VIẾT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Nga
Ngày gửi: 22h:24' 30-11-2024
Dung lượng: 652.8 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Nga
Ngày gửi: 22h:24' 30-11-2024
Dung lượng: 652.8 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
VIẾT:
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH
MỘT TÁC PHẨM THƠ
TRÒ CHƠI AI NHANH HƠN.
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
QUÊ HƯƠNG
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
LƯỢM
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
Lặng rồi cả tiếng con ve,
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu,
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia,
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
MẸ
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
• Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin
Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười
NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
• Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm.
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người từng người một
Sợ cháu mình giật thột
Bác nhón chân nhẹ nhàng.
ĐÊM NAY BÁC KHÔNG NGỦ
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
- Em hiểu viết một bài văn phân tích một tác phẩm thơ
là làm gì?
- Theo em, để viết được một bài văn phân tích một tác
phẩm thơ, người viết cần phải làm gì?
I. Định hướng
1. Khái niệm
- Phân tích một tác phẩm thơ là kiểu bài nghị luận
văn học mà trong đó, người viết dùng lí lẽ và bằng
chứng để làm rõ một số đặc điểm về nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm.
+ Đọc kĩ bài thơ được phân tích, chú ý đặc điểm thể loại, tác giả,
bối cảnh ra đời (nếu cần thiết) của tác phẩm.
+ Phân tích nội dung và các yếu tố hình thức nổi bật của bài thơ.
Chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung; từ đó làm rõ giá trị
của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của tác
phẩm.
+ Suy nghĩ, nhận xét về ý nghĩa, giá trị và sự tác động của tác phẩm
đối với người đọc cũng như cá nhân em.
DÀN BÀI
Mở bài Giới thiệu khái quát về đề tài và giá trị của bài thơ
Thân bài 1. Nêu bối cảnh và sự kiện tạo ra nguồn cảm xúc cho tác giả viết bài thơ.
2. Chủ đề (cảm xúc chủ đạo) của bài thơ.
3. Phân tích các yếu tố hình thức và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung bài thơ.
+ Thể thơ và đặc điểm vần, nhịp của thể thơ.
+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ.
+ Từ ngữ, hình ảnh được sử dụng trong bài thơ.
+ Những biện pháp tu từ nào đã được sử dụng
4. Đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.
5. Liên hệ , mở rộng
So sánh với những bài thơ viết về cùng đề tài để làm rõ sự độc đáo của bài thơ
Kết bài
Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về yếu tố nội dung hoặc nghệ thuật đặc sắc đã trình
bày.
2. THỰC HÀNH
PHIẾU LẬP DÀN Ý
MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học trung đại
Việt Nam. Ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Thơ
ông luôn giàu cảm xúc với thiên nhiên, với quê hương và con người.
- Giới thiệu bài thơ: Bài thơ Khóc Dương Khuê lúc đầu có tên chữ Hán là
Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng Thư, sau được chính nhà thơ
dịch ra chữ Nôm. Bài thơ được sáng tác khi Nguyễn Khuyến nghe tin người
bạn thân là Dương Khuê qua đời.
- Ý kiến chung về bài thơ: Bài thơ là tiếng khóc bạn đầy xót xa, cảm động
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Đây là bài thơ khóc bạn rất cảm động của Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ
khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng
khoa với Nguyễn Khuyến. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to. Từ bạn đồng
khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ
khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài
văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy
lệ, có 38 câu thơ.Mở đầu bài thơ là một tiếng than, tiếng nấc đau đớn:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi,
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Một sự thảng thốt xót thương cất lên, tưởng như bất ngờ bị đánh rơi mất
một cái gì vô cùng quý báu. Nhóm từ "thôi đã thôi rồi" thay cho khái niệm
"đã mất", "đã chết", "đã qua đời" V.V… một lối nói bình dị, làm giảm bớt đi
nỗi đau đớn ghê gớm đối với tuổi già. Hai chữ "nước mây" chỉ hai sự vật
cách xa. Nước chảy, mây trôi, xa nhau vời vợi, nghìn trùng cách trở, có mấy
khi gặp nhau. Song, lòng nước chảy, dù đi đâu về đâu vẫn ôm ấp bóng mây
trôi. Hình ảnh "nước mây" được liên kết với các từ láy "man mác", "ngậm
ngùi" diễn tả một trời thương xót, một không gian cách trở bao la, âm dương
đôi đường, buồn đau, nặng trĩu.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Chữ "bác" trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính biểu cảm sâu sắc. Nhà thơ
luôn luôn gọi bạn bằng bác, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật dù
rằng Nguyễn Khuyến còn hơn Dương Khuê đến 5 tuổi.
Phần thứ hai gồm 24 câu thơ, tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc
với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào
nhất. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn
ấy là “duyên trời” tác hợp nên:
“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Các từ ngữ “sớm hôm”, “cùng nhau”, “từ trước đến sau” thể hiện một tình
bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn
của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn
thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải
là những tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và
đáng nhớ như vậy.
+ Nhớ những cuộc du ngoạn, thăm thú nơi “dặm khách” chan hoà với thiên
nhiên, thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền: “Tiếng suối nghe róc rách lưng đè”
Nhớ những lần cùng nhau đi hát ả đào nơi lầu cao, thưởng thức cung đàn,
giọng hát:
“Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Cầm xoang nghĩa là cung đàn, giọng hát, “Từng gác cheo leo” như còn gợi
lại cảm giác ngây ngất trên lầu cao của đôi bạn tri âm sành điệu. Nguyễn
Khuyến và Dương Khuê rất sành nghệ thuật hát ả đào, đã sáng tác nhiều hài
hát nói nổi tiếng.
+ Người xưa có nói: “Tửu phùng tri kỉ thiên bôi thiểu - Thi hội tri âm bán cú
đa”. Bạn tri âm trong hội thơ (chỉ nghe qua) nửa câu thơ đã là nhiều không
cần dài lời cũng đủ hiểu bạn. Nguyễn Khuyến nhớ lại những lần cùng bạn
uống rượu làm thơ:
“Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi hàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích điển phần trước sau”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Chén quỳnh tương là chén ngọc, một cách nói sang trọng. "Rượu ngon cùng
nhắp" và hình ảnh "âm ắp bầu xuân" như còn giữ lại một tình bạn trong
hương vị nồng nàn, hứng khởi. Nhắc tới chuyện bàn soạn văn chương thì đầy
ắp những sách vở, điển cố. Hai chữ "đông bích, điển phần" biểu lộ niểm tự
hào kín đáo của những nhà nho học rộng tài cao.
+ Nguyễn Khuyến đã sử dụng cách diễn đạt trùng điệp hai nhóm từ ngữ:
“Cũng có lúc” và “có khi” đan chéo vào nhau, bốn lần xuất hiện trên tám
dòng thơ, vừa để liệt kê gợi nhớ, vừa tạo nên âm hưởng quấn quýt, thiết tha.
Những kỉ niệm ấy vô cùng sâu sắc, đẹp đẽ về tình bạn, không bao giờ có thể
quên được.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Có kỉ niệm vui, có kỉ niệm buồn, nhưng Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng
vẫn “kính yêu từ trước đến sau”, không bao giờ thay lòng đổi dạ:
“Bác già tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế, thì thôi, mới là”.
Chữ “rồi” vần với ba chữ “thôi” liên tiếp như một tiếng thở dài, tự an ủi
mình, như muốn quên đi thật nhanh những điều bất đắc chí. Không nỡ, không
muốn nhắc đến nữa mới là bạn bè tâm giao!
+ Đoạn thơ tiếp theo làm tái hiện một khung cảnh cảm động của đôi bạn già
sau nhiều năm xa cách mới gặp lại nhau:
“Muốn đi lại, tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần,
Cấm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẩn tinh thần chưa can”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
“Tinh thần chưa can” ý nói sức khoẻ vẫn bình thường, tinh thần vẫn sáng
suốt. + Thế mà bạn đột ngột qua đời. Đoạn thơ sau đây thể hiện rất đúng, rất
sâu sắc tâm lí và tình cảm người già khí được tin bạn mất:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
Làm sao bác vội về ngay?
Chợt nghe tôi bổng chân tay rụng rời!”.
Giọng thơ kể lể, tự tình. Trong lời than thấm đầy lệ. Hình ảnh “chân tay rụng
rời” cực tả nỗi đau đớn, bàng hoàng không kể xiết.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
- Mười hai câu thơ cuối, Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là tự khóc mình,
giọng thơ ngày một thêm não nùng, thê thiết. Ông trách bạn "vội đi xa" để
mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:
“Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua”.
+ Sau chữ "chẳng" xuất hiện liên tiếp 5 chữ "không" gợi tả cái trống vắng, cái
cô đơn của nhà thơ, của cảnh già. Kẻ đi xa và người ở lại cùng chung nỗi
niềm tâm sự "chán đời là phải". Nhà thơ kín đáo bộc lộ thái độ đối với thời
cuộc trước sau không thay đổi.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Bạn mất đột ngột, nỗi thương tiếc, đau xót làm tê tái cả lòng. Sống trong cô
đơn ngày thêm bơ vơ sầu tủi. Cuộc đời mất hết ý nghĩa: không muốn uống
rượu, không thiết ngâm thơ, gian nhà và tâm hồn trở nên trống vắng, trơ trọi.
Còn đâu nữa bạn tri âm tri kỉ?
“Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”.
Lời than khóc trở nên xót xa khi nhà thơ nhắc lại điển tích Tử Kỳ - Bá Nha
và Trần Phổn - Từ Trĩ... Lúc bạn qua đời chẳng còn người tri âm tri kỉ để
cùng nhau uống rượu, làm thơ, nghe đàn, năng lui tới thăm nom, chia ngọt sẻ
bùi cùng nhau. Nguyễn Khuyến đã có nhiều cách nói rất sâu sắc, cảm động
diễn tả sự thương xót bạn và nỗi buồn cô đơn của mình.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Bốn câu cuối bài thơ như một tiếng nấc đau đớn. Tuổi già vốn ít lệ (hạt lệ
như sương), nên chỉ biết khóc ở trong lòng. Thương bạn gắn liền với bao nỗi
nhớ. Khóc bạn chuyển thành nỗi niềm như cam chịu số phận bi thương. Chỉ
cầu mong cho linh hồn bạn thanh thản "lên tiên":
“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương,
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”.
Tuy nhà thơ nói rằng “hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan” nhưng bài thơ
khép lại trong rưng rưng nghẹn ngào, chứa chan nước mắt của nhà thơ lẫn
bạn đọc yêu thơ.
THÂN BÀI
2. Phân tích nghệ thuật theo bài thơ để làm sáng tỏ chủ đề:
- “Khóc Dương Khuê” được viết bằng thể thơ song thất lục bát, lời khóc bạn
càng trở nên thiết tha, não nùng, lúc thì nức nở, thảng thốt, lúc thì kể lể thở
than, lúc thì phân trần, lúc thì trách móc, lời thơ thủ thỉ như nói với người còn
sống, rất cảm động Giọng thơ liền mạch, lời thơ tinh tế, biểu cảm đã thể hiện
nghệ thuật vừa bình di, vừa điêu luyện. Thể thơ rất phù hợp để diễn tả tâm
trạng của nhân vật trữ tình: nỗi nhớ về những kỉ niệm cùng bạn thuở hàn vi
tới lúc đứng trên đỉnh cao danh vọng; tâm trạng xót xa, hụt hẫng, mất mát
không gì có thể thay thế được của thi nhân khi mất đi người bạn tri âm, tri kỉ.
THÂN BÀI
2. Phân tích nghệ thuật theo bài thơ để làm sáng tỏ chủ đề:
- Phép liệt kê, trùng điệp được vận dụng để gây ấn tượng về một tình bạn lâu
bền, sâu sắc, thuỷ chung và vô cùng thắm thiết. Người Việt chúng ta, nhất là
các cụ già lúc khóc người thân quá cố thường kể lể gợi nhắc mọi kỉ niệm ngụ
ý thương tiếc. Có lúc ta cảm thấy người sống đang đối thoại và tâm sự với
người đã khuất. Bài thơ đã kể lại đủ hết các giai đoạn của tình bạn, lời kể nào
cũng chân thành, đằm thắm. Nguyễn Khuyến vừa kể lể, vừa nức nở. Nghệ
thuật nói giảm nói tránh, các điển cố điển tích, … cũng góp phần làm tiếng
khóc bạn của nhà thơ thêm sâu sắc, thấm thía.
THÂN BÀI
3. Đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
- Về nghệ thuật, “Khóc Dương Khuê” là một bài thơ song thất lục bát đặc
sắc. Hình ảnh thơ chân thực, sống động, giàu sức gợi; ngôn từ độc đáo với
điển tích điển cố hàm súc, cô đọng. Nghệ thuật sử dụng phép điệp, liệt kê, nói
giảm nói tránh làm nổi bật tiếng khóc thương người bạn hiền của nhà thơ.
- Về nội dung: Qua bài thơ, tác giả đã ca ngợi tình bạn chân thành, cao đẹp
vượt thời gian đồng thời là nỗi đau xót khi mất đi người bạn hiền.
THÂN BÀI
4. Mở rộng- liên hệ: Tình bạn là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của con
người trong cuộc sống. Bởi thế mà thơ viết về tình bạn xưa nay không hiếm.
Ngay chính nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng có cả một mảng sáng tác về đề tài
này với gần một trăm bài thơ. Nổi tiếng nhất là bài “Bạn đến chơi nhà”.
Riêng viết về Dương Khuê- người bạn chí thân, Nguyễn Khuyến đã có bốn
bài thơ chữ Hán. Nhưng xúc động nhất là bài “Khóc Dương Khuê”.
KẾT BÀI
Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về yếu tố nội dung hoặc
nghệ thuật đặc sắc đã trình bày.
“Khóc Dương Khuê” là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của
Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca
dân tộc. Bài thơ bồi đắp cho người đọc chúng ta tình cảm bạn hữu chân
thành, sâu sắc và cảm động.
LUYỆN TẬP: Em hãy phân tích bài thơ sau
MẸ VÀ QUẢ- NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?
c. Hướng dẫn viết bài
- Dựa vào dàn ý đã xây dựng để luyện tập kĩ năng viết.
- Yêu cầu chung khi viết bài:
+ Phần Mở bài và phần Kết bài: mỗi phần viết thành một đoạn
văn hoàn chỉnh.
+ Phần Thân bài:
++ Lựa chọn kiểu tổ chức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, song
song, phối hợp) cho phù hợp với từng ý triển khai trong Thân bài.
c. Hướng dẫn viết bài
++ Khi viết, luôn chú ý liên kết các câu trong đoạn và liên kết các
đoạn trong bài.
++ Chú ý kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử dụng lí lẽ và bằng chứng
trong khi triển khai các ý của phần Thân bài để đảm bảo tính
thuyết phục của một bài văn nghị luận.
++ Chú ý làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của bài thơ, không sa vào tóm tắt nội dung.
Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn phân tích một bài thơ
Nội dung kiểm tra
Mở bài
Đã giới thiệu được tác giả, bài thơ; hoàn cảnh ra
đời (nếu có).
Thân bài + Đã chỉ rõ chủ đề và phân tích chủ đề bài thơ.
+ Đã phân tích, làm rõ một số nét đặc sắc về
nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu
từ, ...)
+ Đã nêu được những suy nghĩ, cảm xúc của
bản thân về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
Đạt
Chưa
đạt
Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn phân tích một bài thơ
Nội dung kiểm tra
Kết bài
Khẳng định được ý nghĩa và giá trị nghệ thuật
của bài thơ.
Kĩ năng, Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng hợp lí.
trình bày Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
diễn đạt Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn đạt.
Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên kết các ý.
Đạt
Chưa
đạt
PHIẾU KIỂM TRA, CHỈNH SỬA BÀI VIẾT:
Nội dung lỗi cần sửa
Sửa lỗi
Phát hiện và sửa ý và trình tự Trình tự triển khai ý
triển khai ý
Các ý cần bổ sung
Phát hiện sửa lỗi về ý
Thiếu ý
Sắp xếp lại ý lộn xộn
Sửa lại các ý lạc đề
Sửa lại các ý tản mạn
Lỗi dùng từ
Lỗi viết câu
Lỗi chính tả
Phát hiện sửa lỗi diễn đạt
Lỗi chính tả
d. Kiểm tra và chỉnh sửa
- Đọc lại bài viết, kiểm tra các ý đã đầy đủ và đúng trình tự được
nêu ở dàn ý chưa.
- Phát hiện sửa lỗi về viết:
+ Lỗi về ý: Thiếu ý (ý sơ sài, chưa nêu hết được những điều cần
viết), ý lộn xộn (các ý không được sắp xếp theo một trình tự hợp
lí), lạc ý (nêu các ý không liên quan đến nội dung bài yêu cầu), ý
tản mạn (nêu các ý không tập trung vào nội dung chính của bài
viết).
+ Lỗi về diễn đạt (dùng từ, viết câu), chính tả.
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
? So sánh là gì?
? Trong phân tích thơ, ta thường gặp những kiểu so sánh
nào?
? Mục đích của so sánh trong phân tích thơ là gì?
? Viết đoạn văn so sánh, nêu lên một điểm giống và một
điểm khác nhau giữa hai bài thơ “Sông núi nước Nam” và
văn bản “Nước Đại Việt ta” (Trích Bình Ngô đại cáo –
Nguyễn Trãi).
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
a. Cách thức
- So sánh là chỉ ra sự giống nhau, khác nhau của hai hay nhiều tác phẩm,
làm nổi bật sự độc đáo, sáng tạo của nhà thơ. Về nguyên tắc, có thể so sánh
điểm giống và khác nhau ở tất cả các cấp độ, từ nội dung (đề tài, chủ đề,
cảm hứng, tư tưởng...) đến hình thức tác phẩm (nhan đề, bố cục, chi tiết,
vần, nhịp, hình ảnh, các thủ pháp nghệ thuật ngôn ngữ...); có thể so sánh tác
phẩm của hai tác giả nhưng cũng có thể so sánh hai tác phẩm của cùng một
tác giả.
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
a. Cách thức
- Trong phân tích thơ, để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của tác phẩm được
phân tích, người viết thường so sánh với các tác phẩm cùng đề tài, chủ đề...
Ví dụ, khi phân tích bài Sông núi nước Nam, có thể dẫn ra các tác phẩm
cùng viết về tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc như Hịch tướng sĩ
(Trần Quốc Tuấn), Phò giá về kinh (Trần Quang Khải), Tỏ lòng (Phạm Ngũ
Lão), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) ... cũng như nhiều bài thơ hiện đại
sau này. Hoặc phân tích những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, nhiều
người đã liên hệ với thơ Đường, thơ Tổng, so sánh để thấy rõ: Thơ của
Người “rất Đường mà lại không Đường một tí nào” (Hoàng Trung Thông).
b. Bài tập
Viết đoạn văn so sánh, nêu lên một điểm
giống và một điểm khác nhau giữa hai bài
thơ “Sông núi nước Nam” và văn bản “Nước
Đại Việt ta” (Trích Bình Ngô đại cáo –
Nguyễn Trãi).
Bài tham khảo:
Nếu "Sông núi nước Nam" chỉ khẳng định nước có chủ nghĩa thì có vua
Nam ở thì ở bài "Nước Đại Việt ta", Nguyễn Trãi lại chứng minh nước nhà
có độc lập dân tộc bằng việc khẳng định rõ nước ta có quốc hiệu, có nền văn
hiến lâu đời, có bề dạy lịch sử riêng của dân tộc, lãnh thổ riêng, có chủ
quyền, chế độ và phong tục riêng. Qua đây, ta cũng đã thấy được văn bản
"Nước Đại Việt ta" có học thuyết về quốc gia hơn "Sông núi nước Nam".
Đồng thời, người đọc cũng thấy được giọng nói hào hùng, lời văn nhịp
nhàng, ngân vang của tác giả.
Bài tham khảo:
…Văn bản có đoạn đầu bài là một sự đối lập từ khái quát cho đến cụ thể,
lại còn giàu chứng cớ lịch sử khiến cho ai ai là con dân đất Việt cũng có cảm
xúc tự hào. Có lẽ, cả 2 văn bản đều rất hay và thể hiện chủ quyền nước ta,
cũng đều được coi là bản tuyên ngôn độc lập của nước ta nhưng "Nước Đại
Việt ta" lại có những điều tiến bộ, phát triển hơn với tính toàn diện, sâu sắc
của từng lời thơ trong nó. Phải chăng, càng về sau thì con người ta lại càng
phát triển, thông minh và tốt đẹp hơn, điều đó đã được chứng minh qua việc
ta so sánh "Sông núi nước Nam" và "Nước Đại Việt ta".
VẬN DỤNG
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
- Học bài, nắm chắc cách viết bài văn phân tích một tác phẩm
thơ.
- Lưu trữ lại bài viết, bảng kiểm đánh giá vào hồ sơ cá nhân.
- GV giao phiếu học tập và yêu cầu HS chuẩn bị bài sau:
Nói và nghe: Nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một tác
phẩm thơ.
HOÀN THÀNH PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI NÓI THEO MẪU SAU:
Trình bày ý kiến của cá nhân về sự giống nhau và khác nhau giữa bài
thơ Sông núi nước Nam và văn bản Nước Đại Việt ta.
1. Mục đích của bài nói
...
2. Đối tượng người nghe
...
3. Phạm vi trình bày
...
4. Tìm ý cho bài nói: Trả lời các câu hỏi sau:
...
- Mục đích bài nói là gì?
- Nội dung chính của bài nói là gì? Có những lý lẽ, dẫn chứng
nào để làm sáng tỏ?
HOÀN THÀNH PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI NÓI THEO MẪU SAU:
Trình bày ý kiến của cá nhân về sự giống nhau và khác nhau giữa bài
thơ Sông núi nước Nam và văn bản Nước Đại Việt ta.
4. Tìm ý cho bài nói: Trả lời các câu hỏi sau:
...
- Hai văn bản có ý nghĩa, vị trí như thế nào đối với lịch sử dân
tộc nói chung và văn học nói riêng?
5. Dàn ý bài nói:
Mở đầu:.......
Triển khai:......
Kết luận:.........
...
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH
MỘT TÁC PHẨM THƠ
TRÒ CHƠI AI NHANH HƠN.
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
QUÊ HƯƠNG
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
LƯỢM
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
Lặng rồi cả tiếng con ve,
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu,
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia,
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
MẸ
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
• Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin
Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười
NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC
BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
• Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm.
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người từng người một
Sợ cháu mình giật thột
Bác nhón chân nhẹ nhàng.
ĐÊM NAY BÁC KHÔNG NGỦ
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
- Em hiểu viết một bài văn phân tích một tác phẩm thơ
là làm gì?
- Theo em, để viết được một bài văn phân tích một tác
phẩm thơ, người viết cần phải làm gì?
I. Định hướng
1. Khái niệm
- Phân tích một tác phẩm thơ là kiểu bài nghị luận
văn học mà trong đó, người viết dùng lí lẽ và bằng
chứng để làm rõ một số đặc điểm về nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm.
+ Đọc kĩ bài thơ được phân tích, chú ý đặc điểm thể loại, tác giả,
bối cảnh ra đời (nếu cần thiết) của tác phẩm.
+ Phân tích nội dung và các yếu tố hình thức nổi bật của bài thơ.
Chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung; từ đó làm rõ giá trị
của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của tác
phẩm.
+ Suy nghĩ, nhận xét về ý nghĩa, giá trị và sự tác động của tác phẩm
đối với người đọc cũng như cá nhân em.
DÀN BÀI
Mở bài Giới thiệu khái quát về đề tài và giá trị của bài thơ
Thân bài 1. Nêu bối cảnh và sự kiện tạo ra nguồn cảm xúc cho tác giả viết bài thơ.
2. Chủ đề (cảm xúc chủ đạo) của bài thơ.
3. Phân tích các yếu tố hình thức và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung bài thơ.
+ Thể thơ và đặc điểm vần, nhịp của thể thơ.
+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ.
+ Từ ngữ, hình ảnh được sử dụng trong bài thơ.
+ Những biện pháp tu từ nào đã được sử dụng
4. Đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.
5. Liên hệ , mở rộng
So sánh với những bài thơ viết về cùng đề tài để làm rõ sự độc đáo của bài thơ
Kết bài
Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về yếu tố nội dung hoặc nghệ thuật đặc sắc đã trình
bày.
2. THỰC HÀNH
PHIẾU LẬP DÀN Ý
MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học trung đại
Việt Nam. Ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Thơ
ông luôn giàu cảm xúc với thiên nhiên, với quê hương và con người.
- Giới thiệu bài thơ: Bài thơ Khóc Dương Khuê lúc đầu có tên chữ Hán là
Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng Thư, sau được chính nhà thơ
dịch ra chữ Nôm. Bài thơ được sáng tác khi Nguyễn Khuyến nghe tin người
bạn thân là Dương Khuê qua đời.
- Ý kiến chung về bài thơ: Bài thơ là tiếng khóc bạn đầy xót xa, cảm động
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Đây là bài thơ khóc bạn rất cảm động của Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ
khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng
khoa với Nguyễn Khuyến. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to. Từ bạn đồng
khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ
khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài
văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy
lệ, có 38 câu thơ.Mở đầu bài thơ là một tiếng than, tiếng nấc đau đớn:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi,
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Một sự thảng thốt xót thương cất lên, tưởng như bất ngờ bị đánh rơi mất
một cái gì vô cùng quý báu. Nhóm từ "thôi đã thôi rồi" thay cho khái niệm
"đã mất", "đã chết", "đã qua đời" V.V… một lối nói bình dị, làm giảm bớt đi
nỗi đau đớn ghê gớm đối với tuổi già. Hai chữ "nước mây" chỉ hai sự vật
cách xa. Nước chảy, mây trôi, xa nhau vời vợi, nghìn trùng cách trở, có mấy
khi gặp nhau. Song, lòng nước chảy, dù đi đâu về đâu vẫn ôm ấp bóng mây
trôi. Hình ảnh "nước mây" được liên kết với các từ láy "man mác", "ngậm
ngùi" diễn tả một trời thương xót, một không gian cách trở bao la, âm dương
đôi đường, buồn đau, nặng trĩu.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Chữ "bác" trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính biểu cảm sâu sắc. Nhà thơ
luôn luôn gọi bạn bằng bác, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật dù
rằng Nguyễn Khuyến còn hơn Dương Khuê đến 5 tuổi.
Phần thứ hai gồm 24 câu thơ, tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc
với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào
nhất. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn
ấy là “duyên trời” tác hợp nên:
“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Các từ ngữ “sớm hôm”, “cùng nhau”, “từ trước đến sau” thể hiện một tình
bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn
của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn
thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải
là những tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và
đáng nhớ như vậy.
+ Nhớ những cuộc du ngoạn, thăm thú nơi “dặm khách” chan hoà với thiên
nhiên, thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền: “Tiếng suối nghe róc rách lưng đè”
Nhớ những lần cùng nhau đi hát ả đào nơi lầu cao, thưởng thức cung đàn,
giọng hát:
“Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Cầm xoang nghĩa là cung đàn, giọng hát, “Từng gác cheo leo” như còn gợi
lại cảm giác ngây ngất trên lầu cao của đôi bạn tri âm sành điệu. Nguyễn
Khuyến và Dương Khuê rất sành nghệ thuật hát ả đào, đã sáng tác nhiều hài
hát nói nổi tiếng.
+ Người xưa có nói: “Tửu phùng tri kỉ thiên bôi thiểu - Thi hội tri âm bán cú
đa”. Bạn tri âm trong hội thơ (chỉ nghe qua) nửa câu thơ đã là nhiều không
cần dài lời cũng đủ hiểu bạn. Nguyễn Khuyến nhớ lại những lần cùng bạn
uống rượu làm thơ:
“Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi hàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích điển phần trước sau”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Chén quỳnh tương là chén ngọc, một cách nói sang trọng. "Rượu ngon cùng
nhắp" và hình ảnh "âm ắp bầu xuân" như còn giữ lại một tình bạn trong
hương vị nồng nàn, hứng khởi. Nhắc tới chuyện bàn soạn văn chương thì đầy
ắp những sách vở, điển cố. Hai chữ "đông bích, điển phần" biểu lộ niểm tự
hào kín đáo của những nhà nho học rộng tài cao.
+ Nguyễn Khuyến đã sử dụng cách diễn đạt trùng điệp hai nhóm từ ngữ:
“Cũng có lúc” và “có khi” đan chéo vào nhau, bốn lần xuất hiện trên tám
dòng thơ, vừa để liệt kê gợi nhớ, vừa tạo nên âm hưởng quấn quýt, thiết tha.
Những kỉ niệm ấy vô cùng sâu sắc, đẹp đẽ về tình bạn, không bao giờ có thể
quên được.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
Có kỉ niệm vui, có kỉ niệm buồn, nhưng Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng
vẫn “kính yêu từ trước đến sau”, không bao giờ thay lòng đổi dạ:
“Bác già tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế, thì thôi, mới là”.
Chữ “rồi” vần với ba chữ “thôi” liên tiếp như một tiếng thở dài, tự an ủi
mình, như muốn quên đi thật nhanh những điều bất đắc chí. Không nỡ, không
muốn nhắc đến nữa mới là bạn bè tâm giao!
+ Đoạn thơ tiếp theo làm tái hiện một khung cảnh cảm động của đôi bạn già
sau nhiều năm xa cách mới gặp lại nhau:
“Muốn đi lại, tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần,
Cấm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẩn tinh thần chưa can”.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
“Tinh thần chưa can” ý nói sức khoẻ vẫn bình thường, tinh thần vẫn sáng
suốt. + Thế mà bạn đột ngột qua đời. Đoạn thơ sau đây thể hiện rất đúng, rất
sâu sắc tâm lí và tình cảm người già khí được tin bạn mất:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
Làm sao bác vội về ngay?
Chợt nghe tôi bổng chân tay rụng rời!”.
Giọng thơ kể lể, tự tình. Trong lời than thấm đầy lệ. Hình ảnh “chân tay rụng
rời” cực tả nỗi đau đớn, bàng hoàng không kể xiết.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
- Mười hai câu thơ cuối, Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là tự khóc mình,
giọng thơ ngày một thêm não nùng, thê thiết. Ông trách bạn "vội đi xa" để
mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:
“Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua”.
+ Sau chữ "chẳng" xuất hiện liên tiếp 5 chữ "không" gợi tả cái trống vắng, cái
cô đơn của nhà thơ, của cảnh già. Kẻ đi xa và người ở lại cùng chung nỗi
niềm tâm sự "chán đời là phải". Nhà thơ kín đáo bộc lộ thái độ đối với thời
cuộc trước sau không thay đổi.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Bạn mất đột ngột, nỗi thương tiếc, đau xót làm tê tái cả lòng. Sống trong cô
đơn ngày thêm bơ vơ sầu tủi. Cuộc đời mất hết ý nghĩa: không muốn uống
rượu, không thiết ngâm thơ, gian nhà và tâm hồn trở nên trống vắng, trơ trọi.
Còn đâu nữa bạn tri âm tri kỉ?
“Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”.
Lời than khóc trở nên xót xa khi nhà thơ nhắc lại điển tích Tử Kỳ - Bá Nha
và Trần Phổn - Từ Trĩ... Lúc bạn qua đời chẳng còn người tri âm tri kỉ để
cùng nhau uống rượu, làm thơ, nghe đàn, năng lui tới thăm nom, chia ngọt sẻ
bùi cùng nhau. Nguyễn Khuyến đã có nhiều cách nói rất sâu sắc, cảm động
diễn tả sự thương xót bạn và nỗi buồn cô đơn của mình.
THÂN BÀI
1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
+ Bốn câu cuối bài thơ như một tiếng nấc đau đớn. Tuổi già vốn ít lệ (hạt lệ
như sương), nên chỉ biết khóc ở trong lòng. Thương bạn gắn liền với bao nỗi
nhớ. Khóc bạn chuyển thành nỗi niềm như cam chịu số phận bi thương. Chỉ
cầu mong cho linh hồn bạn thanh thản "lên tiên":
“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương,
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”.
Tuy nhà thơ nói rằng “hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan” nhưng bài thơ
khép lại trong rưng rưng nghẹn ngào, chứa chan nước mắt của nhà thơ lẫn
bạn đọc yêu thơ.
THÂN BÀI
2. Phân tích nghệ thuật theo bài thơ để làm sáng tỏ chủ đề:
- “Khóc Dương Khuê” được viết bằng thể thơ song thất lục bát, lời khóc bạn
càng trở nên thiết tha, não nùng, lúc thì nức nở, thảng thốt, lúc thì kể lể thở
than, lúc thì phân trần, lúc thì trách móc, lời thơ thủ thỉ như nói với người còn
sống, rất cảm động Giọng thơ liền mạch, lời thơ tinh tế, biểu cảm đã thể hiện
nghệ thuật vừa bình di, vừa điêu luyện. Thể thơ rất phù hợp để diễn tả tâm
trạng của nhân vật trữ tình: nỗi nhớ về những kỉ niệm cùng bạn thuở hàn vi
tới lúc đứng trên đỉnh cao danh vọng; tâm trạng xót xa, hụt hẫng, mất mát
không gì có thể thay thế được của thi nhân khi mất đi người bạn tri âm, tri kỉ.
THÂN BÀI
2. Phân tích nghệ thuật theo bài thơ để làm sáng tỏ chủ đề:
- Phép liệt kê, trùng điệp được vận dụng để gây ấn tượng về một tình bạn lâu
bền, sâu sắc, thuỷ chung và vô cùng thắm thiết. Người Việt chúng ta, nhất là
các cụ già lúc khóc người thân quá cố thường kể lể gợi nhắc mọi kỉ niệm ngụ
ý thương tiếc. Có lúc ta cảm thấy người sống đang đối thoại và tâm sự với
người đã khuất. Bài thơ đã kể lại đủ hết các giai đoạn của tình bạn, lời kể nào
cũng chân thành, đằm thắm. Nguyễn Khuyến vừa kể lể, vừa nức nở. Nghệ
thuật nói giảm nói tránh, các điển cố điển tích, … cũng góp phần làm tiếng
khóc bạn của nhà thơ thêm sâu sắc, thấm thía.
THÂN BÀI
3. Đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
- Về nghệ thuật, “Khóc Dương Khuê” là một bài thơ song thất lục bát đặc
sắc. Hình ảnh thơ chân thực, sống động, giàu sức gợi; ngôn từ độc đáo với
điển tích điển cố hàm súc, cô đọng. Nghệ thuật sử dụng phép điệp, liệt kê, nói
giảm nói tránh làm nổi bật tiếng khóc thương người bạn hiền của nhà thơ.
- Về nội dung: Qua bài thơ, tác giả đã ca ngợi tình bạn chân thành, cao đẹp
vượt thời gian đồng thời là nỗi đau xót khi mất đi người bạn hiền.
THÂN BÀI
4. Mở rộng- liên hệ: Tình bạn là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của con
người trong cuộc sống. Bởi thế mà thơ viết về tình bạn xưa nay không hiếm.
Ngay chính nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng có cả một mảng sáng tác về đề tài
này với gần một trăm bài thơ. Nổi tiếng nhất là bài “Bạn đến chơi nhà”.
Riêng viết về Dương Khuê- người bạn chí thân, Nguyễn Khuyến đã có bốn
bài thơ chữ Hán. Nhưng xúc động nhất là bài “Khóc Dương Khuê”.
KẾT BÀI
Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về yếu tố nội dung hoặc
nghệ thuật đặc sắc đã trình bày.
“Khóc Dương Khuê” là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của
Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca
dân tộc. Bài thơ bồi đắp cho người đọc chúng ta tình cảm bạn hữu chân
thành, sâu sắc và cảm động.
LUYỆN TẬP: Em hãy phân tích bài thơ sau
MẸ VÀ QUẢ- NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?
c. Hướng dẫn viết bài
- Dựa vào dàn ý đã xây dựng để luyện tập kĩ năng viết.
- Yêu cầu chung khi viết bài:
+ Phần Mở bài và phần Kết bài: mỗi phần viết thành một đoạn
văn hoàn chỉnh.
+ Phần Thân bài:
++ Lựa chọn kiểu tổ chức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, song
song, phối hợp) cho phù hợp với từng ý triển khai trong Thân bài.
c. Hướng dẫn viết bài
++ Khi viết, luôn chú ý liên kết các câu trong đoạn và liên kết các
đoạn trong bài.
++ Chú ý kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử dụng lí lẽ và bằng chứng
trong khi triển khai các ý của phần Thân bài để đảm bảo tính
thuyết phục của một bài văn nghị luận.
++ Chú ý làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của bài thơ, không sa vào tóm tắt nội dung.
Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn phân tích một bài thơ
Nội dung kiểm tra
Mở bài
Đã giới thiệu được tác giả, bài thơ; hoàn cảnh ra
đời (nếu có).
Thân bài + Đã chỉ rõ chủ đề và phân tích chủ đề bài thơ.
+ Đã phân tích, làm rõ một số nét đặc sắc về
nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu
từ, ...)
+ Đã nêu được những suy nghĩ, cảm xúc của
bản thân về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
Đạt
Chưa
đạt
Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn phân tích một bài thơ
Nội dung kiểm tra
Kết bài
Khẳng định được ý nghĩa và giá trị nghệ thuật
của bài thơ.
Kĩ năng, Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng hợp lí.
trình bày Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
diễn đạt Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn đạt.
Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên kết các ý.
Đạt
Chưa
đạt
PHIẾU KIỂM TRA, CHỈNH SỬA BÀI VIẾT:
Nội dung lỗi cần sửa
Sửa lỗi
Phát hiện và sửa ý và trình tự Trình tự triển khai ý
triển khai ý
Các ý cần bổ sung
Phát hiện sửa lỗi về ý
Thiếu ý
Sắp xếp lại ý lộn xộn
Sửa lại các ý lạc đề
Sửa lại các ý tản mạn
Lỗi dùng từ
Lỗi viết câu
Lỗi chính tả
Phát hiện sửa lỗi diễn đạt
Lỗi chính tả
d. Kiểm tra và chỉnh sửa
- Đọc lại bài viết, kiểm tra các ý đã đầy đủ và đúng trình tự được
nêu ở dàn ý chưa.
- Phát hiện sửa lỗi về viết:
+ Lỗi về ý: Thiếu ý (ý sơ sài, chưa nêu hết được những điều cần
viết), ý lộn xộn (các ý không được sắp xếp theo một trình tự hợp
lí), lạc ý (nêu các ý không liên quan đến nội dung bài yêu cầu), ý
tản mạn (nêu các ý không tập trung vào nội dung chính của bài
viết).
+ Lỗi về diễn đạt (dùng từ, viết câu), chính tả.
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
? So sánh là gì?
? Trong phân tích thơ, ta thường gặp những kiểu so sánh
nào?
? Mục đích của so sánh trong phân tích thơ là gì?
? Viết đoạn văn so sánh, nêu lên một điểm giống và một
điểm khác nhau giữa hai bài thơ “Sông núi nước Nam” và
văn bản “Nước Đại Việt ta” (Trích Bình Ngô đại cáo –
Nguyễn Trãi).
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
a. Cách thức
- So sánh là chỉ ra sự giống nhau, khác nhau của hai hay nhiều tác phẩm,
làm nổi bật sự độc đáo, sáng tạo của nhà thơ. Về nguyên tắc, có thể so sánh
điểm giống và khác nhau ở tất cả các cấp độ, từ nội dung (đề tài, chủ đề,
cảm hứng, tư tưởng...) đến hình thức tác phẩm (nhan đề, bố cục, chi tiết,
vần, nhịp, hình ảnh, các thủ pháp nghệ thuật ngôn ngữ...); có thể so sánh tác
phẩm của hai tác giả nhưng cũng có thể so sánh hai tác phẩm của cùng một
tác giả.
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
a. Cách thức
- Trong phân tích thơ, để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của tác phẩm được
phân tích, người viết thường so sánh với các tác phẩm cùng đề tài, chủ đề...
Ví dụ, khi phân tích bài Sông núi nước Nam, có thể dẫn ra các tác phẩm
cùng viết về tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc như Hịch tướng sĩ
(Trần Quốc Tuấn), Phò giá về kinh (Trần Quang Khải), Tỏ lòng (Phạm Ngũ
Lão), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) ... cũng như nhiều bài thơ hiện đại
sau này. Hoặc phân tích những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, nhiều
người đã liên hệ với thơ Đường, thơ Tổng, so sánh để thấy rõ: Thơ của
Người “rất Đường mà lại không Đường một tí nào” (Hoàng Trung Thông).
b. Bài tập
Viết đoạn văn so sánh, nêu lên một điểm
giống và một điểm khác nhau giữa hai bài
thơ “Sông núi nước Nam” và văn bản “Nước
Đại Việt ta” (Trích Bình Ngô đại cáo –
Nguyễn Trãi).
Bài tham khảo:
Nếu "Sông núi nước Nam" chỉ khẳng định nước có chủ nghĩa thì có vua
Nam ở thì ở bài "Nước Đại Việt ta", Nguyễn Trãi lại chứng minh nước nhà
có độc lập dân tộc bằng việc khẳng định rõ nước ta có quốc hiệu, có nền văn
hiến lâu đời, có bề dạy lịch sử riêng của dân tộc, lãnh thổ riêng, có chủ
quyền, chế độ và phong tục riêng. Qua đây, ta cũng đã thấy được văn bản
"Nước Đại Việt ta" có học thuyết về quốc gia hơn "Sông núi nước Nam".
Đồng thời, người đọc cũng thấy được giọng nói hào hùng, lời văn nhịp
nhàng, ngân vang của tác giả.
Bài tham khảo:
…Văn bản có đoạn đầu bài là một sự đối lập từ khái quát cho đến cụ thể,
lại còn giàu chứng cớ lịch sử khiến cho ai ai là con dân đất Việt cũng có cảm
xúc tự hào. Có lẽ, cả 2 văn bản đều rất hay và thể hiện chủ quyền nước ta,
cũng đều được coi là bản tuyên ngôn độc lập của nước ta nhưng "Nước Đại
Việt ta" lại có những điều tiến bộ, phát triển hơn với tính toàn diện, sâu sắc
của từng lời thơ trong nó. Phải chăng, càng về sau thì con người ta lại càng
phát triển, thông minh và tốt đẹp hơn, điều đó đã được chứng minh qua việc
ta so sánh "Sông núi nước Nam" và "Nước Đại Việt ta".
VẬN DỤNG
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
- Học bài, nắm chắc cách viết bài văn phân tích một tác phẩm
thơ.
- Lưu trữ lại bài viết, bảng kiểm đánh giá vào hồ sơ cá nhân.
- GV giao phiếu học tập và yêu cầu HS chuẩn bị bài sau:
Nói và nghe: Nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một tác
phẩm thơ.
HOÀN THÀNH PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI NÓI THEO MẪU SAU:
Trình bày ý kiến của cá nhân về sự giống nhau và khác nhau giữa bài
thơ Sông núi nước Nam và văn bản Nước Đại Việt ta.
1. Mục đích của bài nói
...
2. Đối tượng người nghe
...
3. Phạm vi trình bày
...
4. Tìm ý cho bài nói: Trả lời các câu hỏi sau:
...
- Mục đích bài nói là gì?
- Nội dung chính của bài nói là gì? Có những lý lẽ, dẫn chứng
nào để làm sáng tỏ?
HOÀN THÀNH PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI NÓI THEO MẪU SAU:
Trình bày ý kiến của cá nhân về sự giống nhau và khác nhau giữa bài
thơ Sông núi nước Nam và văn bản Nước Đại Việt ta.
4. Tìm ý cho bài nói: Trả lời các câu hỏi sau:
...
- Hai văn bản có ý nghĩa, vị trí như thế nào đối với lịch sử dân
tộc nói chung và văn học nói riêng?
5. Dàn ý bài nói:
Mở đầu:.......
Triển khai:......
Kết luận:.........
...
 







Các ý kiến mới nhất