực đấu  tranh cho sự nghiệp bảo vệ hoà bình và chống chiến tranh  thế giới lần thứ II. Mặc dù bị mù loà năm trên giường bệnh,  ông vẫn hăng hái sáng tác thơ ca lên án chiến tranh đế quốc.
Sau khi đi thăm một  số nước về, ông lại lập  ra trường Visua Bharati (Đại Học Thế  Giới) vào năm  1922 để thu  hút thanh niên quốc tế đến  học tập  văn hoá  Ấn Độ  trên tinh thần hoà hợp dân tộc – ông đã từng mong mỏi mỗi sinh  viên   đều  là Visuamana (người rộng rãi) với tư tưởng “  cả thế giới là nhà của tôi, tất cả mọi người là bạn của tôi”.
Sự nghiệp văn học nghệ thuật của  Tagore rất lớn, ông để lại cho Ấn  Độ và thế giới 52 tập thơ,   42 vở kịch,   trong đó vở kịch “Sự trả thù của tự nhiên”(1883), “Lễ máu” (1890) là nổi tiếng hơn cả ; 12 tập  tiểu   thuyết  trong  đó  “Gora” (1808), “ Nhà  thế giới” (1916) là tác phẩm ưu tú,  gần 100 truyện ngắn khác .v.v…
Ngoài ra  Tagore  còn để  lại nhiều  tập ca  khúc. Quốc ca của nước cộng hoà  Ấn Độ  hiện nay  là ca  khúc của Tagore và hàng nghìn bức tranh do ông vẽ đang được giữ gìn ở viện bảo tàng.
Những công trình nghệ thuật kể trên  đây nói lên  đầy đủ tài năng và sức lao động  nghệ thuật vô  tận của Tagore.  Ông được xem là “kì công  thứ  hai”  của  văn  học  Ấn Độ   sau khi có Kalidasa ( nhà thơ, nhà soạn kịch thế kỷ thứ V).
Ngày 7 tháng 8  năm 1941, Tagore kết thúc  cuộc đời mình như kết thúc một bản hợp tấu hùng hồn vĩ đại – bản hợp tấu mang ý chí  và nghị lực của một thiên tài lớn lao.
Tagorelàm thơ khá sớm, lên 8 tuổi đã say mê  làm thơ, lúc nào trong túi áo cũng có thơ, ai cần đến thơ ông sẵn  sàng rút ra đọc cho họ thưởng thức. Năm 13 tuổi,  tập thơ đầu tay “Bông hoa rừng” ra đời. Năm 25 tuổi, xuất bản tập “Sắc nhọn và cùn mòn” gồm nhiều bài Sonnet (xon -nê: thể thơ châu Âu gồm 14 câu), trong  đó có bài “Bạn ơi đến đây, đừng nao lòng” (1886) được xem  như “Lời kêu gọi nhân dân” :
Bạn ơi đến đây đừng nao lòng
                Hãy bước xuống trên trái đất cằn khô
                Đừng hái mộng trong bóng tối
                Bão táp rung chuyển trời
                Chớp sáng loà quất vào giấc ngủ
                Hãy bước xuống hoà vào đời bình dị,
                Màng ảo tưởng xác xơ rồi
                Hãy náu mình giữa những tường đá nhám
Tập “Thơ  dâng” (Gitanjali)  gồm  103  bài do Tagore tuyển chọn từ các tập thơ  khác viết bằng  tiếng Bengali của  mình rồi tự dịch ra  tiếng Anh.  Sau khi  được tặng  giải thưởng Nobel năm 1913, “Thơ  Dâng” lần lượt được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới,  tài năng và tên tuổi của ông ngày càng nổi bật trên thế giới. (ở Việt Nam có  bản dịch  là Khúc  hát dâng đời)
Pier Hintrom,  viện sĩ Viện hàn lâm Thuỵ  Điển nói về tập Thơ Dâng khi quyết định tặng thưởng giải Nobel như sau: “Tập thơ nhỏ bé được chính tác  giả dịch ra tiếng Anh  đã tạo ra một ấn tượng về  sự phong  phú và  tài năng  thơ  đáng  kinh ngạc, không có gì là lạ hay vô lí trong đề nghị tặng thưởng cho nó”.
Tiếp đó,  năm nào Tagore  cũng giới thiệu với người đọc một vài tập thơ ở nhiều chủ đề  khác nhau. Năm  1914 tập thơ  “Người làm vườn” (The  Gardener ), năm  1915  tập  “Trăng  non” (The Crescent Moon),” Mùa hái quả “ (Fruit Gathering ),  những năm sau đó, tập “Những cánh thiên nga” (A flight of swans), ” Tặng phẩm của người yêu ” (Lover’s gift ) v. v…lần lượt ra đời.
.1   Tình yêu con người và cuộc sống
(Bài) 1
Vì vui riêng, Người đã làm tôi bất tận. Thân này thuyền nhỏ mỏng manh đã bao lần Người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi.
            Xác này cây sậy khẳng khiu, Người đã mang qua núi qua đồi qua bao thung lũng, và phả vào trong giai điệu mới mẻ đời đời.
Khi tay Người bất tử  âu yếm vuốt ve, trái tim nho nhỏ trong tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết.
Tặng vật Người ban vô biên vô tận, nhưng để đón xin tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng. Thời gian lớp lớp đi qua, Người vẫn chưa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.
2   Lòng ưu ái phụ nữ
Người phụ nữ Ấn Độ  cũng có  những nỗi đau  khổ giống như phụ nữ Việt Nam dưới chế độ  phong kiến. Họ là loại  người bị chà đạp nhân phẩm triền miên qua nhiều chế độ.
Tagore rất quan tâm  đến số phận phụ  nữ Ấn Độ  và  biểu lộ kòng ưu ái sâu  sắc.  Ông  đã  dành  nhiều  trang thơ ca ngợi họ. Trước hết Tagore tìm thấy ở phụ nữ Ấn  một sắc đẹp tự nhiên, được đất trời tô thắm và được bàn tay con người tô vẽ thêm:
Không chỉ riêng Thượng đế
đã thêu dệt nên nàng
mà cả loài người nữa
Nhà thơ dùng sợi vàng
dệt nên hình dáng nàng
hoạ sĩ tô đường nét
cho nàng đẹp vạn đời
(Bài số 59 tập thơ “Người làm vườn”) .
3   Thơ Tagore về tình yêu nam nữ
Thơ tình yêu chiếm một vị trí quan  trọng trong sáng  tác của Tagore. Thơ tình Tagore thể hiện một  quan niệm yêu đương đúng đắn và tiến bộ .
Tagore đã  từng yêu  đương say  đắm.  Ông dành cho chủ đề này hai tập thơ  “Người làm vườn” và “Tặng phẩm người yêu”. Ngoài ra còn rải rác ở  các tập thơ khác :   “Những con chim bay lạc” , “Người thoáng hiện” v.v…
” Người làm vườn  ” The Gardener là tập  thơ tình hay nhất của Tagore .
Nhà thơ cho rằng tình yêu là một nhân tính thiêng liêng .  Con người , ai cũng phải yêu ,  vì đó là  hạnh phúc , là nhu cầu của sự sống , cần thiết như ánh lửa và mặt trời vậy.
Nhà thơ  cảm thấy  thoả mãn  là suốt  đời đã  từng yêu và mong muốn cuối cùng là  được nói lên  điều đó trước  khi bước vào cõi chết :
                Cõi đời ơi khi tôi đã chết rồi
                thì trong cõi vắng lặng của người
                chỉ một lời này còn lại
                ” tôi đã từng yêu “
(Bài 217- tập Những con chim bay lạc)
.4  Tình yêu hoà bình và tinh thần chống chiến tranh
Tagore đã chứng kiến hai cuộc chiến  tranh thế giới  . Đất nước Ấn  Độ cũng là nạn nhân  của hai cuộc chiến ấy.  Thực dân vơ vét người và của cải Ấn   Độ ném vào hai  lò lửa ấy .  Nhân dân Ấn  Độ chịu bao nhiêu thảm hoạ .
Khát vọng hoà bình, nỗi căm giận chiến  tranh đế quốc của Tagore được phản ánh trong thơ một cách nồng nhiệt
Năm 1937, được  tin  bọn  phát  xít  Italia  xâm lược Etiopia, Tagore viết ngay bài thơ “Châu Phi”, lên án tội ác man rợ của chúng. Nhân  dân Etiopia  đang sống  yên lành  trên mảnh đất quê hương thì phát xít Italia  hợm mình là  kẻ văn minh  đem quân dày xéo lên cuộc sống yên vui của họ. Tagore đòi kẻ xâm lược phải nhận tội lỗi trước nhân dân châu Phi và xin  nhân dân hãy tha tội cho mình
        … Hãy đến đây
đến trước người thiếu phụ bị giày vò
hãy cầu xin Nàng ân xá
và xem đó là lời trịnh trọng cuối cùng
giữa cơn cuồng say của một lục địa ốm
(Thơ, 1942)
.5   Tình yêu thương trẻ  em
Món quà
Con ơi , ta muồn cho con một chút gì , bởi chúng ta trôi dạt trong dòng đời .
Chúng ta có thể sống xa nhau , tình ta có thể quên lãng mau.
Mẹ không ngu ngốc tới nỗi hi vọng mua chuộc lòng con bằng tặng vật .
Đời con còn trẻ đường con còn dài
Con uống một ngụm trong chén tình cha mẹ mang tới rồi quay đi và xa lìa cha mẹ .
Con có trò chơi riêng, có bạn bè riêng .
Có sao đâu nếu con chẳng có thời giờ và tâm trí nhớ tới mẹ cha .
Còn chúng ta , tất nhiên trong tuổi già
chúng ta có đủ thì giờ nhàn rỗi
để đếm những ngày trôi qua
và để ôm ấp trong lòng ta
những thứ mà tay ta đã mất đi mãi mãi
dòng sông vừa chảy vừa hát ca
và đập tan hết những  thứ gì ngăn cản
nhưng núi thì ở lại nhớ mong
và nhìn theo dòng sông
với tấm lòng trìu mến .
3 . Khái quát đặc điểm nghệ thuật trong thơ  Tagore
 - Thơ giàu chất hiện thực:
 Nội dung ấy được bọc ngoài một lớp từ ngữ, hình ảnh tượng trưng có tính chất tôn giáo, siêu hình thần bí như Chúa Đời , Thượng đế , Thầy, Người … nhưng những câu chuyện, tình tiết,  hình ảnh ông sáng tạo ra đều là những chuyện thực,  người thực từng xảy  ra trên đất nước Ấn  Độ nghèo khổ và đau thương của ông
-Chất trữ tình và tính lãng mạn dồi dào
-Chất trí tuệ
-Thủ pháp biểu hiện tượng trưng
Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tagore
Cấu trúc thơ
Bút pháp hướng nội đi sâu miêu tả tâm linh đánh thưc bản ngã
Đôi mắt
Sự im lặng
Chúa trời-Chúa đời
Thiên đường-Địa ngục
Cảnh cô đơn, hình ảnh và tâm tràng cô đơn
Kết hợp hiện thưc và huyền ảo
Đặc điểm ngôn ngữ
Hình ảnh thiên nhiên
Hện thực và ảo tưởng
NT: so sánh, ẩn dụ, tương trưng
KẾT LUẬN VỀ THI PHÁP THƠ TAGORE
Tagore là một tổng hợp nhân tài kỳ diệu của văn học Ấn Độ, từ Upanisad, qua tài liệu phật giáo, đến thơ Kalidasa, với tinh thần nhân đạo trung cổ cùng với tính chất lãng mạn tiến bộ của văn học Anh và tinh thần đấu tranh chống đế quốc giành độc lập của nhân dân Ấn Độ.
Sự hòa quyện giữa đời sống bình thường và những bí ẩn trong đời sống bình thường, sự hòa quyện giữa thơ và triết học, chất hài hước và trữ tình, sự phân tích xã hội và sự phát hiện ra thế giới nội tâm của con người. Đó là những đặc điểm trong thơ Tagore.
Ảnh hưởng của Tagore đối với tinh thần Ấn Độ và đặc biệt là các thế hệ đang kế tiếp nhau ngay nay là vô cùng to lớn. Không chỉ riêng tiếng Bengal – ngôn ngữ ông dùngđể viết, mà tất cả các ngôn ngữ khác ở Ấn Độ đã được nhào nặn một phần bởi các tác phẩm của ông. Hơn bất cứ người Ấn Độ nào khác, Rabindranath Tagore đã góp phần mang lại sự hài hòa cho các lý tưởng Đông và Tây (Nehru).
VĂN HỌC NHẬT BẢN
Khái quát về nền văn học Nhật bản, có thể chia nền văn học này ra ba phần :

Phần 1. Văn học cổ     (từ khởi thủy đến thế kỉ 13)
Phần 2. Văn học trung đại (thế kỉ 13 đến 1868)
Phần 3. Văn học hiện đại   (từ 1868 đến nay
VĂN HỌC CỔ ĐẠI
GỒM :
Thời đại  Nara : buổi bình minh










Thời đại Heian (bình an): thời của cái đẹp
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
GỒM
Giai đoạn 1. Thế kỉ 13 – 15  là “thời Khói lửa”
Giai đoạn  2. Thế kỉ 17 đến 1868
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI 
(từ  cuộc Canh tân 1868 đến nay)
       NỮ  SĨ  MURASAKI  và TIỂU THUYẾT GENJI
  
i. tác giả murasaki
_Nữ sĩ Murasaki là con một học giả quan chức nổi tiếng, kết hôn với người anh họ . Sinh hạ một đứa con gái , nhưng nàng goá chồng sớm vì chồng chết bởi bệnh dịch hạch.
_ năm 1005 , Murasaki được tuyển vào cung của thứ phi Akiko làm một chức nữ quan . Nàng thường đọc thơ Lí Bạch và dạy môn Thơ Đường cho hoàng phi. Nữ sĩ nổi tiếng văn chương nên được thiên hoàng mến mộ . Quan tể tướng, cha của hoàng phi thường tìm cách tán tỉnh nữ sĩ , đôi khi xướng hoạ thơ với nàng
_Truyện Genji viết ở đâu và khi nào chỉ được kể trong truyền thuyết mà không có tài liệu xác thực. Cuộc sống phù hoa chốn cung đình khiến nàng chán ngán , giống như thi tiên Lý Bạch vậy. nàng cô đơn giữa chốn phồn hoa . . . chỉ có sáng tác văn chương mới làm cho nàng cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa .





TÁC PHẨM



Tiểu thuyết dày 3 000 trang  bản gốc) , gồm 54 chương.
Nội dung có hai phần .

_Phần đầu 40 chương kể về cuộc đời của hoàng tử Genji, chủ yếu là những cuộc phiêu lưu tình ái và chân dung những phụ nữ quan hệ với Genji.

_Phần hai 14 chương lấy bối cảnh xa kinh đô – ấy là vùng Uji . Sau khi Genji chết , nhân vật trung tâm bây giờ là Kaoru mà mọi người lầm tưởng đó là con trai của hoàng tử Genji .
THƠ HAIKU  VÀ THI SĨ THIỀN SƯ BASHO
Tác giả basho

_Basho tên thực là  Matsuo Munefusa  sinh  trong một gia đình võ sĩ samurai ở thị trấn Ueno xứ Iga ngày 15-11-1644. Mới lên 9 tuổi Basho đã phải xa nhà đến lâu dài Chúa đại danh xứ Iga làm tiểu đồng cho con trai chúa là Yoshitada lớn hơn Basho hai tuổi. Hai thiếu niên trở thành đôi bạn thân cùng nhau học tập và làm thơ.
Đôi bạn chuyên tâm vào chuyện làm văn chương hơn là võ thuật , cũng bởi hồi ấy là thời bình an (1600-1868). Đôi bạn làm thơ dưới sự hướng dẫn của Kigin . Một số bài thơ của đôi bạn bắt đầu xuất hiện trong vài hợp tuyển thơ ca hồi ấy.
Nhưng tình bạn văn chương ấy kết thúc sơm vì Yoshitada chết lúc 24 tuổi 



 3.Ba nguyên lí thơ haiku
 
_Nguyên lí “mùa”: mỗi bài thơ cần thiết có từ “mùa” (quí ngữ) hoặc gợi  ý  về  mùa (như mưa phùn, hoa đào, trăng, tuyết …).Con người và vạn vật đều sống trong thời tiết thường xuyên vận hành. Trước hết trong cuộc sống ta cảm thấy đất trời cụ thể. Nghĩa đen của câu tục ngữ “chạy trời không khỏi nắng”.
_Nguyên lí “tương quan”: mỗi sự vật luôn luôn liên quan với một sự vật khác (con bướm và cơn gió, con chuột với con chim sẻ, con người và con cua, con hạc với dòng sông, mỗi sinh thá»
 
Gửi ý kiến