Vũ trụ huyền bí

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Văn Toản (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:47' 03-04-2008
Dung lượng: 7.4 MB
Số lượt tải: 130
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Văn Toản (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:47' 03-04-2008
Dung lượng: 7.4 MB
Số lượt tải: 130
Số lượt thích:
0 người
Bí ẩn và đầy xa lạ, huyền bí đó chính là Vũ Trụ -- trong đó có Trái Đất -- nơi chúng ta đang sinh sống và hầu hết mọi sinh vật tồn tại để phát triển. Thông qua chương trình này Ban Biên Tập chúng tôi muốn gửi đến tất cả các bạn trẻ -- những ai muốn tìm hiểu và khám phá đến một thế giới đầy lôi cuốn như vậy. Chúng tôi hy vọng rằng qua chương trình này các bạn sẽ hiểu hơn về cái gọi là “huyền bí “ của Vũ Trụ.
Chương trình của chúng tôi bao gồm:
I. Một số hình ảnh về Dải Ngân Hà.
II. Những hành tinh của Thái Dương Hệ.
III.Giới thiệu về Hố Đen.
IV.Tìm hiểu về nguồn gốc Sao Băng, Sao Chổi.
Ngân Hà của chúng ta có hình xoắn ốc.
Dải Ngân Hà là thiên hà mà hệ mặt trời nằm trong đó.Trong văn học nó còn có
tên gọi là Sông Ngân.Nó xuất hiện trên bầu trời như một dải sáng trắng kéo dài
từ chòm sao Tiên Hậu về phía Bắc và chòm sao NamThập Tự về phía Nam.
Dải Ngân Hà sáng hơn về phía chòm sao Nhân Mã là chỗ trung tâm của dải
Ngân Hà.Một dữ kiện thực tế là dải Ngân Hà chia bầu trời thành hai phần xấp
xỉ bằng nhau chứng tỏ Hệ Mặt Trời nằm rất gần với mặt phẳng của Thiên Hà
này.Từ Ngân Hà có nguồn gốc từ tiếng Trung Hoa,và cũng được sử dụng tại
Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên.
Cấu trúc
Dải Ngân Hà là một thiên hà xoắn ốc có thanh ngang kiểu SBbc theo phân
loại Hubble (dạng thiên hà hình đĩa có các nhánh liên kết không chặt chẽ và có
phần gần trung tâm lồi hẳn lên) có khối lượng xấp xỉ 10^12 khối lượng của Mặt
Trời,có khoảng 200-400 tỉ ngôi sao(định tinh).Dải Ngân Hà có đường kính
khoảng 100.000 năm ánh sáng.Khoảng cách từ Mặt Trời đến trung tâm dải
Ngân Hà khoảng 27.700 năm ánh sáng.
Hố đen, hay lỗ đen, là một vùng trong không gian có trường hấp dẫn lớn đến mức lực hấp dẫn của nó không để cho bất cứ một dạng vật chất nào, kể cả ánh sáng thoát ra khỏi mặt biên của nó (chân trời sự kiện), trừ khả năng thất thoát vật chất khỏi lỗ đen nhờ hiệu ứng đường hầm lượng tử. Vật chất muốn thoát khỏi lỗ đen phải có vận tốc thoát lớn hơn vận tốc ánh sáng trong chân không, mà điều đó không thể xảy ra trong khuôn khổ của lý thuyết tương đối, ở đó vận tốc ánh sáng trong chân không là vận tốc giới hạn lớn nhất có thể đạt được của mọi dạng vật chất.
Sự suy sập của các ngôi sao sẽ tạo nên các hố đen có khối lượng ít nhất gấp ba lần khối lượng Mặt Trời. Các hố đen nhỏ hơn giới hạn này chỉ có thể được hình thành nếu vật chất chịu tác động của các áp lực khác ngoài lực hấp dẫn của chính ngôi sao. Áp lực vô cùng lớn cần thiết để có thể gây ra điều này có thể tồn tại vào những giai đoạn rất sớm của vũ trụ, có thể đã tạo nên các hố đen nguyên thủy có khối lượng nhỏ hơn nhiều lần khối lượng Mặt Trời.
Thật ra mà nói, sao chổi không thể gọi là sao vì nó chỉ là một khối lớn khí lạnh trong đó chứa đầy các mảnh vụn và bụi vũ trụ.
Những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra trong sao chổi còn có các nguyên tử ôxy, natri; các nhóm phân tử cacbonic, xyanogen (CN)2, amoniac (NH3), các hợp chất nitril, xyanua, v.v..; các ion C2+, N2+, CN2+, CO+,CO2+… Nhưng chúng ta không thể không coi sao chổi cũng là một loại thiên thể.
Phần lớn các sao chổi đều quay quanh mặt trời theo các quỹ đạo hình elip dẹt, người ta gọi chúng là loại sao chổi chu kỳ. Cứ cách một thời gian nhất định chúng lại vận hành tới quỹ đạo tương đối gần mặt trời và trái đất nên chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy chúng.
Chu kỳ quay quanh mặt trời của các sao chổi rất khác nhau. Sao chổi Encke có chu kỳ ngắn nhất là 3,3 năm, tức là cứ cách 3,3 năm ta lại nhìn thấy nó một lần. Từ năm 1786, phát hiện ra sao chổi Encke đến nay, nó đã xuất hiện 50 lần. Có những sao chổi có chu kỳ quay dài hơn. Mấy chục, thậm chí mấy trăm năm mới nhìn thấy chúng một lần. Có những sao chổi có chu kỳ quay dài tới mấy vạn năm, thậm chí lâu hơn nữa. Những sao chổi đó giống như “khách qua đường” xuất hiện một lần rồi không biết đến chân trời góc biển nào nữa. Sao chổi sáng rực Hyakutate, được nhìn thấy từ trái đất năm 1996, có chu kỳ ước khoảng 10.000 năm.
Sao băng, hay sao sa, là đường nhìn thấy của các thiên thạch và vẫn thạch khi chúng đi vào khí quyển Trái Đất (hoặc của các thiên thể khác có bầu khí quyển). Trên Trái Đất, việc nhìn thấy đường chuyển động của các thiên thạch này là do nhiệt phát sinh ra bởi áp suất nén khi chúng đi vào khí quyển. (Lưu ý là rất nhiều người cho rằng đó là do ma sát, tuy nhiên ma sát ở các tầng cao của khí quyển là không đủ lớn để có thể làm nóng thiên thạch đến mức phát sáng, do mật độ không khí ở đây rất loãng). Khi thiên thạch chuyển động với vận tốc siêu thanh, nó sinh ra các sóng xung kích (shock wave) do nó "va chạm" với các "hạt" của khí quyển và nén chúng nhanh hơn so với chúng có thể dãn ra khỏi đường chuyển động của thiên thạch. Với vận tốc cao như vậy, các phân tử không khí trên đường đi của thiên thạch bị nung nóng bởi sóng xung kích, hoặc bị nén quá mạnh đến mức nhiệt độ của sóng xung kích tăng lên đến hàng ngàn độ và làm cho các thành phần vật chất của thiên thạch bị nung đến nóng sáng. Những sao băng sáng, thậm chí sáng hơn cả độ sáng biểu kiến của Kim Tinh, đôi khi được gọi là quả cầu lửa.
Có rất ít thiên thạch có khả năng rơi xuống đến tận mặt đất, do phần lớn chúng có kích thước và khối lượng nhỏ nên đã đã bị thiêu cháy hết trên đường đi xuống mặt đất hoặc đơn giản là chúng chỉ xẹt ngang qua bầu khí quyển của Trái Đất rồi lại tiếp tục hành trình của mình trong không gian do chúng có vận tốc đủ lớn để không bị rơi xuống Trái Đất.
Những thiên thạch có khối lượng đủ lớn để rơi được xuống mặt đất thường tạo ra những hố lòng chảo sâu hoắm.
Các loại vật chất trên mặt đất khi bị va chạm với các thiên thạch (nếu chúng có đủ năng lượng cần thiết) bị nóng chảy và sau đó đông đặc lại tạo ra các vật thể được biết đến như là tectit.
Chương trình của chúng tôi bao gồm:
I. Một số hình ảnh về Dải Ngân Hà.
II. Những hành tinh của Thái Dương Hệ.
III.Giới thiệu về Hố Đen.
IV.Tìm hiểu về nguồn gốc Sao Băng, Sao Chổi.
Ngân Hà của chúng ta có hình xoắn ốc.
Dải Ngân Hà là thiên hà mà hệ mặt trời nằm trong đó.Trong văn học nó còn có
tên gọi là Sông Ngân.Nó xuất hiện trên bầu trời như một dải sáng trắng kéo dài
từ chòm sao Tiên Hậu về phía Bắc và chòm sao NamThập Tự về phía Nam.
Dải Ngân Hà sáng hơn về phía chòm sao Nhân Mã là chỗ trung tâm của dải
Ngân Hà.Một dữ kiện thực tế là dải Ngân Hà chia bầu trời thành hai phần xấp
xỉ bằng nhau chứng tỏ Hệ Mặt Trời nằm rất gần với mặt phẳng của Thiên Hà
này.Từ Ngân Hà có nguồn gốc từ tiếng Trung Hoa,và cũng được sử dụng tại
Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên.
Cấu trúc
Dải Ngân Hà là một thiên hà xoắn ốc có thanh ngang kiểu SBbc theo phân
loại Hubble (dạng thiên hà hình đĩa có các nhánh liên kết không chặt chẽ và có
phần gần trung tâm lồi hẳn lên) có khối lượng xấp xỉ 10^12 khối lượng của Mặt
Trời,có khoảng 200-400 tỉ ngôi sao(định tinh).Dải Ngân Hà có đường kính
khoảng 100.000 năm ánh sáng.Khoảng cách từ Mặt Trời đến trung tâm dải
Ngân Hà khoảng 27.700 năm ánh sáng.
Hố đen, hay lỗ đen, là một vùng trong không gian có trường hấp dẫn lớn đến mức lực hấp dẫn của nó không để cho bất cứ một dạng vật chất nào, kể cả ánh sáng thoát ra khỏi mặt biên của nó (chân trời sự kiện), trừ khả năng thất thoát vật chất khỏi lỗ đen nhờ hiệu ứng đường hầm lượng tử. Vật chất muốn thoát khỏi lỗ đen phải có vận tốc thoát lớn hơn vận tốc ánh sáng trong chân không, mà điều đó không thể xảy ra trong khuôn khổ của lý thuyết tương đối, ở đó vận tốc ánh sáng trong chân không là vận tốc giới hạn lớn nhất có thể đạt được của mọi dạng vật chất.
Sự suy sập của các ngôi sao sẽ tạo nên các hố đen có khối lượng ít nhất gấp ba lần khối lượng Mặt Trời. Các hố đen nhỏ hơn giới hạn này chỉ có thể được hình thành nếu vật chất chịu tác động của các áp lực khác ngoài lực hấp dẫn của chính ngôi sao. Áp lực vô cùng lớn cần thiết để có thể gây ra điều này có thể tồn tại vào những giai đoạn rất sớm của vũ trụ, có thể đã tạo nên các hố đen nguyên thủy có khối lượng nhỏ hơn nhiều lần khối lượng Mặt Trời.
Thật ra mà nói, sao chổi không thể gọi là sao vì nó chỉ là một khối lớn khí lạnh trong đó chứa đầy các mảnh vụn và bụi vũ trụ.
Những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra trong sao chổi còn có các nguyên tử ôxy, natri; các nhóm phân tử cacbonic, xyanogen (CN)2, amoniac (NH3), các hợp chất nitril, xyanua, v.v..; các ion C2+, N2+, CN2+, CO+,CO2+… Nhưng chúng ta không thể không coi sao chổi cũng là một loại thiên thể.
Phần lớn các sao chổi đều quay quanh mặt trời theo các quỹ đạo hình elip dẹt, người ta gọi chúng là loại sao chổi chu kỳ. Cứ cách một thời gian nhất định chúng lại vận hành tới quỹ đạo tương đối gần mặt trời và trái đất nên chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy chúng.
Chu kỳ quay quanh mặt trời của các sao chổi rất khác nhau. Sao chổi Encke có chu kỳ ngắn nhất là 3,3 năm, tức là cứ cách 3,3 năm ta lại nhìn thấy nó một lần. Từ năm 1786, phát hiện ra sao chổi Encke đến nay, nó đã xuất hiện 50 lần. Có những sao chổi có chu kỳ quay dài hơn. Mấy chục, thậm chí mấy trăm năm mới nhìn thấy chúng một lần. Có những sao chổi có chu kỳ quay dài tới mấy vạn năm, thậm chí lâu hơn nữa. Những sao chổi đó giống như “khách qua đường” xuất hiện một lần rồi không biết đến chân trời góc biển nào nữa. Sao chổi sáng rực Hyakutate, được nhìn thấy từ trái đất năm 1996, có chu kỳ ước khoảng 10.000 năm.
Sao băng, hay sao sa, là đường nhìn thấy của các thiên thạch và vẫn thạch khi chúng đi vào khí quyển Trái Đất (hoặc của các thiên thể khác có bầu khí quyển). Trên Trái Đất, việc nhìn thấy đường chuyển động của các thiên thạch này là do nhiệt phát sinh ra bởi áp suất nén khi chúng đi vào khí quyển. (Lưu ý là rất nhiều người cho rằng đó là do ma sát, tuy nhiên ma sát ở các tầng cao của khí quyển là không đủ lớn để có thể làm nóng thiên thạch đến mức phát sáng, do mật độ không khí ở đây rất loãng). Khi thiên thạch chuyển động với vận tốc siêu thanh, nó sinh ra các sóng xung kích (shock wave) do nó "va chạm" với các "hạt" của khí quyển và nén chúng nhanh hơn so với chúng có thể dãn ra khỏi đường chuyển động của thiên thạch. Với vận tốc cao như vậy, các phân tử không khí trên đường đi của thiên thạch bị nung nóng bởi sóng xung kích, hoặc bị nén quá mạnh đến mức nhiệt độ của sóng xung kích tăng lên đến hàng ngàn độ và làm cho các thành phần vật chất của thiên thạch bị nung đến nóng sáng. Những sao băng sáng, thậm chí sáng hơn cả độ sáng biểu kiến của Kim Tinh, đôi khi được gọi là quả cầu lửa.
Có rất ít thiên thạch có khả năng rơi xuống đến tận mặt đất, do phần lớn chúng có kích thước và khối lượng nhỏ nên đã đã bị thiêu cháy hết trên đường đi xuống mặt đất hoặc đơn giản là chúng chỉ xẹt ngang qua bầu khí quyển của Trái Đất rồi lại tiếp tục hành trình của mình trong không gian do chúng có vận tốc đủ lớn để không bị rơi xuống Trái Đất.
Những thiên thạch có khối lượng đủ lớn để rơi được xuống mặt đất thường tạo ra những hố lòng chảo sâu hoắm.
Các loại vật chất trên mặt đất khi bị va chạm với các thiên thạch (nếu chúng có đủ năng lượng cần thiết) bị nóng chảy và sau đó đông đặc lại tạo ra các vật thể được biết đến như là tectit.
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Bạn bảo rằng sao Diêm vương không còn là một hành tinh thuộc thái duơng hệ vì nhiềulý do. Vậy bạn có thể cho mình biết một trong nhiềulý do đó không? Cảm ơn.
Sao Diêm Vương bay quanh Mặt Trời ở khoảng cách từ 29 đến 49 AU và là thiên thể vành đai Kuiper (KBOs) được khám phá ra đầu tiên. Sao Diêm Vương nặng khoảng một phần năm khối lượng của Mặt Trăng, nó thật sự nhỏ hơn một vài vệ tinh tự nhiên của các hành tinh trong hệ Mặt Trời. Thành phần chính của Sao Diêm Vương là đá và băng. Nó có một quỹ đạo với độ lệch tâm cao và độ nghiêng lớn so mặt phẳng hoàng đạo nên quỹ đạo của Sao Diêm Vương khác nhiều so với quỹ đạo của các hành tinh trong hệ Mặt Trời. Ở điểm cận nhật Sao Diêm Vương còn gần Mặt Trời hơn Sao Hải Vương. Sao Diêm Vương là thiên thể rất mờ trên bầu trời, độ sáng của nó ở khoảng 13-16m.
Sao Diêm Vương và vệ tinh tự nhiên lớn nhất của nó, Charon, được coi là hệ đôi, trong trường hợp này là hành tinh đôi (hay "hành tinh đôi lùn" theo việc định nghĩa mới về hành tinh), do hai thiên thể này lớn tương xứng với nhau nhất so với các hành tinh đôi khác đã biết đến trong hệ Mặt Trời, và vì khối tâm quỹ đạo của chúng không nằm bên trong lòng một trong hai thiên thể này.
Sao Diêm Vương được coi là hành tinh nhỏ nhất trong Thái Dương Hệ từ khi nó được phát hiện. Các cuộc tranh cãi trong mấy năm gần đây về việc Sao Diêm Vương có được gọi là hành tinh hay không đã ngã ngũ kể từ ngày 24 tháng 8 năm 2006. Theo định nghĩa năm 2006 về hành tinh của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế thì Sao Diêm Vương hiện được coi là một hành tinh lùn trong Hệ Mặt Trời và là hành tinh lùn mẫu để xếp vào một họ thiên thể hiện được đề nghị gọi tên là nhóm thiên thể ngoài sao Hải Vương (Trans-Neptunian objects). Sau khi được tái phân loại, Sao Diêm Vương được thêm vào danh sách tiểu hành tinh và được gọi theo số 134340.
Bản thân Sao Diêm Vương có một vệ tinh lớn tên là Charon; hai vệ tinh nhỏ có tên là Nix và Hydra đã được phát hiện vào năm 2005. Tàu New Horizons đã được phóng lên từ mũi Canaveral, Florida vào ngày 19 tháng 1 năm 2006 và đang được mong đợi trở thành con tàu đầu tiên bay ngang qua Pluto vào ngày 14 tháng 7 năm 2015.
Kích thước và khối lượng
Sao Diêm Vương không những nhỏ hơn tất cả các hành tinh khác trong Thái Dương Hệ mà còn nhỏ hơn các vệ tinh sau đây: Ganymede, Titan, Callisto, Io, Mặt Trăng, Europa và Triton. Trong khi đó, Sao Diêm Vương lại lớn hơn tất cả các tiểu hành tinh của vòng đai chính, giữa Sao Hoả và Sao Mộc, hay của vòng đai Kuiper. Điều này làm cho các nhà khoa học tin rằng Sao Diêm Vương không phải là một hành tinh chính thức mà thuộc một loại thiên thể nhiều người gọi là plutino – loại hành tinh nhỏ giống Pluto.
Khối lượng của Sao Diêm Vương không được biết hàng chục năm sau khi nó được khám phá. Sự khám phá của vệ tinh Charon đã giúp các nhà khoa học tính được khối lượng của Sao Diêm Vương, dùng một công thức của Isaac Newton dựa vào các định luật của Johannes Kepler.
Theo http://vi.wikipedia.org