Virus gây bệnh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Hoàng Minh Nhật
Ngày gửi: 21h:49' 31-12-2009
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 187
Nguồn:
Người gửi: Trần Hoàng Minh Nhật
Ngày gửi: 21h:49' 31-12-2009
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 187
Số lượt thích:
0 người
Products of Minh Nhật
Virut gây bệnh
Nhóm trưởng:
cao ngọc hưng
Nhóm 3 kính chào các bạn
I. Virut gây bệnh ở thực vật
Hiện nay người ta đã biết 600 – 1000 bệnh ở thực vật do virut gây ra.
Tế bào thực vật có thành xenlulôzơ nên rất bền vững, virut không thể tự chui qua thành tế bào mà phải chủ yếu nhờ vào vết tiêm chích của côn trùng hoặc các vết xước (do thiên tai hay cơ học)… Ví dụ sâu, rệp, bọ rẫy khi hút nhựa kèm theo cả virut. Cũng có trường hợp nhờ dây tơ hồng, hay virut truyền bệnh thông qua hạt giống, củ giống, cành chiết, mắt ghép, cỏ dại…
Virut di chuyển sang tế bào khác qua cầu sinh chất nối giữa các tế bào
Biện pháp: chọn giống cây sạch bệnh, vệ sinh đồng ruộng và tiêu diệt vật trung gian truyền bệnh.
Để phòng tránh virut ở thực vật thì người ta phải chọn giống cây sạch bệnh, luân canh cây trồng, thực hiện vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt các côn trùng truyền bệnh.
Triệu Chứng Của Cây Bị Nhiễm Virut : lá đốm vàng, đốm nâu, bị sọc hay vằn; lá bị xoăn hay héo….
Bọ rầy xanh
Bọ trĩ hại chanh
Bọ trĩ
Có khoảng 3000 loại, ký sinh hầu hết ở vi sinh vật nhân sơ (vi khuẩn, xạ khuẩn), hoặc nhân chuẩn (nấm men, nấm sợi).
Chúng thường có ADN xoắn kép và 90% là có đuôi. Phage được coi là mô hình về sự nhân lên của virut và ngày nay trở thành công cụ thuận lợi cho sự phát triển kĩ thuật gen.
Nhiều loài phage gây những tổn thất lớn cho nhiều ngành công nghiệp vi sinh như: mì chính, sinh khối, thuốc trừ sâu sinh học, thuốc kháng sinh.
II. Virut của vi sinh vật
Vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy
- Vật chủ: là sinh vật mà virut kí sinh và gây bệnh.
- Ổ chứa: là nơi mà virut tồn tại trước và sau khi gây nhiễm vào cơ thể khác.
- Thể bọc: là bọc prôtêin đặc biệt dạng tinh thể chứa virion.
- Khi côn trùng ăn lá chứa virut, chất kiềm trong ruột giữa côn trùng phân giải thể bọc, giải phóng virion. Virion xâm nhập vào tế bào ruột giữa hoặc theo dịch bạch huyết lan ra khắp cơ thể.
III.Virus gây bệnh ở côn trùng
Có thể chia làm 2 nhóm virut ở côn trùng:
- Nhóm virut chỉ kí sinh ở côn trùng: Người ta đã tìm thấy nhiều loại virut chỉ kí sinh ở côn trùng.
- Nhóm virut kí sinh ở côn trùng sau đó mới nhiễm vào người và động vật: Người ta đã phát hiện ra khoảng 150 loại virut kí sinh trên côn trùng. Truyền bệnh cho người và động vật. Những virut này thường sinh ra độc tố
Virus gây bệnh sốt xuất huyết:
Sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm, gây ra do virus Dengue, có khả năng phát tán thành dịch do muỗi lây nhiễm. Sốt xuất huyết dễ gây tử vong cho người bệnh nếu không được điều trị kịp thời & đúng cách.
Virus Dengue truyền bệnh từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aedes đốt. Virus là loại ARN virus, có 4 típ huyết thanh, có những kháng nguyên rất giống nhau, có thể gây phản ứng chéo 1 phần sau khi bị nhiễm 1 trong 4 típ và có những kháng nguyên đặc hiệu cho riêng từng típ. Virus có ở trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt. Kháng nguyên virus Dengue được tìm thấy ở đại thực bào, phổi, lách, tuyến ức, tế bào Kuffer ở gan, tế bào monocyt ở máu ngoại biên.
Người bệnh nhiễm virus Dengue bị muỗi Aedes đốt mang virus rồi truyền cho người lành. Khi bị bệnh, cơ thể sẽ xuất hiện kháng thể lgM kháng Dengue tạm thời kéo dài 8 tuần và khi phát hiện kháng thể này trong huyết thanh chứng tỏ bệnh nhân đang bị nhiễm virus Dengue cấp tính hoặc vừa mới khỏi bệnh.
Mức độ nguy hiểm của sốt xuất huyết:
Virus Dengue xâm nhập vào cơ thể gây tổn thương các nội tạng bên trong cơ thể, có thể thấy như:
Tổn thương thành mao mạch
Phù các nội tạng
Tràn dịch màng bụng, màng phổi, màng tim
Xuất huyết dưới da & bên trong nội tạng
Tổn thương gan, thận
Nếu không được điều trị kịp thời & đúng cách, có thể dẫn đến tử vong.
Các biểu hiện của sốt xuất huyết:
Sau 5-7 ngày bị nhiễm virus do bị muỗi cắn, bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng chính sau:
Hiện tượng nhiễm trùng với sốt cao (trên 39oC), kéo dài liên tục nhiều ngày
Kèm theo tình trạng biếng ăn, hay khóc quấy do đau bụng, có thể có rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy hoặc táo bón.
Xuất huyết dưới da, các nốt đỏ không mất đi khi ấn vào. Thường thấy ở hai tay và lòng bàn chân
Chảy máu cam, chảy máu răng
Khóc nhiều, vật vả, ngủ không yên giấc
Có thể có co giật, lơ mơ
IV.Virus gây bệnh ở động vật và người
Đến nay người ta đã biết tới hơn 500 bệnh do virut gây ra ở người và động vật trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư, viêm não Nhật Bản, bệnh dại… Nhiều bệnh tưởng như không nguy hiểm lắm nhưng dễ lây lan thành dịch nên gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và sản xuất như đau mắt đỏ, sởi, quai bị, sốt xuất huyết…
Tuỳ từng loại virut gây bệnh mà chúng có cách lây nhiễm và gây tác hại với các mức độ khác nhau. Ví dụ, các bệnh lây qua đường tình dục (LQĐTD) như AIDS, viêm gan B, viêm gan C…
Hầu hết, các bệnh do virut gây ra ở người và gia súc đã được nghiên cứu khá kĩ nhưng cũng có bệnh hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả như AIDS, SARS, sốt Ebola.
Sởi
H5N1
SARS
Virus gây bệnh sởi
Sởi (tiếng Anh: measles hay rubeola) là bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong nhi khoa
Sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuất hiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao.
Nguyên nhân gây bệnh là virus sởi. Đây là một loại virus ARN thuộc chi Morbilivirus nằm trong họ Paramyxoviridae. Hiện nay người ta chỉ phát hiện một týp huyết thanh virus sởi. Trong giai đoạn tiền triệu và một thời gian ngắn sau khi phát ban, virus sởi có thể được tìm thấy trong dịch tiết mũi hầu, máu và nước tiểu. Virus có thể hoạt động sau khi để 34 giờ ở nhiệt độ phòng.
Sởi là một bệnh cực kỳ dễ lây lan: trong gia đình nếu có một người bị bệnh thì có đến 90% những người chưa có miễn dịch sẽ bị nhiễm bệnh. Người bệnh phát tán virus mạnh nhất là vào giai đoạn tiền triệu (giai đoạn xuất tiết) thông qua các hạt nhỏ bắn ra khi ho, khi nói chuyện hoặc khi tiếp xú
Trẻ sơ sinh được mẹ truyền các kháng thể miễn dịch thông qua nhau thai. Lượng kháng thể có thể tồn tại từ 4 đến 6 tháng, do vậy trẻ ít khi mắc bệnh trong giai đoạn này. Tuy vậy, một số bằng chứng cho thấy kháng thể từ mẹ có thể bảo vệ trẻ đến tháng thứ 9 sau khi sinh. Đây là lý do tiêm chủng ngừa sởi thường được thực hiện trước 12 tháng
Virus gây bệnh viêm đường hô hấp cấp (Sars)
Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), là bệnh đường hô hấp gây viêm phổi không điển hình ở những người bị nhiễm.
Viêm phổi không điển hình gây sưng và suy yếu phế nang, làm giảm cung cấp máu tại chỗ cũng như ức chế vận chuyển oxy.
Mặc dù nguyên nhân chưa được xác định, song các nhà khoa học cho rằng bệnh do virut mới thuộc họ coronavirus gây ra
1. Virut đi vào cơ thể qua miệng, mũi và mắt.
2. Virut đến phế nang hay là các túi ở trong phổi
3. Khi bị tấn công, phế nang bị sưng lên và suy yếu, làm giảm cung cấp máu và vận chuyển oxy.
Virus H5N1
H5N1 là một phân nhóm có khả năng gây nhiễm cao của virus cúm gia cầm
Thông thường, những virus cúm này lan truyền trên thế giới bằng cách ký sinh ở tế bào ruột non của các loài chim di cư, khi đó chúng là những chủng H5N1 không gây chết. Tuy nhiên, những chủng virus này có thể bị đột biến và trở thành chủng cúm gia cầm có độc tính cao nhất từ trước đến giờ
Triệu chứng:
Ở người, triệu chứng cúm H5N1 lúc mới phát bệnh cũng giống cúm thông thường, gồm sốt, ho, đau họng, đau nhức cơ. Tuy nhiên, bệnh cúm H5N1 có thể diễn tiến nặng lên với viêm phổi và các triệu chứng hô hấp nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Hiếm gặp hơn, bệnh nhân cúm H5N1 có thể có triệu chứng viêm kết mạc[5], vốn không có ở những trường hợp cúm do virus H7.
Điều trị:
Các chất ức chế neuraminidase là loại thuốc tác động lên protein bảo tồn của tất cả các loại virus influenza A. Các thuốc loại này bao gồm zanamivir và oseltamivir, loại sau vừa được cấp chứng chỉ để dùng làm thuốc điều trị dự phòng ở Anh. Oseltamivir được hãng Roche thương mại hóa dưới tên gọi Tamiflu, và dòng thuốc này đã trở thành loại thuốc chọn lựa của các chính phủ và tổ chức để chuẩn bị cho khả năng đại dịch H5N1 xảy ra
Chào Tạm Biệt Các Bạn
Mọi thắc mắc về bài này xin vui lòng liên hệ:
Nhóm trưởng Cao Ngọc Hưng
Chuyên viên tư vấn Mai Trọng Nghĩa.
Địa chỉ:
Tel: (0651) 249 807 (gặp Hưng).
Hotline: (0651) 666 585 (24/24)
* Sau 24h mọi thắc mắc sẽ không được giải quyết.
Virut gây bệnh
Nhóm trưởng:
cao ngọc hưng
Nhóm 3 kính chào các bạn
I. Virut gây bệnh ở thực vật
Hiện nay người ta đã biết 600 – 1000 bệnh ở thực vật do virut gây ra.
Tế bào thực vật có thành xenlulôzơ nên rất bền vững, virut không thể tự chui qua thành tế bào mà phải chủ yếu nhờ vào vết tiêm chích của côn trùng hoặc các vết xước (do thiên tai hay cơ học)… Ví dụ sâu, rệp, bọ rẫy khi hút nhựa kèm theo cả virut. Cũng có trường hợp nhờ dây tơ hồng, hay virut truyền bệnh thông qua hạt giống, củ giống, cành chiết, mắt ghép, cỏ dại…
Virut di chuyển sang tế bào khác qua cầu sinh chất nối giữa các tế bào
Biện pháp: chọn giống cây sạch bệnh, vệ sinh đồng ruộng và tiêu diệt vật trung gian truyền bệnh.
Để phòng tránh virut ở thực vật thì người ta phải chọn giống cây sạch bệnh, luân canh cây trồng, thực hiện vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt các côn trùng truyền bệnh.
Triệu Chứng Của Cây Bị Nhiễm Virut : lá đốm vàng, đốm nâu, bị sọc hay vằn; lá bị xoăn hay héo….
Bọ rầy xanh
Bọ trĩ hại chanh
Bọ trĩ
Có khoảng 3000 loại, ký sinh hầu hết ở vi sinh vật nhân sơ (vi khuẩn, xạ khuẩn), hoặc nhân chuẩn (nấm men, nấm sợi).
Chúng thường có ADN xoắn kép và 90% là có đuôi. Phage được coi là mô hình về sự nhân lên của virut và ngày nay trở thành công cụ thuận lợi cho sự phát triển kĩ thuật gen.
Nhiều loài phage gây những tổn thất lớn cho nhiều ngành công nghiệp vi sinh như: mì chính, sinh khối, thuốc trừ sâu sinh học, thuốc kháng sinh.
II. Virut của vi sinh vật
Vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy
- Vật chủ: là sinh vật mà virut kí sinh và gây bệnh.
- Ổ chứa: là nơi mà virut tồn tại trước và sau khi gây nhiễm vào cơ thể khác.
- Thể bọc: là bọc prôtêin đặc biệt dạng tinh thể chứa virion.
- Khi côn trùng ăn lá chứa virut, chất kiềm trong ruột giữa côn trùng phân giải thể bọc, giải phóng virion. Virion xâm nhập vào tế bào ruột giữa hoặc theo dịch bạch huyết lan ra khắp cơ thể.
III.Virus gây bệnh ở côn trùng
Có thể chia làm 2 nhóm virut ở côn trùng:
- Nhóm virut chỉ kí sinh ở côn trùng: Người ta đã tìm thấy nhiều loại virut chỉ kí sinh ở côn trùng.
- Nhóm virut kí sinh ở côn trùng sau đó mới nhiễm vào người và động vật: Người ta đã phát hiện ra khoảng 150 loại virut kí sinh trên côn trùng. Truyền bệnh cho người và động vật. Những virut này thường sinh ra độc tố
Virus gây bệnh sốt xuất huyết:
Sốt xuất huyết là một bệnh nguy hiểm, gây ra do virus Dengue, có khả năng phát tán thành dịch do muỗi lây nhiễm. Sốt xuất huyết dễ gây tử vong cho người bệnh nếu không được điều trị kịp thời & đúng cách.
Virus Dengue truyền bệnh từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aedes đốt. Virus là loại ARN virus, có 4 típ huyết thanh, có những kháng nguyên rất giống nhau, có thể gây phản ứng chéo 1 phần sau khi bị nhiễm 1 trong 4 típ và có những kháng nguyên đặc hiệu cho riêng từng típ. Virus có ở trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt. Kháng nguyên virus Dengue được tìm thấy ở đại thực bào, phổi, lách, tuyến ức, tế bào Kuffer ở gan, tế bào monocyt ở máu ngoại biên.
Người bệnh nhiễm virus Dengue bị muỗi Aedes đốt mang virus rồi truyền cho người lành. Khi bị bệnh, cơ thể sẽ xuất hiện kháng thể lgM kháng Dengue tạm thời kéo dài 8 tuần và khi phát hiện kháng thể này trong huyết thanh chứng tỏ bệnh nhân đang bị nhiễm virus Dengue cấp tính hoặc vừa mới khỏi bệnh.
Mức độ nguy hiểm của sốt xuất huyết:
Virus Dengue xâm nhập vào cơ thể gây tổn thương các nội tạng bên trong cơ thể, có thể thấy như:
Tổn thương thành mao mạch
Phù các nội tạng
Tràn dịch màng bụng, màng phổi, màng tim
Xuất huyết dưới da & bên trong nội tạng
Tổn thương gan, thận
Nếu không được điều trị kịp thời & đúng cách, có thể dẫn đến tử vong.
Các biểu hiện của sốt xuất huyết:
Sau 5-7 ngày bị nhiễm virus do bị muỗi cắn, bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng chính sau:
Hiện tượng nhiễm trùng với sốt cao (trên 39oC), kéo dài liên tục nhiều ngày
Kèm theo tình trạng biếng ăn, hay khóc quấy do đau bụng, có thể có rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy hoặc táo bón.
Xuất huyết dưới da, các nốt đỏ không mất đi khi ấn vào. Thường thấy ở hai tay và lòng bàn chân
Chảy máu cam, chảy máu răng
Khóc nhiều, vật vả, ngủ không yên giấc
Có thể có co giật, lơ mơ
IV.Virus gây bệnh ở động vật và người
Đến nay người ta đã biết tới hơn 500 bệnh do virut gây ra ở người và động vật trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư, viêm não Nhật Bản, bệnh dại… Nhiều bệnh tưởng như không nguy hiểm lắm nhưng dễ lây lan thành dịch nên gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và sản xuất như đau mắt đỏ, sởi, quai bị, sốt xuất huyết…
Tuỳ từng loại virut gây bệnh mà chúng có cách lây nhiễm và gây tác hại với các mức độ khác nhau. Ví dụ, các bệnh lây qua đường tình dục (LQĐTD) như AIDS, viêm gan B, viêm gan C…
Hầu hết, các bệnh do virut gây ra ở người và gia súc đã được nghiên cứu khá kĩ nhưng cũng có bệnh hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả như AIDS, SARS, sốt Ebola.
Sởi
H5N1
SARS
Virus gây bệnh sởi
Sởi (tiếng Anh: measles hay rubeola) là bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong nhi khoa
Sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuất hiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao.
Nguyên nhân gây bệnh là virus sởi. Đây là một loại virus ARN thuộc chi Morbilivirus nằm trong họ Paramyxoviridae. Hiện nay người ta chỉ phát hiện một týp huyết thanh virus sởi. Trong giai đoạn tiền triệu và một thời gian ngắn sau khi phát ban, virus sởi có thể được tìm thấy trong dịch tiết mũi hầu, máu và nước tiểu. Virus có thể hoạt động sau khi để 34 giờ ở nhiệt độ phòng.
Sởi là một bệnh cực kỳ dễ lây lan: trong gia đình nếu có một người bị bệnh thì có đến 90% những người chưa có miễn dịch sẽ bị nhiễm bệnh. Người bệnh phát tán virus mạnh nhất là vào giai đoạn tiền triệu (giai đoạn xuất tiết) thông qua các hạt nhỏ bắn ra khi ho, khi nói chuyện hoặc khi tiếp xú
Trẻ sơ sinh được mẹ truyền các kháng thể miễn dịch thông qua nhau thai. Lượng kháng thể có thể tồn tại từ 4 đến 6 tháng, do vậy trẻ ít khi mắc bệnh trong giai đoạn này. Tuy vậy, một số bằng chứng cho thấy kháng thể từ mẹ có thể bảo vệ trẻ đến tháng thứ 9 sau khi sinh. Đây là lý do tiêm chủng ngừa sởi thường được thực hiện trước 12 tháng
Virus gây bệnh viêm đường hô hấp cấp (Sars)
Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), là bệnh đường hô hấp gây viêm phổi không điển hình ở những người bị nhiễm.
Viêm phổi không điển hình gây sưng và suy yếu phế nang, làm giảm cung cấp máu tại chỗ cũng như ức chế vận chuyển oxy.
Mặc dù nguyên nhân chưa được xác định, song các nhà khoa học cho rằng bệnh do virut mới thuộc họ coronavirus gây ra
1. Virut đi vào cơ thể qua miệng, mũi và mắt.
2. Virut đến phế nang hay là các túi ở trong phổi
3. Khi bị tấn công, phế nang bị sưng lên và suy yếu, làm giảm cung cấp máu và vận chuyển oxy.
Virus H5N1
H5N1 là một phân nhóm có khả năng gây nhiễm cao của virus cúm gia cầm
Thông thường, những virus cúm này lan truyền trên thế giới bằng cách ký sinh ở tế bào ruột non của các loài chim di cư, khi đó chúng là những chủng H5N1 không gây chết. Tuy nhiên, những chủng virus này có thể bị đột biến và trở thành chủng cúm gia cầm có độc tính cao nhất từ trước đến giờ
Triệu chứng:
Ở người, triệu chứng cúm H5N1 lúc mới phát bệnh cũng giống cúm thông thường, gồm sốt, ho, đau họng, đau nhức cơ. Tuy nhiên, bệnh cúm H5N1 có thể diễn tiến nặng lên với viêm phổi và các triệu chứng hô hấp nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Hiếm gặp hơn, bệnh nhân cúm H5N1 có thể có triệu chứng viêm kết mạc[5], vốn không có ở những trường hợp cúm do virus H7.
Điều trị:
Các chất ức chế neuraminidase là loại thuốc tác động lên protein bảo tồn của tất cả các loại virus influenza A. Các thuốc loại này bao gồm zanamivir và oseltamivir, loại sau vừa được cấp chứng chỉ để dùng làm thuốc điều trị dự phòng ở Anh. Oseltamivir được hãng Roche thương mại hóa dưới tên gọi Tamiflu, và dòng thuốc này đã trở thành loại thuốc chọn lựa của các chính phủ và tổ chức để chuẩn bị cho khả năng đại dịch H5N1 xảy ra
Chào Tạm Biệt Các Bạn
Mọi thắc mắc về bài này xin vui lòng liên hệ:
Nhóm trưởng Cao Ngọc Hưng
Chuyên viên tư vấn Mai Trọng Nghĩa.
Địa chỉ:
Tel: (0651) 249 807 (gặp Hưng).
Hotline: (0651) 666 585 (24/24)
* Sau 24h mọi thắc mắc sẽ không được giải quyết.
 








Các ý kiến mới nhất