Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Xây dựng câu hỏi đề KT Công nghệ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: tai lieu tap huan cua SGD Binh Dinh
Người gửi: Phan Van Xu (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:14' 19-08-2012
Dung lượng: 137.5 KB
Số lượt tải: 61
Số lượt thích: 0 người
XÂY DỰNG CÂU HỎI TRONG ĐỀ KT
Mức độ nhận biết
Nhận biết là học sinh nhớ các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu
- Các hoạt động tương ứng với cấp độ nhận biết là: nhận dạng, đối chiếu, chỉ ra…
- Các động từ tương ứng với cấp độ nhận biết có thể là: xác định, đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên, giới thiệu, chỉ ra,…
Mức độ thông hiểu
HS hiểu các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách GV đã giảng hoặc như các ví dụ tiêu biểu về chúng trên lớp học.
Các hoạt động tương ứng với cấp độ thông hiểu là: diễn giải, tổng kết, kể lại, viết lại, lấy được ví dụ theo cách hiểu của mình…
Các động từ tương ứng với cấp độ thông hiểu có thể là: tóm tắt, giải thích, diễn dịch, mô tả, so sánh (đơn giản), phân biệt, đối chiếu, trình bày lại, viết lại, minh họa, hình dung, chứng tỏ, chuyển đổi…
Vận dụng ở cấp độ thấp
HS có thể hiểu được khái niệm ở một cấp độ cao hơn “thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đã được trình bày giống với bài giảng của GV hoặc trong sách giáo khoa.
Các hoạt động tương ứng với vận dụng ở cấp độ thấp là: xây dựng mô hình, trình bày, tiến hành thí nghiệm, phân loại, áp dụng quy tắc (định lí, định luật, mệnh đề…), sắm vai và đảo vai trò, …
Các động từ tương ứng với vận dụng ở cấp độ thấp có thể là: thực hiện, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, bày tỏ, áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính, vận hành…
Vận dụng ở cấp độ cao
HS có thể sử dụng các khái niệm về môn học - chủ đề để giải quyết các vấn đề mới, không giống với những điều đã được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng và kiến thức được giảng dạy ở mức độ nhận thức này. Đây là những vấn đề giống với các tình huống học sinh sẽ gặp phải ngoài xã hội.
Ở cấp độ này có thể hiểu nó tổng hòa cả 3 cấp độ nhận thức là Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá theo bảng phân loại các cấp độ nhận thức của Bloom.
Các hoạt động tương ứng với vận dụng ở cấp độ cao là: thiết kế, đặt kế hoạch hoặc sáng tác; biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận; tạo ra sản phẩm mới…
Mục tiêu của việc xây dựng câu hỏi

Viết câu hỏi nhằm định nghĩa một thước đo ngầm để đo lượng kiến thức/thái độ đối với một mục tiêu cụ thể.
Viết các câu hỏi để đo những cấp độ khác nhau của khả năng dọc theo cột biến đơn.
Việc phân bố các câu hỏi cần phù hợp với việc phân bổ khả năng của học sinh được dự đoán.
Câu hỏi ghép đôi
Ưu điểm
Rất phù hợp cho việc kiểm tra mối liên hệ và các thông tin thực tế
Nhược điểm
Rất khó nếu chỉ giảng bằng lời
Cách tiếp cận theo cụm câu hỏi có thể làm mất đi tính độc lập của từng câu hỏi.
Câu hỏi nhiều lựa chọn

Ưu điểm:
Hạn chế được việc học sinh chỉ đoán để trả lời
Hạn chế các vấn đề có liên quan đến việc chấm điểm theo chủ quan
Dễ dàng chấm điểm
Nhược điểm:
Rất khó để viết được những phương án nhiễu trông có vẻ đúng
Kiểm tra học sinh liên quan đến những tiêu chí không cố định/hoặc đánh giá chủ quan rất khó khăn.
Câu hỏi điền khuyết

Ưu điểm
Dễ dàng viết câu hỏi
Một công cụ đánh giá tốt về kiến thức diễn đạt học sinh
Là hình thức kiểm tra tốt về việc học sinh đã hiểu được một đoạn văn
Nhược điểm:
Có thể gây khó hiểu hoặc tối nghĩa đối với học sinh
Học sinh có thể đoán để trả lời
Câu trả lời ngắn

Ưu điểm:
Rất tốt để kiểm tra các kiến thức thực tế
Giảm tỷ lệ phần trăm đoán các câu trả lời đúng
Dễ dàng viết câu hỏi và chấm điểm
Nhược điểm:
Không phù hợp để đánh giá những kiến thức phức tạp
Học sinh dễ trả lời sai/lạc đề
Câu trả lời dài

Ưu điểm
Cho phép kiểm tra các kỹ năng ở cấp độ cao
Khuyến khích các suy nghĩ sáng tạo và phản biện
Có thể đánh giá việc học tập trong những nhóm bị tác động
Nhược điểm
Tốn thời gian
Khó chấm điểm
Khó đảm bảo được độ tin cậy giữa những người chấm khác nhau
Quy trình viết câu hỏi

* Dự thảo
Họp hội đồng thẩm định
Thí điểm
Làm việc nhóm chuyên gia/ Hội đồng thẩm định
Thực hiện/Tổ chức cho học sinh kiểm tra
Lưu trữ
Dự thảo câu hỏi

Thu thập các tài liệu nguồn
Kiểm tra quyền tác giả của các tài liệu và xin phép sử dụng nếu cần thiết
Phân chia tiêu chí kỹ thuật đề kiểm tra
Phân bố việc hướng dẫn viết câu hỏi
Thảo luận
Tiêu chí kỹ thuật đề kiểm tra,
Những tham số ảnh hưởng đến đề kiểm tra
Nhóm đối tượng kiểm tra
Rà soát các đề kiểm tra trước đó
Xác định những câu hỏi mẫu và các dạng câu hỏi
Dự thảo câu hỏi sử dụng cấu trúc của câu hỏi
Viết câu hỏi

* Dùng từ để hỏi trong câu dẫn
Viết những câu hỏi dạng khẳng định
Diễn đạt nhiệm vụ rõ ràng
Sử dụng những từ ngữ có nghĩa rõ ràng
Sử dụng những câu đơn giản
Đảm bảo rằng những đáp án đúng thực sự đúng
Viết câu hỏi

Kiểm tra lỗi ngữ pháp
Các phương án nhiễu cần có vẻ đúng
Không sử dụng “ Không có phương án nào”
Sắp xếp đề kiểm tra sao cho các phương án lựa chọn ( a,b,c,d đối với câu hỏi trắc nghiệm) được sắp xếp ngẫu nhiên.
Phù hợp với khả năng của đối tượng học sinh được kiểm tra.
Hướng dẫn cho người viết câu hỏi 1

* Các câu hỏi cần hướng tới phạm vi năng lực của nhóm học sinh được kiểm tra.
Các câu hỏi cần bao phủ một phạm vi nội dung nhất định.
Các lựa chọn câu trả lời cần thống nhất với nhau về cấu trúc câu cũng như ngữ pháp, tránh đưa ra những gợi ý cho học sinh thông qua cấu trúc câu hay cách dùng từ.
Các phương án nhiễu đưa ra phải gần đúng với đáp án chính xác và cũng phải đồng đẳng với nhau.
Đưa ra một vấn đề duy nhất trong mỗi câu hỏi: đảm bảo rằng câu dẫn mang tính chất định hướng cho suy nghĩ của học sinh
Hướng dẫn cho người viết câu hỏi 1

Đưa ra một vấn đề duy nhất trong mỗi câu hỏi: đảm bảo rằng câu dẫn mang tính chất định hướng cho suy nghĩ của học sinh
Cần có một câu trả lời đúng hoặc một số các phương án lựa chọn minh họa cách tiếp cận ngày càng phức tạp hơn đối với vấn đề đưa ra trong câu hỏi.
Tránh lạm dụng dùng từ phủ định
Không sử dụng những câu hỏi “đánh lừa” học sinh
Hướng dẫn cho người viết câu hỏi 2

* Không bao giờ sử dụng “Không có phương án nào ở trên” hay “tất cả các phương án trên” hoặc “Tôi không biết”.
Tránh những câu hỏi liên quan đến thực tế hiển nhiên
Đảm bảo nội dung câu hỏi phù hợp với nhóm đối tượng kiểm tra.
Các phương án nhiễu cần dựa trên những lỗi sai thông thường của học sinh.
Sử dụng số lượng các lựa chọn ở hai bên khác nhau trong câu hỏi ghép đôi để tránh việc học sinh chỉ phỏng đoán.
Không kiểm tra những quan điểm, ý kiến.
Hướng dẫn cho người viết câu hỏi 2

Sử dụng ngôn ngữ đơn giản.
Không nên bỏ trống quá nhiều thông tin trong câu hỏi điền khuyết.
Sự phức tạp về ngôn ngữ cần phù hợp với nội dung đang được kiểm tra.
Câu hỏi không được thể hiện định kiến giới, dân tộc, vùng nông thôn, địa vị kinh tế xã hội…
Các câu hỏi cần tập trung vào một vấn đề cụ thể.
Những lỗi sai phổ biến 1


Các câu hỏi không phù hợp với trình độ của học sinh
Các câu hỏi diễn đạt không chính xác về mặt ngôn ngữ.
Đưa ra những gợi ý cho học sinh thông qua sử dụng cú pháp hoặc từ ngữ liên quan.
Những phương án nhiễu không gần với đáp án và không đồng đẳng với nhau.
Câu hỏi không đưa ra một vấn đề duy nhất
Các câu dẫn không định hướng cho tư duy của học sinh
Những lỗi sai phổ biến 2


Không chỉ có 1 đáp án trả lời đúng.
Sử dụng ngôn ngữ phủ định
Sử dụng những câu hỏi “đánh lừa” học sinh.
Sử dụng “Không có phương án nào”, “tất cả các phương án” hoặc “tôi không biết”.
Câu hỏi dựa trên những thực tế hiển nhiên.
Nội dung không phù hợp với tất cả mọi người
Những lỗi sai phổ biến 3


Kiểm tra ý kiến trong những câu hỏi để đánh giá kiến thức đã học được của học sinh.
Sự phức tạp của ngôn ngữ không phù hợp với nội dung.
Thể hiện định kiến
Phương án nhiễu không hợp lý
Phương án nhiễu cho phép học sinh đoán được câu trả lời.
 
Gửi ý kiến