Bài 2. Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thanh Huy
Ngày gửi: 10h:01' 08-04-2010
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 39
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thanh Huy
Ngày gửi: 10h:01' 08-04-2010
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích:
0 người
Môn:
Địa Lý Kinh Tế - Xã Hội Thế Giới
Gv hướng dẫn: Hoàng Thị Diệu Huyền
Sv thực hiện : Đặng Thị Thanh Nga
Quách Văn Dũng
Lớp : 05CDL1
BÀI TẬP GIỮA KÌ
Phần I
XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA
Nội dung
1.Khái niệm và đặc điểm của toàn cầu hóa
2.Quan niệm và quá trình lịch sử của toàn cầu hóa
3.Những biểu hiện của xu hướng toàn cầu hóa
4.Các tác động của xu hướng toàn cầu hóa
5.Hệ quả toàn cầu hóa kinh tế ở Việt Nam
1.Khái niệm và đặc điểm toàn cầu hóa
1.1. Khái niệm
Gia tăng tương tác, gia tăng sự hội nhập của những hệ thống kinh tế quốc gia mậu dịch quốc tế, đầu tư và lưu chuyển dòng tư bản Gia tăng trao đổi về kỹ thuật, văn hóa và xã hội vượt khỏi biên giới quốc gia.
Toàn cầu hóa là hiện tượng trong đó các quan hệ xã hội được mở rộng trên toàn thế giới, loại trừ dần tình trạng khép kín, biệt lập giữa các quốc gia, đưa đến sự chuyển hoá lẫn nhau trong môi trường quốc tế mà ở đó mỗi nước đều có những vị trí nhất định trong quá trình hình thành, xác lập những quan hệ và ứng xử cộng đồng, những tiêu chí và luật lệ, cơ chế và trật tự cộng đồng.
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam
Toàn cầu hóa là hiện tượng trong đó các quan hệ xã hội được mở rộng trên toàn thế giới, loại trừ dần tình trạng khép kín, biệt lập giữa các quốc gia, đưa đến sự chuyển hoá lẫn nhau trong môi trường quốc tế mà ở đó mỗi nước đều có những vị trí nhất định trong quá trình hình thành, xác lập những quan hệ và ứng xử cộng đồng, những tiêu chí và luật lệ, cơ chế và trật tự cộng đồng.
Theo tổ chức OECD : Toàn cầu hóa là một quá trình trong đó thị trường và sản phẩm ở cac quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhaunhờ sự trao đổi năng động về hàng hóa, dịch vụ, tài chính và công nghệ
Theo Mc Buhan(1964) : Toàn cầu hóa là một quá trình rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, làm cho con người ngày càng thấy mình sống trong một thế giới giống nhau như một nơi chốn duy nhất
1.2 Đặc điểm
Toàn cầu hóa diễn ra trong sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia với nhau và lợi ích chung toàn thế giới
Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, cách mạng công nghệ thông tin, cách mạng sinh học đặc biệt là sự bùng nổ của cách mạng tin học
Sự phát triển của kinh tế thị trường hiện đại thúc đẩy tự do hóa kinh tế và sự thâm nhập kinh tế giữa các nước
Vai trò quan trọng của Nhà nước và sự điều phối của các tổ chức kinh tế thế giới trong tiến trình toàn cầu hóa
2.Quan niệm và lịch sử của quá trình toàn cầu hóa
Đa số các ý kiến cho rằng, toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng mớ, trước khi bước vào thời kỳ hiện đại “Toàn cầu hóa mới” được bắt đầu vào cuối thế kỉ XX, loài người đã chứng kiến bốn lần có hiện tượng “Toàn cầu hóa
Lần thứ nhất vào cuối thế kỉ XIX, sau khi Cristop Columbo tìm ra Châu Mỹ, Châu Âu khai hóa thế giới, theo đó tư bản tích lũy từ Anh trở thành bá chủ toàn cầu.
Lần thứ hai vào nữa cuối thế kỉ XIX đến năm 1914,khi người Châu Âu chinh phục Châu Á.
Lần thứ ba kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1970
Lần thứ tư từ thập niên 80 đến nay, còn gọi là “Toàn cầu hóa hiện đại”
Toàn cầu hóa là xu hướng phát triển kinh tế xã hội mang tính tất yếu, có ảnh hưởng tác động ngày càng mạnh mẽ tới hầu hết các lĩnh vực của con người trên bình diện thế giới.Tuy nhiên, do thời gian tiến hành công nghiệp hóa, các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội,thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia không giống nhau nên mức độ tham gia, hưởng lợi cũng khác nhau.
3.Những biểu hiện của xu hướng toàn cầu hóa
Sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, các công ty xuyên quốc gia ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế các quốc gia và quốc tế.
vd: Công ty sản xuất máy bay Boing là tập hợp của 650 công ty thành viên đặt ở nhiều quốc gia
Các công ty xuyên quốc gia ngày càng có vai trò trong nền kinh tế mỗi quốc gia và toàn thế giới
Vd: Thế gới có trên 60000 công ty với 500000 chi nhánh, chiếm 30% GDP thế giới, hơn 75% chuyển giao công nghệ, khoa học kĩ thuật.
Ngày càng nhiều các tổ chức hợp tác kinh tế - xã hội, môi trường thế giới và khu vực được thành lập và hoạt động có hiệu quả
Vd: Tổ chức Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương Mại Thế Giới, Hiệp Định Chung Về Thuế Quan Và Mậu Dịch-, Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp Của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Y Tế Thế Giới ….
Đầu tư nước ngoài tăng nhanh : từ 1990 đến 2004 tăng từ 1774 tỷ USD lên 8895 tỷ USD, nổi bật nhất là lĩnh vực dịch vụ
Di dân và xuất khẩu lao động, vấn đề về lao động nhập cư…
Các chính sách, các qui chế điều chế hoạt động kinh tế, thương mại các quốc gia tiến tới chuẩn mực chung của thế giới.
Vd:40% nguyên liệu dầu lửa của Hoa Kỳ;70% nguồn nguyên liệu dầu lửa của EU và 80% nguồn nguyên liệu dầu lửa của Nhật Bản nhập từ các nước Trung Cận Đông…
Ngược lại các nước đang phát triển cũng bị phụ thuộc vào vốn, khoa học công nghệ, máy móc, thiết bị và thi trường các nước phát triển
4. Các tác động
Khía cạnh kinh tế, văn hoá, xã hội, ngôn ngữ & chính trị
*Kinh tế
- Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực về tay các tổ chức đa phương như WTO
- “Chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ dàng hơn nạn "săn đầu người“
Sự phân hoá rõ nét giữa các nước giàu và nghèo, giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa từng khu vực riêng biệt trong một đất nước.
*Văn hoá, xã hội và ngôn ngữ
-Sự đa dạng khi tiếp xúc với các nền văn hoá và văn minh khác nhau.
-Sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương mại và văn hoá mạnh.
*Chính trị
Tăng các mối quan hệ giữa các công dân trên thế giới và tạo ra cơ hội cho từng người
*Tích cực
-Mở rộng sản xuất hiệu quả kinh tế theo quy mô
-Tiếp cận và khai thác các nguồn lực
-Tạo khả năng hạ thấp giá cả
-Tăng trưởng kinh tế
-Giải quyết công ăn việc làm
-…
*Tiêu cực
-Tăng khả năng thất nghiệp ở các nước đã phát triển
-Giảm tiền lương thực tế của lao động không có kỹ năng
-Không an toàn trong công việc
-Né tránh sự kiểm soát của chính phủ
-Mất tự chủ quốc gia
-Tàn phá môi trường
-Bất công, bất bình dẳng của các quốc gia
-Khủng hoảng toàn cầu, đạo đức…
- Làm mai một, xói mòn bản sắc gia trị truyền thống văn hóa địa phương
- Thông qua WTO các nước phát triển không sẵn lòng tiêu thụ hàng hóa của các nước đang phát triển với các điều kiện cao đã làm rào cản với các nước đang phát triển
- Các nước đang phát triển phải nhập thiết bị công nghệ giá cao nên dẫn đến thâm hụt ngoại thương cao
- Các nước đang phát triển trong qua trình đón nhận vốn viện trợ, đầu tư hợp tác thiếu kinh nghiệm dẫn đến nợ nước ngoài ngày càng gia tăng
5. Xu hướng toàn cầu hóa ở Việt Nam
5.1 Cơ hội
- Ngày 6/11/2006 thông qua hội nghị bất thường là thành viên của WTO
Ngày 11/01/2007 Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên thứ 151 của WTO
Việt Nam có lợi thế bình đẳng như các thành viên khác có lợi thế cạnh tranh
Thúc đẩy qua trình cải cách trong nước
=>Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
- Sân chơi toàn cầu hóa: cơ hội và điều kiện để thực hiện chiến lược của nền kinh tế theo hướng xuất khẩu; mở rộng thị trường thế giới cho doanh nghiệp Việt Nam, thu hút FDI
- Nền kinh tế mở
Thị trường nguyên liệu, vật liệu
Thị trường vốn, thị trường tài chánh, tiền tệ
Thị trường công nghệ
Thị trường lao động chất lượng cao
- Môi trường kinh tế vĩ mô trong nước được cải thiện
thích nghi “sân chơi” toàn cầu
Hệ thống pháp luật
Quản lý hành chính Nhà nước
Hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
5.2 Thách thức
- Cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn.
Việt Nam hạng 77/125 (năm 2005 hạng 74). Nếu so sánh với 12 nước Đông Á (cộng Ấn Độ) thì nước ta xếp thứ 12/12)
Năng suất lao động rất thấp (2004 là 1.243 USD/lao động/năm)
Sự phối hợp lợi ích không đều dẫn đến sự phân hóa theo xã hội
Tăng trưởng kinh tế đi theo xóa đói giảm nghèo
Là thanh niên cần phải có nhận thức rõ ràng đối với xu thế toàn cầu hóa
- Thị trường xuất khẩu còn là tiềm năng, nhưng nguy cơ mất thị phần trên thị trường nội địa đang là có thể xảy ra, nếu không khắc phục được 4 hạn chế:
Chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thiếu ổn định
Chi phí đầu vào cao
Hiệu quả quản lý thấp
Tốc độ đáp ứng thị trường chậm
- Dễ bị phụ thuộc vào các tập đoàn lớn, nếu thiếu chiến lược cạnh tranh và thiếu tính liên kết mang tính hệ thống
- Sự yếu kém của hệ thống phân phối nội địa
- Vấn đề tài chính
- Tinh thần trọng pháp trong kinh doanh chưa được hình thành một cách phổ biến để trở thành văn hóa kinh doanh
-Kỹ năng sử dụng các công cụ pháp lý còn rất yếu
- Kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế
- Hệ thống bổ trợ pháp lý trong nước
- Doanh nghiệp Việt Nam sẽ bộc lộ những yếu kém và có nguy cơ bị chi phối bởi các Tập đoàn nước ngoài
5.3 Hạn chế đe dọa trong bối cảnh toàn cầu hóa
- Đầu tư thỏa đáng cho hệ thống thông tin của doanh nghiệp không chỉ là việc nâng cấp các mạng thông tin mà con là các kỹ thuật chọn lọc thông tin và biến thông tin thành lợi thế doanh nghiệp trong kinh doanh
- Đầu tư và tiếp cận thực hiện các phương pháo quản trị hiện đại: kỹ thuật marketing theo xu hướng mới, xây dựng hệ thống outsourcing trong quản trị chuỗi cung ứng, các hình thức phát triển kinh doanh như lisencing, franchising…
Xây dựng các hiệp hội, nghiệp đoàn thương mại
Cần quan tâm đặc biệt đến các yếu tố pháp lý trong kinh doanh
Ngoài việc am tường những quy định chung của Tổ chức Thương mại thế giới, cần am hiểu tường tận pháp luật ở thị trường mà mình kinh doanh
Nên:
"Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia..." (Nghị quyết ĐH Đảng lần thứ X)
Việt Nam tham gia vào sân chơi toàn cầu có thể đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và bền vững đi đôi với việc phát triển con người, nâng cao chất lượng sống, bảo vệ tốt môi trường sinh thái
Mỗi doanh nghiệp phải biết tận dụng những cơ hội và hạn chế những đe dọa để đảm bảo cho sự thành công của mình
Vai trò điều tiết, hướng dẫn của Nhà nuớc
Phần II
NHẬT BẢN
Diện tích : 377,837 km2
Dân số : 127,4 triệu người
Thủ đô : Tokyo ở 35°41′B, 139°46′Đ
Quốc ca : Kimi GaYo
Khẩu hiệu : Hòa Bình và Tiến Bộ
Ngôn ngữ : Tiếng Nhật
Đơn vị tiền tệ : Yên
Bản đồ Nhật Bản
Quốc kỳ
Quốc huy
Khái quát
Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本国 Nihon-koku/Nippon-koku; Hán-Việt: Nhật Bản quốc; chữ Bản 本 trong các văn bản cũ cũng được đọc là Bổn), cũng được gọi tắt là Nhật, là tên của một quốc gia hải đảo hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là 377.834 km² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu Á. Nó nằm ở phía đông của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam . Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Nước Nhật có 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (北海道) (Bắc Hải Đạo), Honshu (本州) (Bản Châu), Shikoku (四国) (Tứ Quốc) và Kyushu (九州) (Cửu Châu) cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh
Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và núi lửa, tiêu biểu như ngọn núi cao nhất ở Nhật Bản, núi Phú Sĩ. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. Vùng Tokyo, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài quận xung quanh là trung tâm thủ phủ lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống.
Nhật Bản cũng là nên kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tính theo GDP chỉ sau Hoa Kỳ. Quốc gia này là thành viên của tổ chức liên hiệp quốc, G8, G4 và APEC, Nhật Bản là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng. Đây là đất nước xuất khẩu lớn thứ 4 thế giới và là nước nhập khẩu đứng thứ 6 thế giới. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học công nghệ.
Tên "Nhật Bản" viết theo chữ cái Latinh (Romaji) là Nihon hoặc Nippon (đọc là "Ni-hôn" hoặc "Níp-pôn"); theo chữ Hán hai chữ "Nhật Bản" có nghĩa là "gốc của Mặt Trời" và như thế, được hiểu là "xứ Mặt Trời mọc".
Nhật Bản còn có các mĩ danh là "xứ sở hoa anh đào", vì cây hoa anh đào (桜 sakura) mọc trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam, những cánh hoa "thoắt nở thoắt tàn" được người Nhật yêu thích, phản ánh tinh thần nhạy cảm, yêu cái đẹp, sống và chết đều quyết liệt của dân tộc họ;
Vào thế kỷ thứ 4, Nhật Bản đã lấy tên nước là Yamato. Còn người Trung Quốc từ trước công nguyên đã gọi Nhật là Nụy quốc (倭国, nước lùn), người Nhật là Nụy nhân (倭人, người lùn), những tên cướp biển trên biển Đông Trung Hoa thời Minh là Nụy khấu (倭寇, giặc lùn). Do thời đó người Nhật chưa có chữ viết riêng nên Yamato được viết bằng chữ Hán 倭. Sau này, người Nhật dùng hai chữ Hán là 大和 (Đại Hòa) để biểu ký âm Yamato, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.
Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang (扶桑). Cây phù tang, tức một loại cây dâu
I.TỰ NHIÊN
1.Vị trí địa lý
- Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana.
- Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km.
Theo lý thuyết đĩa lục địa (plate tectonics), Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines.
- Xét theo kinh độ và vĩ độ, các điểm cực của Nhật Bản như sau:
- Điểm cực Đông: 24 độ 16 phút 59 giây Bắc, 153 độ 59 phút 11 giây Đông.
- Điểm cực Tây: 24 độ 26 phút 58 giây Bắc, 122 độ 56 phút 01 giây Đông.
- Điểm cực Bắc: 45 độ 33 phút 21 giây Bắc, 148 độ 45 phút 14 giây Đông.
- Điểm cực Nam: 20 độ 25 phút 31 giây Bắc, 136 độ 04 phút 11 giây Đông.
- Trên biển, Nhật Bản có vùng đặc quyền kinh tế với đường viền danh nghĩa cách bờ biển 200 hải lý, song trên thực tế ở các vùng biển Nhật Bản và biển Đông Hải thì phạm vi hẹp hơn nhiều do đây là các biển chung. Tương tự, vùng lãnh hải của Nhật Bản không phải hoàn toàn có đường viền cách bờ biển 12 hải lý. Đường bờ biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33.88
2. Địa hình
- Địa hình núi chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản. Giữa các núi có những bồn địa nhỏ, các cao nguyên và cụm cao nguyên. Số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của sông không lớn. Ven biển có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi tập trung dân cư và các cơ sở kinh tế nhất là phía bờ Thái Bình Dương.
- Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m. Điểm thấp nhất ở Nhật Bản là một hầm khai thác than đá ở Hachinohe, -135m.
- Nhật Bản có nhiều dãy núi lớn, nổi tiếng nhất là ba dãy núi thuộc Alps Nhật Bản. Các dãy núi phần nhiều là từ đáy biển đội lên và có hình cánh cung. Núi cao trên 3000m ở Nhật Bản có đến hơn một chục ngọn. Trên Alps Nhật Bản tập trung khá nhiều đỉnh có độ cao trên 2500m.
Địa hình Nhật Bản
Núi Phú Sĩ
Mỗi năm Nhật Bản chịu vào khoảng 1000 trận động đất. Các hoạt động địa chấn này đặc biệt tập trung vào vùng Kanto, nơi có thủ đô Tokyo và người ta cho rằng cứ 60 năm Tokyo lại gặp một trận động đất khủng khiếp. Động đất với mức 7 hoặc 8 trong thang Richter đã từng xảy ra ở Nhật Bản. Động đất cấp 3, 4 xảy ra thường xuyên. Trận động đất xảy ra vào ngày 1 tháng 9 năm 1923, với cường độ 8,2 trên thang Richter, đã tàn phá phần lớn hai thành phố Tokyo và Yokohama. Động đất là mối đe dọa lớn nhất đối với Nhật Bản nên chính phủ Nhật mỗi năm đã phải bỏ ra hàng tỉ Yên Nhật để tìm kiếm một hệ thống báo động sớm về động đất, và khoa học địa chấn tại Nhật Bản được coi là tiến bộ nhất trên thế giới nhưng kết quả của các nghiên cứu và các dụng cụ báo động cho tới nay chưa được coi là đáng tin cậy.
Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt động trong đó có núi Phú Sĩ. Đi kèm với núi lửa là các suối nước nóng cũng có rất nhiều ở Nhật Bản.
Động đất ở KÔBE, 1995
3. Khí hậu
- Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam, chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:
- Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ. Lượng mưa dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.
- Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía Tây đảo Honshū`, gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.
- Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.
- Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng Chūgoku và Shikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa, mang đến khí hậu dịu mát cả năm.
- Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía Đông mùa đông lạnh,ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.
- Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.
- Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40.9 độ C - đo được vào 16 tháng 8, 2007.
- Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng
Nhật Bản nhìn từ không gian, tháng 5, 2003.
4.Biển và sông ngòi :
- Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau. Phía Đông và phía Nam là Thái Bình Dương. Phía Tây Bắc là biển Nhật Bản. Phía Tây là biển Đông Hải. Phía Đông Bắc là biển Okhotsk. Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara, Nansei của Nhật Bản chính là biển Philippines theo cách gọi của thế giới, song các văn kiện của chính phủ Nhật Bản vẫn chỉ gọi đó là Thái Bình Dương. Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai.
- Từ phía Nam, Nhật Bản có hải lưu Kuroshio chảy qua. Từ phía Bắc xuống có hải lưu Oyashio.
- Nhật Bản có bờ biển dài với nhiều loại địa hình. Bờ biển Sanriku, Shima, Wakasa, Seto Naikai, Tây Kyushu nhiều chỗ ăn sâu vào đất liền và có nhiều cửa sông
- Nhiều sông nhưng ngắn dốc
- Các sông chính ở Nhật Bản từ Bắc xuống Nam
- Tone (利根川) là sông có lưu vực rộng nhất
Một góc bờ biển ở Kinkasan, Miyagi, Nhật Bản
Một dòng sông ở thành phố Nikko, Nhật Bản
5.Đất núi lửa và đất phù sa là loại đất tốt ở Nhật Bản, nhưng phần lớn đất trồng xấu, do đó từ lâu vấn đề cải tạo đất đã được chú ý.
6. Động thực vật
- Các hải đảo Nhật Bản trải dài 25 vĩ độ vì thế đất nước này có nhiều loại thực vật và động vật. Tại nhóm hải đảo Ryukyu và Ogasawara ở về phía nam, thời tiết thuộc loại bán nhiệt đới nên động vật và thực vật giống như của bán đảo Mã Lai; trong khi tại phần đất chính của Nhật Bản hay tại các đảo Honshu, Kyushu và Shikoku, thời tiết giống như Trung Hoa và Triều Tiên; còn miền trung và miền bắc của đảo Hokkaido có khí hậu gần cực, rất lạnh nên có nhiều rừng thông loại lá lớn.
- Thực vật và động vật tại Nhật Bản qua nhiều thế kỷ đã bị ảnh hưởng do sự du nhập từ các quốc gia khác. Trong thời kỳ Minh Trị (Meiji 明治, 1858-1912), đã có từ 200 tới 500 loại cây được đưa vào Nhật Bản, phần lớn từ châu Âu rồi về sau này từ Hoa Kỳ.
Hoa Anh Đào (桜; Prunus).
Nhật Bản có mĩ danh là xứ sở hoa Anh Đào
Hạc Nhật Bản_Tên khoa học là Grus japonensis
- Nhật Bản vào thời cổ xưa đã được nối với châu Á nhờ thế đã có các thú vật di cư từ Triều Tiên và Trung Hoa qua. Nhật Bản có các loại thú đặc biệt, chẳng hạn như loài gấu nâu (higuma 羆) của đảo Hokkaido cao tới 2 mét và nặng 400 kilôgam và loài gấu nâu châu Á (tsukinowaguma ) nhỏ hơn, cao tới 1,4 mét và nặng 200 kilôgam. Một giống thú đặc biệt khác là loài khỉ cỡ trung bình, cao khoảng 60 phân và có đuôi ngắn, thường thấy trên các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu.
- Tại Nhật Bản, cây rừng cũng là một nguồn tài nguyên. Gỗ được dùng cho kỹ nghệ xây nhà và làm giấy nhưng việc sản xuất nội địa đã giảm hẳn vì Nhật Bản ưa nhập cảng loại gỗ rẻ tiền hơn từ các quốc gia nhiệt đới thuộc vùng Đông Nam Á.
Những con khỉ Nhật Bản (Macaca fuscata )
đang ngâm mình trong một suối nước nóng để tránh rét.
Tài nguyên
- Nhật Bản là quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Trên các đảo Hokkaido và Kyushu có các mỏ than và kỹ nghệ khai mỏ lên tới cực điểm vào năm 1941, ngày nay hầu như các hầm mỏ này không hoạt động. Tất cả khoáng sản khác, kể cả dầu thô, đều phải nhập cảng từ nước ngoài.
- Tại Nhật Bản, cây rừng cũng là một nguồn tài nguyên
- Một tài nguyên khác của Nhật Bản là cá biển. Nhật Bản có các hạm đội tầu đánh cá rất lớn, hoạt động trong các hải phận quốc tế.
=> Nhìn chung,Nhật là đất nước có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi
II. DÂN CƯ VÀ XÃ HỘI
*1. Dân cư
Dân số Nhật Bản ước tính khoảng 127.4 triệu người, phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số những công nhân nước ngoài, Zainichi Hàn Quốc, Zainichi Trung Quốc, Người Philippines, người Nhật gốc Brazil. Tộc người chủ yếu là người Yamato cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như Ainu hay Ryūkyūans.
Nhật Bản có một trong những chỉ số tuổi thọ cao nhất thế giới, trung bình là 81.25 tuổi cho năm 2006. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau thế chiến 2. Năm 2004, 19.5% dân số Nhật trên 65 tuổi.
Mật độ dân cư khá cao(340người/km2 – 2007)
Tỷ lệ tăng dân số - 0,01%(2007) .
Một cảnh ở Shibuya, một ví dụ cho sự đông đúc của Tokyo
. Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 và 64 triệu người vào năm 2100.
Khoảng 84% đến 96% dân số Nhật theo cả đạo Shinto và phật giáo Đại Thừa. Phật Giáo, Đạo Giáo và Nho Giáo từ Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến niềm tin và tín ngưỡng của người Nhật. 7% dân số theo Đạo Cơ Đốc.
99,3% dân số nói tiếng Nhật. Đây là loại ngôn ngữ kết dính được phân biệt bởi một hệ thống các từ ngữ lễ giáo phản ánh xã hội tôn ti và trọng đạo đức của Nhật Bản.
Nhật bản có nhiều thành phố lớn như :Tokyo, Kobe, Osaka..
Người Nhật được ca ngợi có nhiều đức tính tốt đệp như : tính kỉ luật, tính trung thực,cần cù, chịu khó, tiết kiệm, cường độ làm việc cao,hiếu học.
2.Chế độ chính trị :
Chế độ quân chủ Lập hiến được thành lập từ sau cuộc Cách Mạng tư sản Nhật(1867 – 1868). Đứng đầu đất nước là Hoàng đế, được lên ngôi theo chế độ cha truyền con nối.
Hoàng đế của Nhật Bản hiện nay là Nhật hoàng Akihito (người Nhật gọi Hoàng đế Nhật Bản là Thiên Hoàng, lên ngôi ngày 7 tháng 1 năm 1989. Vị thiên hoàng trước đó, cố Nhật hoàng Showa là Nhật hoàng trị vì lâu dài nhất, 62 năm và cũng sống lâu nhất, 87 tuổi, trong lịch sử của nước Nhật.
Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko có 3 người con (hai trai và một gái). Thái tử Naruhito sinh ngày 23 tháng 2 năm 1960, đã kết hôn với cô Masako và có một con gái. Hoàng tử Akishono có hai con gái và một con trai. Theo Hiến pháp Nhật Bản, chỉ nam giới mới được thừa kế ngai vàng.
Một gia đình Nhật
Quốc hội Nhật Bản (国会 Kokkai) là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện (衆議院 shugi-in - Chúng nghị viện) với 512 ghế và Thượng viện (参議院 – sangi-in - Tham nghị viện) với 252 ghế. Dân biểu Hạ viện có nhiệm kỳ 4 năm nhưng hạn kỳ này có thể bị chấm dứt nếu Quốc hội bị giải tán. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa. 100 Thượng nghị sĩ được bầu theo sự đại diện tỉ lệ (proportional representation) tức là do các cử tri toàn quốc, số còn lại 152 ghế được bầu từ 47 đơn vị bầu cử tỉnh. Hạ viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm Nội các.
Nhật Bản là quốc gia có chính quyền đa đảng phái như :Đảng Tự do Dân chủ Nhật Bản ,Đảng Dân chủ Nhật Bản,Đảng Komei,Đảng Xã hội Dân chủ Nhật Bản Đảng Cộng sản Nhật Bản
Tổng Thống Bush phát biểu tại Quốc hội Nhật Bản
III.KINH TẾ
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển. Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.
GDP (PPP) : Tổng số 4.167 tỷ Mỹ kim (hạng 3). Theo đầu người 35.757 đô la (hạng 14 )
Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản
Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến.
Nhật Bản là trụ sở của ngân hàng lớn nhất thế giới, tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 1.7 nghìn tỉ đô la Mỹ. Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006. Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới.
Người máy Asimo –
một thành tựu về khoa học công nghệ của Nhật Bản
Từ giai đoạn 1960 đến 1980, tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản được gọi là "sự thần kì" : tốc độ phát triển kinh tế trung bình 10% giai đoạn 1960, trung bình 5% giai đoạn 1970 và 4% giai đoạn 1980. Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng 1,177,278 km (731,683 miles) đường bộ, 173 sân bay, 23,577 km (14,653 miles) đường sắt. Phương tiện đường không được hoạt động chủ yếu bởi All Nippon Airways và Japan Airlines
Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại
Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong nghành thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030. Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế..
Chế tạo ôtô ở Nhật
Tàu cao tốc (Shinkansen) của Nhật Bản
IV.VĂN HÓA NHẬT BẢN
Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Sắc dân nước ngoài đông nhất là Triều Tiên nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người Nhật Bản cả. Sắc dân này trước kia bị kỳ thị tại nơi làm việc và tại một số phương diện trong đời sống hàng ngày. Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao động gồm người Phi Luật Tân và người Thái.
Người Nhật Bản có nguồn gốc Mông Cổ, giống như người Triều Tiên và Trung Hoa.
*1.Trà đạo :
Trà đạo được biết đến như một loại nghệ thuật thưởng thức trà. Trong văn hóa Nhật Bản, Trà đạo được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12.
Theo truyền thuyết Nhật, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai này đã sáng tác ra cuốn "Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký" (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà.
Từ đó, dần dần công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà.
. Họ đã kết hợp thú uống trà với tinh thần Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo (chado, 茶道), một sản phầm đặc sắc thuần Nhật.
Từ uống trà, cách uống trà, rồi nghi thức uống trà cho đến trà đạo là một tiến trình không ngưng nghỉ mà cái đích cuối cùng người Nhật muốn hướng tới đó là cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình, một đạo với ý nghĩa đích thực của từ này. Hiển nhiên ở đây trà đạo, không đơn thuần là con đường, phép tắc uống trà, mà trên hết là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, từ đó tu tâm dưỡng tính để đạt giác ngộ.
Một Trà nhân đang pha trà
1.1.Trà Thất :
- Trà thất là một căn phòng nhỏ dành riêng cho việc uống trà, nó còn được gọi là "nhà không".
- Đó là một căn nhà mỏng manh với một mái tranh đơn sơ ẩn sau một khu vườn. Cảnh sắc trong vườn không loè loẹt mà chỉ có màu nhạt, gợi lên sự tĩnh lặng.
- Trong khu vườn nhỏ có thể bố trí một vài nét chấm phá để tạo nên một ấn tượng về một miền thung lũng hay cảnh núi non cô tịch, thanh bình.
Nó như một bức tranh thủy mặc gợi lên bầu không khí mà Kobiri Emshiu đã tả:Một chòm cây mùa hạ,
một nét biển xa,
một vừng trăng chiếu mờ nhạt.
- Trên con đường dẫn đến trà thất, có một tảng đá lớn, mặt tảng đá được khoét thành một cái chén đựng đầy nước từ một cành tre rót xuống. Ở đây người ta "rửa tay" trước khi vào ngôi nhà nằm ở cuối con đường, chỗ tịch liêu nhất: Tôi nhìn ra,
không có hoa,
cũng không có lá.
Trên bờ biển,
một chòi tranh đứng trơ trọi,
trong ánh nắng nhạt chiều thu.
Ngôi nhà uống trà làm bằng những nguyên liệu mong manh làm cho ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng của mọi sự. Không có một vẻ gì là chắc chắn hay cân đối trong lối kiến trúc, vì đối với thiền, sự cân đối là chết, là thiếu tự nhiên, nó quá toàn bích không còn chỗ nào cho sự phát triển và đổi thay
- Lối vào nhà nhỏ và thấp đến nỗi người nào bước vào nhà cần phải cúi đầu xuống trong vẻ khiêm cung, trong khi người võ sĩ đạo thì phải để lại bên ngoài cây kiếm dài.
- Ngay trong phòng trà cũng ngự trị một bầu không khí lặng lẽ cô tịch, không có màu sắc rực rỡ, chỉ có màu vàng nhạt của tấm thảm rơm và màu tro nhạt của những bức vách bằng giấy.
1.2.Tokonoma
- Tokonoma là một góc phòng được trang trí và hơi thụt vào trong so với vách tường. Tokonoma là một trong bốn nhân tố thiết yếu tạo nên phòng khách chính của một căn nhà. Bản thân từ "tokonoma" ám chỉ góc phòng thụt vào hoặc căn phòng có góc như nó. . Thông thường, có một khu vực để treo tranh hoặc một bức thư pháp. Hay có một cái giá nhỏ để đặt hoa, có thể là một chiếc bình, có thể nhìn thấy một hộp hương trầm.
- Một gia đình truyền thống Nhật có nhiều cuộn giấy và các vật dụng khác mà họ trưng bày ở tokonoma tuỳ từng mùa hoặc ngày lễ gần nhất.
- Khi bước vào một trà thất, người ta thường quỳ và ngắm tokonoma một lát. Cũng có thể xem các vật được trưng bày.
- Thiền gây ảnh hưởng đến tokonoma lẫn chabana... chỉ khi chúng ta chú tâm đến những chi tiết nhỏ bé trong cuộc sống thì mới thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị.
1.3 Chabana :
- Chabana (茶花) là phong cách cắm hoa đơn giản mà thanh lịch của Trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hoá Ikebana. Cha, theo nghĩa đen, là "trà" và ban, biến âm của từ hana, có nghĩa là "hoa".
- Phong cách của chabana là không có bất kỳ qui tắc chính thức nào để trở thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất.
Chabana & Kakejiku
- Lọ hoa có thể được làm từ bất kỳ chất liệu nào, từ đồng, gốm tráng men hoặc không tráng men, cho đến tre, thuỷ tinh và các vật liệu khác.
- Khi cắm hoa cho một bữa tiệc trà, đầu tiên chủ nhà phải chọn hoa và lọ tương ứng. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa khu vườn tự nhiên.
1.4.Kakejiku :
- Kakejiku có thể là một bức tranh treo tường, một bức thư pháp hoặc là sự kết hợp cả tranh và chữ (thư họa) ở tokonoma. Những bức thư pháp treo tại tokonoma thường mang nghĩa sâu xa, có thể là một công án Thiền tông. Chẳng hạn: "Bình thường tâm thị đạo"
- hoặc đơn giản chỉ là một chữ
"Vô"
Chữ “Vô”
*Bộ áo truyền thống – Kimono:
Áo kimono là một phần của văn hoá Nhật Bản. Đặc biệt là phụ nữ thường gắn áo kimono với truyền thống dân tộc và thích mặc nó vào những dịp đặc biệt.
Theo truyền thống, áo kimono được may bằng vải dệt từ các nguyên liệu tự nhiên như vải lanh, bông, lụa. Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn rộng cuốn chặt vào người cùng với một số dây đai và dây buộc, ống tay áo dài và rộng thùng thình. Kimono có hình dạng khác hẳn với chiếc áo choàng kiểu cổ của Trung Quốc, vốn thường bị nhầm lẫn trong tranh minh hoạ ở các sách của phương Tây. Kimono của nam giới có vành khăn đơn giản và hẹp hơn. Áo kimono cho phụ nữ thường có các hoạ tiết hoa, lá và các biểu tượng thiên nhiên khác, phản ánh tình yêu thiên nhiên của người Nhật Bản.
Thiếu nữ Nhật Bản
trong trang phục kimono truyền thống
Tuỳ theo tuổi tác của người mặc mà màu sắc được chú ý rất nghiêm ngặt, những màu có gốc sáng, đặc biệt là màu đỏ, được dùng cho trẻ em và phụ nữ trẻ chưa chồng, trái hẳn với một số nước phương Tây ở đó màu lam nhạt được coi là thích hợp với trẻ em. Ở một số nước, màu đỏ và những màu sáng khác thường được coi là những màu thích hợp nhất đối với phụ nữ trưởng thành, nhưng ở Nhật Bản, nhất là khi mặc kimono, màu sắc chỉ hạn chế ở những màu dịu, không sặc sỡ. Họ cũng không mặc áo màu đen như những phụ nữ đã lập gia đình ở một số nước Latinh. Xu hướng này thậm chí còn được thể hiện ở trang phục kiểu phương Tây mà hầu hết phụ nữ Nhật Bản hiện hay mặc. Các thiếu nữ thường mặc những quần áo có màu sáng, còn người già thì dùng những màu dịu hơn tuỳ theo độ tuổi.
Trong những năm gần đây, áo kimono được làm bằng vải tổng hợp, vì vậy những người không có tiền mua lụa cũng có thể mua được. Áo kimono, khăn thắt lưng và những đồ kèm theo làm bằng lụa được bán với giá cực kỳ đắt nên phụ nữ trẻ chỉ có thể mặc vào những dịp đặc biệt như đám cưới, đám tang, lễ tốt nghiệp hoặc lễ trưởng thành (khi tới 20 tuổi) v.v... Qua trang phục kiểu phương Tây hàng ngày ta thấy hầu hết các xu thế mốt của châu Âu và châu Mỹ
 







Các ý kiến mới nhất