Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

VH phương Tây 1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lại thị hồng vân
Ngày gửi: 11h:01' 02-07-2015
Dung lượng: 712.5 KB
Số lượt tải: 56
Số lượt thích: 0 người
VĂN
HỌC
NƯỚC
NGOÀI
GiẢNG VIÊN: LẠI THỊ HỒNG VÂN
Chương 1.          CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN TÂY ÂU
1  Văn học Pháp

1.1  Chủ nghiã cổ điển “mới” và âm vang văn học cách mạng tư sản

Trong những năm đầu của Cách mạng Pháp (1789-1794), chủ nghĩa cổ điển lại xuất hiện và ngự trị nền văn học. Dòng văn học này tiếp tục khuynh hướng quay về nghệ thuật cổ đại và có nhiều nét chung với chủ nghĩa cổ điển trước cách mạng. Nhưng về nội dung ý thức hệ, nó hoàn toàn khác biệt.
Chủ nghĩa cổ điển “mới”sau Cách mạng phản ánh cuộc đấu tranh của đẳng cấp thứ ba nhằm đạt được tự do chính trị và quyền bình đẳng trong xã hội mới sau khi đã lật đổ giai cấp phong kiến quí tộc. Nó miêu tả những thắng lợi của cách mạng và niềm hân hoan của nhân dân đặt lợi ích chung trên lợi ích riêng tư. Xã hội tư sản mới ra đời cũng cần một chủ nghĩa anh hùng để biểu dương và củng cố chế độ mới. Nhưng những nhân vật tư sản cũng sớm bộc lộ những mặt trái của họ nên nhà văn muốn dựa vào những hình tượng cổ đại. “Họ tìm thấy trong những truyền thống cổ điển của nền cộng hoà La Mã những lí tưởng về hình thức nghệ thuật, những ảo tưởng mà họ cần thay thế cho những nội dung hạn chế tư sản nhằm duy trì sự hân hoan của tấn bi kịch lớn lao” (K.Marx).
Cách mạng đã đóng cửa các phòng khách thính văn nghệ (salon), phát triển báo chí để tạo nên dư luận công chúng mới, mở rộng diễn đàn cho các cuộc tranh luận với thể loại mới : văn hùng biện chính trị, xuất hiện một số nhà hùng biện tài năng như Mirabeau.
1.2 Văn học lãng mạn Pháp phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong khoảng giữa hai cuộc Cách mạng (1789 và 1848).  Ðúng như nhận định của Marx, khuynh hướng lãng mạn là  sự phản ứng đầu tiên đối với Cách mạng Pháp và tư tưởng Ánh sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó
Văn học lãng mạn đã kế thừa các nhân tố sau :
Chủ nghĩa tình cảm, một tư trào văn chương thế kỷ 18 ra đời nhằm cân đối với tính lý trí của văn học Ánh sáng 18 vốn nặng về lý trí.
Về triêt  học, chủ nghĩa lãng mạn chủ yếu mang tính duy tâm chủ quan. Đặc biệt văn học lãng mạn chịu ảnh hưởng khá sâu của  học thuyết “chủ nghĩa xã hội không tưởng“ của Owen và Furier.
Về nghệ thuật, thiên về tính trữ tình yêu thiên nhiên như một phương thức giải thoát  thư giãn, phản ứng với hiện thực xã hội ngột ngạt bon chen.
Văn học lãng mạn vẫn có chú ý ít nhiều đến hiện thực đau khổ của người lao động.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật chưa chú ý xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nó là cá nhân dị biệt, ngẫu nhiên, bất chấp sự vận động của hoàn cảnh khách quan.
Tính chất nhân đạo tràn ngập các tác phẩm lãng mạn.




Các tác giả tiêu biểu
Bà De Stan (1767-1817)- nhà tiểu thuyết
Ở đầu thế kỉ, bà là nhà văn góp phần định hướng cho nền văn học mới về mặt lí luận. Bà đã khẳng định những ưu thế của xúc cảm trong văn học và mở ra chân trơi của sự giải phóng văn học khỏi những qui phạm của chủ nghĩa cổ điển. Bà đã mở rộng ý niệm về cái đẹp khi quan tâm đến những kiệt tác văn chương của nước Pháp và các dân tộc khác. Bà có khả năng kết hợp sự hiểu biết và sáng tạo khi giới thiệu văn học Ðức với công chúng Pháp qua những tác phẩm lí luận và hai cuốn tiểu thuyết lãng mạn “Delphin” và “Corin hay là Italia”, chỉ ra nội dung tình cảm cao thượng và chất trữ tình tràn trề, sống động của nó. Trong một bức thư gửi W.Goethe, nhà văn Schiller viết : “không có gì là vay mượn, sai lạc và yếu đuối ở bà Stan, bà là tinh thần Pháp đầy trí tuệ và thuần khiết. Bà muốn soi sáng, thâm nhập, đo lường tất cả. Bà không chấp nhận một điều gì tối tăm và tắc tị. Bà kinh sợ chủ nghĩa thần bí và sự mê tín”.
Chateaubriand (1768-1848)
Nhà văn lớn thứ hai mở đầu chủ nghĩa lãng mạn là Chateaubriand.
Ông là nhà văn tiêu biểu của khuynh hướng  lãng mạn tiêu cực ở Pháp. Xuất thân dòng dõi quí tộc, rơi đất nước sau cách mạng và năm 1791 ông đến Bắc Mĩ với danh nghĩa tham gia một cuộc thám hiểm khoa học. Năm 1792 ông trở về nước, tình nguyện gia nhập quân bảo hoàng chống lại cách mạng. Bị thương ở Tiongvin, ông say sưa trú ngụ ở nước Anh. Ông đối lập với Ðế chế I vì họ không chấp nhận khuynh hướng chính trị quá khích và bảo thủ của ông. Thời Trung hưng, ông được cử làm sứ thần ở London và một thời gian làm bộ trưởng ngoại giao. Thực hiện chính sách phản động của hoàng tộc Bourbon, năm 1823 ông chủ trương đàn áp cách mạng Tây ban nha. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm năm 1811 và rời bỏ chính trường sau Cách mạng tháng Bảy 1830.
Năm 1787, Chateaubriand đã xuất bản ở London tác phẩm Tiểu luận lịch sử chính trị và đạo đức bàn về những cuộc cách mạng cũ và mới, nhận thức trong những mối quan hệ với Cách mạng Pháp. Trong tác phẩm này, ông chỉ ra ảnh hưởng của các triết gia thế kỉ 18 đối với bản thân ông. Ông ca ngợi nhận thức tự nhiên của Rousseau và vận dụng tư tưởng duy lí để chống lại niềm tin Thiên chúa giáo. Thế nhưng ông vẫn thù địch với Cách mạng, không tin vào sự tiến hoá của lịch sử nhân loại như các nhà tư tưởng Ánh Sáng. Ông bảo vệ tàn tích của chế độ phong kiến và hồi phục cảm hứng tín ngưỡng trong nhiều tác phẩm: Atala (1801). Thần lực sáng tạo của đạo Gia tô (1802), Những người tử vì đạo (1809) và đặc biệt Reunet (1802) ông miêu tả chàng quí tộc Reunet bỏ nước Pháp sang châu Mĩ sống với bộ lạc da đỏ và thích nghi với đời sống cộng hoà nguyên thuỷ.
Ông ca ngợi đạo Gia tô: “Trong tất cả những tôn giáo đã tồn tại thì đạo Gia tô thơ mộng nhất, nhân đạo nhất, hoà hợp nhất với tự do, nghệ thuật và văn chương; tất cả thế giới đều cần đến nó, từ công việc nông trang cho đến những khoa học trừu tượng, từ những nhà cứu tế cho kẻ khốn cùng đến những cung điện do Mikenlangelo xây dựng và Raphael trang hoàng”. Ông đối lập nền nghệ thuật Thiên chúa giáo với nghệ thuật cổ đại, cho rằng nghệ thuật thiên chúa  của thời trung đại phong kiến đã thể hiện sự xung đột giữa khát vọng tinh thần và bản năng con người, đã “thuần khiết hoá” con người. Với giọng văn hài hoà, du dương đầy nhạc điệu, ông thể hiện căn bệnh của thời đại và nỗi buồn nản do bao điều hi vọng tan vỡ của một thế hệ quí tộc và tiểu tư sản bảo thủ trong những tiểu thuyết Atala, Reunet. Atala tiêu biểu cho cuộc đấu tranh giữa niềm tin tôn giáo và dục vọng trần tục. Atala day dứt đau khổ vì vừa yêu Sacta vừa muốn giữ trọn lời thề hiến dâng cuộc đời cho Chúa.
 Chateaubriand là nhà văn lãng mạn có ảnh hưởng rộng rãi ở Pháp và châu Âu thế kỉ 19 khi ông khai thác sâu cái tôi cô đơn qua các hình tượng sống động và những trang văn xuôi đổi mới, lưu loát và đầy chất thơ.
Từ những năm 20, phong trào văn học lãng mạn ở Pháp đã phát triển mạnh mẽ với các nhà văn nổi tiếng: Lamartine, Vigny, Hugo, G.Sand và Musset.
Alfred De Vigny (1797-1863) – nhà thơ
Xuất thân trong một gia đình quí tộc phá sản vì Cách mạng. Chế độ Trung hưng đem lại hy vọng ông có thể tiến thân trong quân đội. Là sĩ quan có nhiệm vụ canh giữ ở biên giới, chẳng bao lâu ông xin từ chức vì không còn khát vọng chinh chiến như thời Napoleon. Vigny bắt đầu sáng tác từ 1820 và dần dần nổi tiếng với các tập thơ Moise, Eloa, Saint Mac, Stenle, Saterton, Daphnee, Vigny hướng về thời đại cổ xưa tìm đề tài như thơ ông đã mô tả số phận nhà quí tộc trẻ tuổi Richielieur hoặc các bậc tiên tri trong Kinh thánh. Phản ứng với thắng lợi của Cách mạng, rồi lại bất mãn với chế độ Bourbon, ông đi tìm nhân vật trong quá khứ để thể hiện thái độ hoài nghi và bi quan. Suy tưởng về thân phận con người, ông cho rằng con người không thể tránh được định mệnh thần bí. Nhân vật của ông đều thất bại, ngã xuống như Saint Mac, cô đơn với thiên tài như Moise, đơn độc như Siva, chìm đắm trong tình yêu như Samson ”Nhà thơ thì cảm thấy thiên nhiên hoang vắng, lạnh lùng; Chúa thì câm, mù, điếc trước tiếng kêu của chúng sinh. Ai có cuộc sống cao thượng thì đau khổ nhiều”. Vigny đưa ta một triết lí thất vọng, ca ngợi sự nhẫn nhục và sự yêu thương, khắc kỉ, hư vô chủ nghĩa
George Sand (1804-1876) – nhà tiểu thuyết
Tên thật của nữ văn sĩ là Aurore Dupin, xuất thân dân nghèo thành thị. Sớm mồi côi cha, Dupin được bà nội nuôi ăn học ở miền quê. Năm 18 tuổi, Dupin kết duyên với bá tước Davant nhưng cuộc sống bất hạnh. Tám năm sau li thân, bà về Paris theo nghề văn và nuôi hai con. Những tiểu thuyết thời trẻ như Indiana, Lelia, viết về đề tài tự do yêu đương, bênh vực nữ quyền, bình đẳng nam nữ trong hôn nhân và gia đình. Giai đoạn sau, bà viết những tiểu thuyết thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của người đau khổ, mô tả cuộc đấu tranh của họ chống áp bức bất công. Bà nhìn thấy sự vươn dậy của quần chúng lao động và phê phán ách nô dịch của đồng tiền tư bản chủ nghĩa. Tuy vậy nữ văn sĩ George Sand vẫn mơ ước giải hoà xung đột giai cấp bằng tình thương yêu

TÁC GIẢ VICTOR HUGO
Victor Marie Hugo sinh ngày 26/1/1802 ở Bizanson, một thành phố ở Tây Ban Nha. Cậu bé lúc mới sinh ốm đau quặt quẹo sớm phải chịu cảnh “nếu có cha thì không có mẹ ở bên mình”. Hoàn cảnh chinh chiến của người cha, một sĩ quan của Napoleon I, khi ở Italy, khi qua Tây ban nha  khiến ông phải theo sang Italia, khi lại đi Tây ban nha. Thơ của ông sau này không chỉ bắt nguồn từ những nét trái ngược, từ sự đan chéo cái thô kệch tầm thường và cái cao cả trong cảnh vật, từ sự rối loạn ở đất nước Tây ban nha dưới gót giày quân đội Pháp do Hugo giữ lại ấn tượng mạnh mẽ từ tuổi thơ, mà còn phản ánh những giằng xé bắt nguồn từ cuộc sống gia đình: mâu thuẫn giữa mẹ và cha của Hugo kết thúc bằng sự chia rẽ hoàn toàn vào lúc Hugo 16 tuổi.
Cùng một lúc, Hugo xuất hiện trên cả ba lĩnh vực: thơ, kịch và tiểu thuyết. Mới bước chân vào văn đàn, Hugo tuyên bố rằng “Tôi sẽ là Chateaubriand hoặc chẳng là gì cả !” Ngày nay các nhà phê bình đã tin rằng ngay khi phát tuyên ngôn ấy, Hugo đã là Hugo.
Thơ của Hugo
Trong tập thơ đầu, Hugo đã dựng nên một cấu trúc song đôi  là “cảm xúc của một tâm hồn” tương giao với “cách mạng của một Đế chế”. Đến tập thơ “Những bài thơ phương Đông” ông đã viết Lời Tựa, giới thiệu nó là tác phẩm “vô bổ” và “chỉ là thơ thuần tuý” thì phương Đông ở đây không chỉ là sự quên lãng, sự đối lập với thực tại, lối thoát về cái ngoại lai mà đã có âm hưởng thời sự. Cuộc chiến đấu giải phóng của nhân dân Hi Lạp đã khơi dậy cả một nền Phục hưng phương Đông với thi sĩ Anh Byron, với hoạ sĩ De Lacrois, với hai bài thơ “Em bé Hi Lạp”, “Nhiệt tình” của  Hugo :
Tới Hy Lạp ! Tới Hy Lạp ! Giã từ tất cả
              Ta phải đi !
              Rốt cuộc đã đến lúc, bởi lẽ máu dân tộc bị hy sinh, đã đổ
              phải khiến bọn đao phủ máu tuôn trào
              Bonaparte : người nói hãy đứng dậy
              Mỗi thế kỉ bỗng vùng đứng dậy                   
Là nhà thơ lãng mạn điển hình, thơ Hugo “là cái gì riêng tư nhất” như ông đã nói. Song cũng hiếm có nhà thơ nào hoà được cái riêng tư – cái Tôi vào “người khác” như Hugo dù gặp thời kì khủng hoảng, thăng trầm vẫn vượt ra được khỏi cái tôi chật hẹp, và điều đó khiến ông là nhà thơ lãng mạn duy nhất đã mang hơi thở anh hùng ca vào thơ. Nói đến tính anh hùng ca là phải tính đến trường độ :”thơ của Hugo, áng thi ca vĩ đại duy nhất ở Pháp, thay vì cô đúc trong những bộc lộ ngắn ngủi và hiếm hoi thì thơ ông lại tuôn ra khoảng không gian rộng rãi, thoải mái và tráng lệ”.
Tới tập “Lá thu”, nhà thơ đã cảm nhận được sự gắn bó với thời đại là tất yếu :
                 “Ta yêu ngưòi, ôi thiên nhiên thần thánh
                   ta muốn được chìm đắm trong Người
                   nhưng giữa thế kỉ này đầy biến cố
                   mỗi người phải vì tất cả, than ôi !           
Chất triết lí sâu xa đã khiến hai áng thơ anh hùng ca của Hugo là “Chúa, kết thúc của Satan” (1856) và “Truyền kì các thời đại” mang dáng dấp hiện đại, thực sự là những “truyền kì” của thời đại văn minh.
Khi viết tập “Năm khủng khiếp” (1872) Hugo không còn trẻ. Những đau đớn liên tiếp trong đời sống riêng đến với ông lúc về già. Vợ mất năm 1868 và nhà thơ hằng ca ngợi và chiêm ngưỡng các em bé, nay phải chịu cái cảnh mà ông cho là đáng sợ nhất : ông đã mất gần hết những đứa con của mình. Sau Leopondin là cái chết đột ngột của đứa con trai lớn, 1871, còn đứa con gái kế tiếp là Adele còn sống nhưng coi như đã chết vì bệnh điên rất nặng
Tập thơ “Năm khủng khiếp” minh hoạ bằng thơ  bộc lộ thái độ của Hugo trước hai thử thách lớn của nhân dân: cuộc chiến của dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp. Với cuộc đấu tranh thứ hai, có thể Hugo chưa hoàn toàn hoà nhập được, nhưng trung thành với lí tưởng nhân đạo mà ông hằng ôm ấp, ông đã hiểu được rằng “Công xã là chiếc nôi kì diệu của ngày mai”. Và khi đấu tranh đòi xoá án cho các chiến sĩ Công xã, ông không chỉ quan niệm việc đó là vì tình thương thuần tuý. Ông cho rằng, kết tội họ chẳng khác nào “hỡi quan toà, người kết tội Bình minh”. Ở tập thơ này, hình tượng đứa bé đau khổ – đứa bé đau khổ – đứa bé anh dũng đã là một sự tiếp nối và phát triển so với những em bé của các tập thơ trước (bài “Em bé” trong tập thơ Những câu chuỵên phương Đông).
                     Hình tượng em bé tháng Sáu 1871 (Công xã Paris) :
                      “Trên một chiến luỹ, giữa những hè phố…
                        em nhỏ hỡI, tôi chẳng biết gì
                        giữa trận cuồng phong tràn tới
                        không hiểu vì sao em vào cuộc chiến này
                        song tôi nói : tâm hồn em thơ dại vẫn tuyệt vời”.
Kịch của Hugo
Cho đến 1985 (kỉ niệm 100 năm ngày mất Hugo) các vở kịch của ông vẫn được công diễn nhiều lần nhất trên sân khấu châu Âu. Chúng ta hãy trở lại với ba vở kịch mở màn cuộc tấn công của nhà lãng mạn trẻ  tuổi Hugo: Cromwell (1827), Marion De Lormer (1829) và Hernani (1830).
Cho tới thời Hugo, sân khấu vẫn chia ra hai vùng khán giả “sang” và “hèn” khá rõ rệt. Ngay ở địa điểm diễn kịch, một loại phòng dành cho lớp trẻ và công chúng rộng rãi với những vở hài kịch nhẹ nhàng. Còn khán giả quí phái thượng lưu vẫn tự thu mình trong những vở kịch cổ điển diễn ở toà nhà lộng lẫy xây dựng từ thời Louis 14 mang tên “Kịch viện Pháp” (Commédie Francaise). Khi vở “Marion De Lormer” ra đời, chính quyền bảo hoàng ra lệnh cấm vở kịch. Để xoa dịu, mua chuộc Hugo, họ tăng phụ cấp hàng tháng cho nhà thơ gấp ba lần, nhưng nhà thơ trẻ đã từ chối.
Tiểu thuyết của Victor Hugo
NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PARIS (Notre Dame de Paris)
Là một nhà thơ lãng mạn, Hugo còn nhiều sáng tạo độc đáo ở lĩnh vực văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết, thành công chẳng kém gì thơ ca. Hơn thế nữa, bộ phận này còn là một sự bổ sung thể hiện những dự định sáng tạo táo bạo, mới mẻ và thầm kín nhất mà Hugo chưa thể kí thác vào thi ca. Bởi thế ngày nay người ta coi bộ phận tiểu thuyết này là một tựa đề soi sáng toàn bộ sáng tác của Hugo .
Thiên tài của Hugo chính là ở chỗ, trên lĩnh vực tư tưởng và nghệ thuật, ông vừa là hiện thân của thời đại, vừa phản ứng lại thời đại. Tiểu thuyết của Hugo chứa chất nhiều yếu tố quen thuộc của tiểu thuyết trước và sau giai đoạn lãng mạn. Với tư cách là một cá tính sáng tạo, ông đã giữ khoảng cách với những mẫu mã cũ kĩ của thị hiếu, những lốI mòn sáo trong thị hiếu độc giả



1.2    VĂN HỌC ANH

1. Tình  hình kinh tế chính trị và phong trào công nhân
Nửa đầu thế kỷ XIX, nền công nghiệp cơ khí đã chiếm ưu thế, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh. Dân cư đổ về các trung tâm công nghiệp lớn. Hai giai cấp chính ở Anh là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Công nhân Anh bị bóc lột nặng nề. Giai cấp tư sản thu lợi từ cuộc cải cách nghị viện năm 1836, thảo ra bản “Hiến chương nhân dân” trình nghị viện. Phong trào Hiến chương đưa ra những yêu sách về chính trị như quyền bầu cử, giảm giờ làm và tăng lương. Phong trào công nhân tranh đấu nổ ra từ năm 1848 nhưng thất bại vì có một bộ phận thảo hiệp với giai cấp tư sản và thiếu một đảng lãnh đạo. Đến năm 1860 phong trào công nhân dần dần phục hồi với 1600 hội công nhân, phong trào liên lạc đựơc với Quốc tế cộng sản thứ nhất do Karl Marx và Engels lãnh đạo và Hội đồng lãnh đạo các hội công nhân đã trở thành trung tâm chính trị quan trọng.
Phong trào văn học chủ yếu như lãng mạn chủ nghiã, hiện thực phê phán với nhiều tác giả ưu tú đã phản ánh những diễn biến cơ bản của xã hội Anh trong thế kỷ XIX.



2. Chủ nghĩa lãng mạn Anh
Năm 1798 tập thơ “Ballad trữ tình” của hai sinh viên đại học Cambridge được xuất bản ở thành phố Briston. Họ ước mơ xây dựng một nước cộng hòa với lí tưởng đem lại tình thương yêu, tự do và hiểu biết cho mọi người. Họ cộng tác với nhau quyết tâm cải cách thi ca. Họ trở thành hai nhà thơ lãng mạn đầu tiên của nước Anh: Uliams Edworth (1770-1850) và Samuel Coloridge (1772-1834). Hai nhà thơ trẻ đi du lịch sang Đức, Pháp. Họ dịch và đọc tác phẩm của Schiler, Goeth và Rousseau…. Thơ của hai người thể hiện khát vọng tự do: biểu hiện tất cả các sự kiện và mô tả thiên nhiên giao hòa với tình cảm và hành động của con người. Cùng một số người khác họ thành lập nhóm thơ Lake School (trường phái thơ Vùng hồ). Trường phái này là tiêu biểu cho dòng văn học lãng mạn Anh đương thời. Họ muốn thoát lý thực tại xã hội tư sản, xa lánh chốn thị thành. Thơ của họ hướng về quá khứ, những con người và hiện tượng đơn giản bình thường, gần gũi thiên nhiên. Hình thức thi ca cũng đổi mới.
Từ sau năm 1810, hình thành nhóm nhà thơ nhà văn lãng mạn tiến bộ nổi tiếng như Walter Scott, Byron, Shelli, Keats. . .Tác phẩm của họ thể hiện quan điểm dân chủ, đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở châu Âu. Họ ngưỡng vọng Cách mạng tư sản Pháp, coi đó là sự kiện chính trị tất yếu trong tiến trình lịch sử của loài người. Họ quan tâm đến khát vọng của giai cấp công nhân Anh đầu thế kỷ XIX…

Walter Scott 
nhà văn lãng mạn tiến bộ Anh và tiểu thuyết Ivanhoe  (1819)
Sir Walter Scott (15.8.1771-21.9.1832) sinh tại Edinburgh, xứ Scotland. Cha làm chưởng lý tòa án xứ. Ông được nối nghiệp vào tập sự tại tòa án Scotland, nhưng lại ham thích văn chương hơn. Từ nhỏ cậu bé ham đọc truyện cổ nước Anh, lịch sử và thơ ca, sách du ký và những tác phẩm lớn của Pháp, Italia. Scott thường đi thăm phong cảnh, thắng tích quê hương, những nơi xảy ra sự biến lịch sử lớn lao. Những sự kiện đó tác động mạnh đến nghề cầm bút cuả mình sau này. Bắt đầu làm thơ, 21 tuổi đi sưu tầm thi ca dân gian, in tập Minstrelsy of the Scottish Border(Bài hát rong về biên giới Scotland 1802-1803). Một số tác phẩm thơ lãng mạn, nổi tiếng nhất là The Lay of the Last Minstrel (Thơ ballad của người hát rong cuối cùng),1805) … Dần dần Scott chuyển sang viết tiểu thuyết lịch sử: Waverley (Bồng bềnh) 1814, Guy Mannering 1815, The Antiquary (Người buôn đồ cổ) 1816… Năm 1819 viết tiểu thuyết Ivanhoe,  tác phẩm lớn nhất của ông đánh dấu sự mở rộng từ chuyện Scottland sang lịch sử nước Anh. Ông được triều đình phong tước hiệp sĩ quí tộc(Sir)
            Nhìn chung, ông thường chọn những thời điểm lịch sử bộc lộ mâu thuẫn và xung đột giai cấp gay gắt nhất. Ông thấy rõ vai trò của nhân dân trong các sự biến ấy. Nhà thơ Nga Puskin xếp ông ngang hàng với Shakespere, Balzac coi ông như bậc thầy của mình, Bielinski coi ông là người đầu tiên viết tiểu thuyết lịch sử ở Châu Âu . . .Tuy nhiên ông là nhà văn giữ tư tưởng bảo thủ, không ưa chủ nghĩa tư bản, vẫn hướng về chế độ quân chủ. Ông chưa bộc lộ được nhiệt tình cách mạng như các nhà thơ đương thời, nhưng vẫn khác với những cây bút lãng mạn tiêu cực…
IVANHOE
Bối cảnh là cuộc xung đột hai chủng tộc Saxons và Normands dưới triều vua Richard I trong thế kỉ XII. Saxons là chủng tộc đã sinh sống ở Anh vài thế kỉ, còn Normand là chủng tộc mới đến lập nghiệp từ khoảng thế kỉ XVI.
            Ivanhoe mô tả giai đoạn lịch sử nước Anh  từ chỗ xung đột chiến tranh đẫm máu giữa hai chủng tộc Saxons và Normand chưa hòa hợp đến khi hình thành quốc gia thống nhất. Vua Richard chống lại các thế lực phong kiến cũ để tập trung vương quyền, việc đó có ý nghĩa tiến bộ lịch sử. Cả hai lực lượng phong kiến cũ (Saxons) và mới (phe John và Bắc Âu) đều hành động trái với lịch sử và tiến bộ, cản trở xã hội phát triển. Bên cạnh đó tiểu thuyết còn miêu tả mâu thuẫn trong mỗi giai cấp và giữa phong kiến với giai cấp nông dân. Mâu thuẩn chủng tộc và mâu thuẫn giai cấp đều đáng lưu tâm giaỉ quyết… Từ  những nhân vật “thấp hèn” như anh hề Wamba, anh chăn cừu Gurth  cho đến Locksley xạ thủ đầu lĩnh  đảng cướp đều mang những phẩm chất giản dị lương thiện. Số phận khốn khổ của người Do Thái và thành kiến của dân Châu Âu đối với họ cũng được nhà  văn miêu tả, phê phán…Ngôn ngữ quí tộc và ngôn ngữ bình dân được dùng xây dựng nhân vật rất hấp dẫn, phong tục tập quán, ngôn ngữ Anh cổ được tái hiện sinh động  và  thi vị.
Byron – nhà thơ, nhà viết kịch và tiểu thuyết gia Anh
Sinh ngày 22.1.1788 ở London, bố người Anh, mẹ Scotland, đều dòng dõi quí tộc. Tiêu xài hết tài sản, người cha bỏ gia đình đi sang Pháp và chết ở Pháp khi Byron 3 tuổi. Thuở nhỏ Byron sống với mẹ ở Scotland trong nghèo nàn. Lên 10 tuổi, Byron được thừa kế một người ông bên nội tước hiệu Lord (thượng nghị sĩ) và một gia sản lớn. Hai mẹ con chuyển đến sống ở lâu đài gần Nottingham một thành phố công nghiệp lớn, nơi đang dấy lên phong trào công nhân. Sau đó học trường đại học Cambridge, nghiên cứu triết học, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên, say mê văn chương, nhất là văn học Ánh sáng Pháp…Khi 19 tuổi anh xuất bản tập thơ “Những giờ nhàn rỗi” bộc lộ tài năng châm biếm, phê phán xã hội Anh, ước mơ tự do, ngay cả hình thức thơ cũng đổi mới…Byron còn phải chống lại những bài báo phê bình đả kích của giới văn học bảo thủ, phản động…
            Gần hai năm ông đi qua nhiều nước, chứng kiến cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Tây Ban Nha chống xâm lược Pháp và Napoleon, tìm hiểu đất nước Hi lạp và Anbani chống quân xâm lược Thổ nhĩ kỳ. . .và tìm được cảm hứng và chất liệu cho sáng tác tiến bộ sau này. Trở về Anh, ông xuất bản 2 khúc ca đầu tiên cho tập thơ “Cuộc hành hương của Sider Harol “ (1821). Ông còn hoạt động chính trị, ở thượng nghị viện, ông đọc diễn văn lên án chính sách phản động phản nhân dân của đảng Tori cầm quyền ở Anh, bênh vực người lao động, phản đối luật tử hình công nhân phá máy…bênh vực quyền độc lập tự chủ của Ireland…Sáng tác một số truyện thơ chính trị phê phán thực dân Anh, Pháp chà đạp thành quả cách mạng tư sản, cổ vũ nhân dân đấu tranh…dựa trên những đề tài hư cấu, tượng trưng…Uy tín Byron ngày càng lớn, giới cầm quyền lo sợ…Lợi dụng quan hệ tình ái khá rộng của ông chúng tìm cách bôi nhọ danh dự ông, ông ly hôn và bỏ đi nước ngoài. Đó là một cái án lưu đày biệt xứ không chính thức…
Ông đã hình thành một “chủ nghiã Byron” qua các tác phẩm thơ- kịch- tiểu thuyết của mình. Đó là một “chủ nghĩa cá nhân” kiêu kỳ, vô hạn, cực đoan.Nhân vật của Byron hành động theo một động lực nội tại, theo dục vọng mãnh liệt không chế ngự. Đó là nhận định của Langson về nội dung tiêu cực trong tác phẩm Byron.
Bielinski nhà lí luận phê bình của văn học Nga thì ca ngợi nhà thơ cách mạng Byron là “nhà thơ Byron chiến đấu cho tự do ở bất cứ nơi nào có thể chiến đấu được”.
Byron là một nhà thơ trữ tình, các vở kịch thơ của ông (Manfred, Cain…) cũng mang tính chất những bản trường ca nhiều hơn. Đó là những tác phẩm trữ tình viết ra để đọc chứ không phải để cho nghệ thuật sân khấu. Puskin nhận xét: “Byron chỉ sáng tạo có mỗi một tích cách…, phân chia cho các nhân vật của mình những nét tính cách riêng biệt của bản thân mình và như vậy đó, từ một tính cách toàn vẹn, u ám và kiên nghị, tạo ra một số tính cách vô nghĩa lí, đây hoàn toàn không phải là bi kịch”. Về thể loại, những tác phẩm này là những “đram tư tưởng”, một thể loại phổ biến ở châu Âu vào cuối TK XIX, đầu TK XX.
Các vở kịch này gắn liền với một giai đoạn khủng hoảng sâu sắc trong đời sống riêng của nhà thơ và phản ánh cái không khí tuyệt vọng chung của giới trí thức châu Âu phản ứng trước thực tại xã hội và các biến cố chính trị diễn ra sau Cách mạng tư sản Pháp, những điều này chứng tỏ sự sụp đổ của những lí tưởng của thời đại Ánh sáng.
Nhân vật kịch thường là một tính cách kì vĩ, có ý chí tự do mãnh liệt, dũng cảm nổi dậy đấu tranh để bảo vệ nhân phẩm, chống lại số phận độc ác hay một thế giới thù địch, khinh khi quyền lực của mọi tên độc tài dù ở trên trời hay dưới đất…
“Don Juan” cuộc tìm kiếm chân lí cuối cùng
Don Juan, một tiểu thuyết bằng thơ chưa hoàn thành, là đỉnh cao sáng tác của Byron. Ông bắt đầu viết Don Juan từ năm 1917 trên đất Italia và dự tính sẽ có 25 khúc ca. Rất tiếc, ông chỉ viết được 16 khúc ca và 14 khổ thơ của khúc ca 17 thì cái chết đã đột ngột đến với nhà thơ.
Toàn bộ xã hội đương thời với Byron được phản ánh ở trong đó một cách sâu sắc, chân thực và đa dạng: tâm hồn con người được khảo sát, mô tả ở nhiều khía cạnh khác nhau; nội dung tư tưởng rộng lớn, phong phú tiến bộ; những đổi mới về nghệ thuật của một nghệ sĩ canh tân; tất cả những cái đó làm cho tác phẩm này xứng đáng là sự kết thúc tuyệt đẹp cho cả quá trình sáng tạo trước đó. Puskin đã từng nói đến “tính đa dạng thực sự theo kiểu Shakespeare của Don Juan”
Khác hẳn với các nhân vật trước đây của chính Byron, Don Juan là một con người bình thường chứ không phải một người anh hùng phi thường được lí tưởng hoá. Tác giả phơi bày cuộc sống bên trong của nhân vật, không hề che giấu những nhược điểm, những tật xấu của anh. Các nét tích cực trong tính cách của Don Juan rất rõ: sự trung thực, lòng yêu tự do, sự căm ghét giả dối, tính kiên quyết, sự dũng cảm…
Anh không có lí tưởng chính trị rõ ràng, nhưng căm ghét tất cả những kẻ áp bức. Anh đấu tranh kiên quyết, dũng cảm cho tự do của bản thân mình, và theo ý đồ của tác giả, ở cuối tác phẩm, khi đã chín muồi về chính trị, Don Juan sẽ cầm vũ khí chiến đấu cho quyền lợi của nhân dân. Sự phát triển tính cách của Don Juan, từ một con người bình thường đến một chiến sĩ, cho phép nói đến sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực trong phương pháp sáng tác của Byron.
Là ngọn cờ của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng ở đầu thế kỉ XIX, với Don Juan, Byron đã khẳng định bước đi hợp quy luật của nghệ thuật tiến bộ thế giới hồi bấy giờ: sự hình thành và sự thắng thế dần dần của chủ nghĩa hiện thực.
Sáng tác của Byron có tác động mạnh mẽ lên nhiều nền văn học dân tộc châu Âu hồi bấy giờ. Đánh giá sự đóng góp của nhà thơ Anh, Bielinxki nhận xét: “Thơ của Byron là một trang trong lịch sử của loài người. Xé bỏ nó đi thì tính toàn vẹn của lịch sử sẽ biến mất. Còn lại một chỗ trống mà không có gì thay thế được”.



VĂN HỌC  ĐỨC
  
CÁCH MẠNG, PHẢN CÁCH MẠNG

          VÀ SỰ THỐNG NHẤT NƯỚC ĐỨC TRONG THẾ KỈ XIX



2.     VĂN HỌC LÃNG MẠN
            Do hoàn cảnh nước Đức phân chia thành nhiều bang, nhiều công quốc nhỏ bé và cho mãi đến những năm hai mươi của thế kỉ XIX vẫn chưa có phong trào dân chủ tư sản nên khác một số nước ở Tây Âu, văn học lãng mạn Đức nhìn chung có nhiều yếu tố bảo thủ, tiêu cực. Triết học cổ điển Đức đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học lãng mạn.
Tách rời thực tại, phát huy trí tưởng tượng, lấy ý niệm làm nguồn cảm hứng, văn học lãng mạn đã dựa theo triết học siêu hình cho rằng vũ trụ là sự sáng tạo của tinh thần. Các nhà văn lãng mạn đầu tiên  đi tìm một khuynh hướng nghệ thuật mới đối lập với chủ nghĩa cổ điển, một khuynh hướng nghệ thuật đề cao chủ quan nhằm biểu hiện những ấn tượng, những tâm trạng cá nhân.
Tác giả nổi tiếng của văn học lãng mạn Đức là Novalix (1772 – 1801) thường được đề cao là “hoa hồng chúa” hoặc “bông huệ thiên thanh”. Ông xuất thân quý tộc, tốt nghiệp luật sư, sớm đam mê những cuộc tình và những vụ đấu kiếm. Ông kết hôn với một thiếu nữ quý tộc  và người vợ chết sớm làm ông đau khổ: tình duyên bất hạnh trở thành biểu tượng cho kiếp sống mong manh của con người. Ông viết Bài ca gửi trời đêm (1800), tác phẩm trữ tình thể hiện “Đêm” là trung tâm của cuộc sống nội tâm, là sự hiện diện của cái đẹp và tình yêu. Nhà thơ khát vọng tất cả cái gì bao phủ trời đêm và tìm thấy ở đó một ánh sáng siêu nhiên giải thoát nhà thơ khỏi cuộc đời trần tục. trong một số tác phẩm khác như Khúc ca tinh thầnviết về Đức mẹ và Jêxu, hoặc Những đồ đệ của Xait…, ông thể hiện nỗi buồn, khát vọng thoát li, những liên hệ thần bí giữa vũ trụ và con người. Tiểu thuyết Henrich Von Offedingen chưa hoàn thành với nhân vật chính là một chàng kị sĩ du lịch qua xứ sở Hi Lạp, đến vùng đất Công giáo thời thập tự chinh, gặp gỡ người tình “Bông hoa xanh” mà Hairich thường ôm ấp trong mộng.
Sáng tác của Novalix tiêu biểu cho khuynh hướng lãng mạn tiêu cực ở Đức. Về lí luận, Novalix đã khẳng định quan điểm thoát li, xa rời hiện thực của ông: “Tôi lãng mạn hóa bằng cách cho cái thấp hèn một ý nghĩa cao cả, cái bình thường một vỏ huyền bí, cái đã quen vẻ đẹp của cái không quen, cái hữu hạn vẻ đẹp của cái vô hạn…Tiểu thuyết phải hoàn toàn là thơ. Thơ là tâm trạng hài hòa trong lòng ta, nơi mọi cái đều được tô đẹp”. Cacaile đã nhận định sự nghiệp sáng tác của Novalix tuy ngắn ngủi nhưng “thật phong phú về những ý hướng dẫn dắt đến một thế giới mới”. Đó chính là thế giới tinh thần lãng mạn ở Đức đầu thế kỉ XIX.
Ecnet Hoffmann (1776-1822) người đã thực hiện lí tưởng của nhà triết học Fichte trong thơ ca. Thế giới nội tâm mà ông sáng tạo là thực tại duy nhất đối với ông. “Chỉ tinh thần có khả năng nắm bắt được cái gì xảy ra trong thời gian và không gian”. Ông sáng tạo một thế giới tưởng tượng, kể lại những gì ông nhìn thấy bằng con mắt tinh thần. Ông đã viết những chuyện huyễn hoặc như: Những bức tranh huyễn tượng theo cách của Carlos (1814), Bức tranh đêm (1817), Anh em Xêrapiông (1821)…Hoffmann muốn thoát li thế gian: khi hấp hối, cầm bút trong tay ông báo tin cho bạn bè là mình đã lành bệnh!
Một số nhà văn khác như Auguxt  Kogebuck với  hai trăm  mười một vở kịch lãng mạn, Henrich von Klaixte, nhà viết kịch lớn của nước Đức và châu Âu nửa đầu thế kỉ XIX với những vở kịch có ý nghĩa phê phán như: Gia đình Xruêôpfen Xtain, Ông hoàng ở Hamburg…



Ngoài phần nội dung bảo thủ, văn học lãng mạn Đức cũng có những đóng góp tích cực  nhất định như sự phê phán đồng tiền tư bản, sưu tầm văn học dân gian.
Dòng văn học lãng mạn tiến bộ gồm một số nhà văn Adenbecfin Samixo (1781-1838), Akhim von Acnim (1781-1831), Clement Brontano(1770-1842), Karl Immeman (1796-1840)….


Nhìn chung, văn học lãng mạn Đức cũng có những đặc điểm chung giống với văn học Tây Âu thế kỉ XIX nhưng điểm riêng là nó đã hòa hợp yếu tố triết lí và trữ tình, tìm nguồn về văn học dân gian.
–


Chương 2. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TÂY ÂU
              (Từ giữa thế kỉ 19 đến những năm 60)


2.1  Văn học Pháp


Văn học hiện thực Pháp xuất hiện sau năm 1820 dưới thời Trung hưng, phát triển mạnh mẽ cho đến những năm 60, có thể chia ra hai giai đoạn: trước và sau năm 1848.
Sau cuộc Cách mạng tháng Bảy năm 1830, chính quyền thuộc về giai cấp đại tư sản mà Marx gọi là bọn “quí tộc tài chính”. Đồng tiền thống trị mọi lĩnh vực xã hội với quyền lực và sức mạnh tha hóa của nó. Cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra và giai cấp công nhân dần dần trưởng thành đã dẫn tới cuộc Cách mạng tháng Sáu năm 1848. Đây cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ của trào lưu văn học hiện thực với những nhà văn ưu tú: Stendhale, Balzac, Merimee.



GIAI ĐOẠN 1

Stendhale (1783 – 1842)
Xuất thân trong một gia đình trí thức. Ông rất thích âm nhạc, hội hoạ và văn chương Italia. Đối với Napoleon I, ông vừa khâm phục tài năng vừa phê phán sự tàn bạo của nhà độc tài. Năm 1814, ông bắt đầu viết một số tác phẩm nghiên cứu về âm nhạc và hội hoạ. “Tiểu luận về tình yêu” (1822) phân tích diễn biến quá trình yêu đương khi ông đeo đuổi một thiếu phụ xinh đẹp ở Milan.



Năm 1823, Stendhale xuất bản tiểu luận “Racine” và “Shakespeare” trong đó ông đứng về phía các nhà văn lãng mạn chống lại những qui tắc lỗi thời của chủ nghĩa cổ điển. Tóm tắt các luận điểm của ông như sau :
Phân tích tính chất lịch sử của lí tưởng thẩm mĩ
Đưa ra những qui tắc nghệ thuật kịch nói, nhấn mạnh chỉ cần tôn  trọng qui tắc “duy nhất về hành động”.
Viết kịch bằng văn xuôi cho giản dị và tự nhiên.
Học tập thực chất của Shakespear “điều cần bắt chước con người vĩ đại đó là cách nghiên cứu, quan sát thế giới trong đó ta đang sống”.


Yêu cầu nghệ thuật phải thể hiện nồng nhiệt và chính xác những niềm say mê bằng một hình thức trong sáng.
Nghệ thuật phải gắn bó với chính trị như trước kia chủ nghĩa cổ điển đi với chế độ quân chủ và giai cấp quí tộc, còn chủ nghĩa lãng mạn đi với cách mạng.

Khái niệm “chủ nghĩa lãng mạn” (romanticisme) mà Stendhale dùng ở đây có khác với khái niệm “romantisme” của các nhà văn lãng mạn đương thời .Nội dung khái niệm mà Stendhale dùng lại là khuynh hướng “hiện thực chủ nghĩa” đang hình thành mà ông là cây bút đầu tiên.
 “Đỏ và đen” là một tác phẩm hiện thực xuất sắc khi tác giả xây dựng tính cách điển hình Julien Sorel hình thành và phát triển trong hoàn cảnh điển hình. Những sự kiện chính của xã hội Pháp thời Trung hưng được miêu tả cụ thể, chân thực. Tính cách của các nhân vật Julien Sorel con ông thợ xẻ, vợ chồng thị trưởng De Renald, hầu tước De La Mole và con gái Mathildez…đều được xây dựng phong phú, sinh động với nghệ thuật phân tích tâm lí tài tình của Stendhale.
Tác giả không thích giải thích ý nghĩa của nhan đề tiểu thuyết “Đỏ và đen”. Nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu đã giải thích khác nhau. Đỏ và đen ám chỉ sự may rủi, đỏ đen của nhân vật trung tâm; hoặc đỏ và đen là hai mặt của tính cách Sorene; hoặc đó là hai mặt tương phản của cách mạng màu đỏ và tội ác phản động màu đen; hoặc màu đỏ là màu đồng phục của sĩ quan thời Napoleon, màu đen là màu áo choàng tu sĩ thời Trung hưng v.v…Cách lí giải nào cũng đều có ý nghĩa tương đối phù hợp với diễn biến sự việc và các tính cách nhân vật trong tác phẩm.

H’onore De Balzac 
(1799-1850)
Là nhà văn hiện thực lớn nhất nước Pháp nửa đầu thế kỉ 19.
Trong hai mươi năm, từ 1829 đến 1848, Balzac đã viết hơn 90 tác phẩm lớn nhỏ mà phần lớn được tập hợp thành bộ “Tấn trò đời”. Ngoài ra còn nhiều vở kịch và những “Truyện ngắn ngộ nghĩnh”. Khối lượng đồ sộ làm danh tiếng ông vang lừng khắp châu Âu. Balzac đã tự hào nói rằng “tôi mang cả một xã hội ở trong đầu của tôi”. Ông lui tới nhiều phòng khách (salon), h
468x90
 
Gửi ý kiến