Ý NGHĨA VĂN CHƯƠNG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Tình
Ngày gửi: 00h:05' 05-01-2025
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 30
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Tình
Ngày gửi: 00h:05' 05-01-2025
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích:
0 người
Ý NGHĨA VĂN CHƯƠNG
(Hoài Thanh)
- Hoµi Thanh -
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
Đọc với giọng vừa
rành mạch vừa cảm
xúc, chậm và sâu
lắng.
1. Đọc
2. Tác giả- tác phẩm:
- Hoµi Thanh -
a. Tác giả:
-Hoài Thanh ( 1909-1982)
- Quê: Nghi Trung, huyện Nghi
Lộc- Nghệ An.
- Là nhà phê bình văn học xuất sắc.
- Năm 2000 được nhà nước truy
tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về
VHNT.
Chân dung Hoµi Thanh
- Hoµi Thanh -
b. Tác phẩm:
-Viết năm 1936, in trong tập
“ Văn chương và hành động”
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
1. Đọc
2. Tác giả- tác phẩm:
3. Thể loại:
- Nghị luận Văn chương.
4. Bố cục:
- Phần 1: Từ đầu đến “lòng vị tha”:
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương
- Phần 2: Phần còn lại:
Công dụng của Văn chương
- Hoµi Thanh -
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
THẢO LUẬN NHÓM
Các nhóm hoàn thành các
phiếu học tập theo phân công
như sau:
-Phiếu học tập số 1: nhóm 1,2.
-Phiếu học tập số 2: nhóm 3, 4
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
LUẬN ĐỀ
……………………
….
LUẬN ĐIỂM 2
…………………………
LUẬN ĐIỂM 1
……………………..
LUẬN ĐIỂM 1.1
…………………
LÍ
LẼ
…...
BẰNG
CHỨNG
………………
LUẬN ĐIỂM 1.2
…………………
LÍ
LẼ
…...
BẰNG
CHỨNG
………………
LÍ
LẼ
…...
BẰNG
CHỨNG
………………
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
Qua bài viết, em thấy văn chương có
những công dụng nào? Tìm cách trình
bày vấn đề khách quan và chủ quan
trong văn bản?
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau
thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]”
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết.(Dẫn chứng)Tiếng khóc
ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi
ca. (Lí lẽ)
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.(Lí lẽ)
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]” (Luận điểm)
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và thương cả muôn vật, muôn loài.
Trâu ơi, ta bảo trâu này.
- Hoµi Thanh -
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Trâu đây, ta đấy, ai mà quản công
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết.(Dẫn chứng)Tiếng khóc
ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi
ca. (Lí lẽ)
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.(Lí lẽ)
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]” (Luận điểm)
II. SY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và thương cả muôn vật, muôn loài.
- Luận điểm đứng cuối đoạn văn.
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau
thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]”
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và thương cả muôn vật, muôn loài.
- Luận điểm đứng đầu đoạn văn.
- Giọng văn nhẹ nhàng, giàu tình cảm.
2. Công dụng của văn chương.
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
Hoµi Thanh
Cảnh trời với lòng người như một đám rừng sâu thẳm, hoa cỏ -hương
thơm, -sắc lạ
vô cùng mà người đòi là những khách vào rừng lại vì còn phải mưu cầu sự sống,
nên chỉ lo bẻ măng đào củ, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu hiện tượng li kì đều bỏ
qua không biết, không thưởng thức(1).[...] Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay,
cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta rồi mượn câu
văn, tiếng hát, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm,
đó là nhiệm vụ của nghệ thuật và, nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương(2).
Làm trọn nhiệm vụ ấy, nhà văn sẽ quên mình, thoát mình ra ngoài phạm vi hẹp
hòi của bản thân để sống cái đòi của mọi người, mọi vật. Văn chương sẽ là hình
dung của sự sống muôn hình vạn trạng(3). Chẳng những thế, văn chương còn sáng
tạo ra sự sống Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm
dồi dào của nhà văn? (4) Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người,
những vật khác. (5) Sự sáng tạo này cũng có thể xem là xuất ở mối tình yêu thương
tha thiết. (6) Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực
tế. (7)[...] Những thế giới tưởng tượng trong văn chương cũng sáng tạo ra bởi lòng
yêu thương vô cùng của nhà văn. (8) Nếu có một người yêu Thuý Kiều còn nồng
nàn hơn Kim Trọng, người ấy là Nguyễn Du và chính Nguyễn Du đã trao sự sống
của mình cho thiếu nữ trong truyện. (9)
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn
chương là tình cảm, là lòng vị tha. (10) Và vì thế, công dụng của văn chương cũng
là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha. (11)
Hoµi Thanh
Cảnh trời với lòng người như một đám rừng sâu thẳm, hoa cỏ -hương
thơm, -sắc lạ
vô cùng mà người đòi là những khách vào rừng lại vì còn phải mưu cầu sự sống,
nên chỉ lo bẻ măng đào củ, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu hiện tượng li kì đều bỏ
qua không biết, không thưởng thức(1).[...] Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay,
cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta rồi mượn câu
văn, tiếng hát, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm,
đó là nhiệm vụ của nghệ thuật và, nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương(2).
Làm trọn nhiệm vụ ấy, nhà văn sẽ quên mình, thoát mình ra ngoài phạm vi hẹp
hòi của bản thân để sống cái đòi của mọi người, mọi vật. (3) Văn chương sẽ là hình
dung của sự sống muôn hình vạn trạng(4). Chẳng những thế, văn chương còn sáng
tạo ra sự sống Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm
dồi dào của nhà văn? (5) Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người,
những vật khác. (6) Sự sáng tạo này cũng có thể xem là xuất ở mối tình yêu thương
tha thiết. (7) Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực
tế. (8)[...] Những thế giới tưởng tượng trong văn chương cũng sáng tạo ra bởi lòng
yêu thương vô cùng của nhà văn. (9) Nếu có một người yêu Thuý Kiều còn nồng
nàn hơn Kim Trọng, người ấy là Nguyễn Du và chính Nguyễn Du đã trao sự sống
(Dẫn chứng)
của mình cho thiếu nữ trong truyện. (10)
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn
chương là tình cảm, là lòng vị tha. (11)Luận điểm Và vì thế, công dụng của
văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha. (12)
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực cuộc sống
và sáng tạo ra sự sống.
- Hoµi Thanh -
O du kích nhỏ dương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cú đầu (Tố Hữu)
- Hoµi Thanh -
Joanne Rowling(31/7/1965), là một nhà văn, nhà từ thiện,
nhà sản xuất phim và truyền hình, nhà biên kịch người Anh.
Hoµi Thanh
Cảnh trời với lòng người như một đám rừng sâu thẳm, hoa cỏ -hương
thơm, -sắc lạ
vô cùng mà người đòi là những khách vào rừng lại vì còn phải mưu cầu sự sống,
nên chỉ lo bẻ măng đào củ, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu hiện tượng li kì đều bỏ
qua không biết, không thưởng thức(1).[...] Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay,
cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta rồi mượn câu
văn, tiếng hát, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm,
đó là nhiệm vụ của nghệ thuật và, nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương(2).
Làm trọn nhiệm vụ ấy, nhà văn sẽ quên mình, thoát mình ra ngoài phạm vi hẹp
hòi của bản thân để sống cái đòi của mọi người, mọi vật. (3) Văn chương sẽ là hình
dung của sự sống muôn hình vạn trạng(4). Chẳng những thế, văn chương còn sáng
tạo ra sự sống Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm
dồi dào của nhà văn? (5) Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người,
những vật khác. (6) Sự sáng tạo này cũng có thể xem là xuất ở mối tình yêu thương
tha thiết. (7) Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực
tế. (8)[...] Những thế giới tưởng tượng trong văn chương cũng sáng tạo ra bởi lòng
yêu thương vô cùng của nhà văn. (9) Nếu có một người yêu Thuý Kiều còn nồng
nàn hơn Kim Trọng, người ấy là Nguyễn Du và chính Nguyễn Du đã trao sự sống
của mình cho thiếu nữ trong truyện. (10)
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn
chương là tình cảm, là lòng vị tha. (11)Luận điểm Và vì thế, công dụng của
văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha. (12)
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực cuộc sống
và sáng tạo ra sự sống.
- Luận điểm đứng cuối đoạn văn.
Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương
mà
trở nên
- Hoµi
Thanh
thâm trầm và rộng rãi đến nghìn lần. (1) Luận điểm
Có kẻ nói từ khi thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ mới đẹp;
từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng
chim, tiếng suối nghe mới hay.(Dẫn
(2)
chứng)Lời ấy không có gì là quá đáng.
(3) Ta có thể tìm rất dễ dàng những ví dụ để chúng rằng, phần nhiều những
tình cảm, những cảm giác của người thời bây giờ đều do một ít người xưa có
thiên tài sáng tạo ra và lưu truyền lại. (3) Trên quả đất này từ khi có loài người
bao giờ vẫn núi non ấy, cây cỏ ấy, thế mà một người đời xưa với một người đời
nay nào có trông thấy như nhau. (4) Cả phong cảnh đã thay hình đổi dạng từ khi
có những nhà văn đưa cảm giác riêng của họ làm thành cảm giác chung của mọi
người. (5) (Dẫn chứng)
Và có thể nói rằng thế giới như ngày nay là một sự sáng tạo của họ. (6)
Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong
tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng
nghèo nàn sẽ đến bực nào! (7)
Vậy thì văn chương cứ làm tròn nhiệm vụ tự nhiên của nó cũng đã có ích rồi.
(8)Nhà nghệ thuật vị nghệ thuật theo lời Tê-ô-phin Gấu chê (Théophile Gautier)
nói: “Chỉ có cái gì vô ích mới đẹp”. (9)Trái lại, chúng tôi tin rằng cái đẹp tự
nhiên đã có ích rồi. (10) Vì cái đẹp văn chương theo chúng tôi là những tình
cảm, những cảm giác mới lạ có sức trau dồi, tô điểm cho đời người và trao cho
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực và sáng
tạo ra sự sống.
- Luận điểm đứng cuối đoạn văn.
- Văn chương gây cho ta những tình cảm
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có.
- Hoµi Thanh -
Em có tình cảm
gì sau khi nghe
bài sau?
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực và sáng
tạo ra sự sống.
- Văn chương gây cho ta những tình cảm
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có.
Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương
mà
trở nên
- Hoµi
Thanh
thâm trầm và rộng rãi đến nghìn lần. (1) Luận điểm
Có kẻ nói từ khi thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ mới đẹp;
từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng
chứng)
chim, tiếng suối nghe mới hay. (2) Lời ấy không có gì là quá đáng. (Dẫn
(3)
Ta có thể tìm rất dễ dàng những ví dụ để chúng rằng, phần nhiều những tình
cảm, những cảm giác của người thời bây giờ đều do một ít người xưa có thiên tài
sáng tạo ra và lưu truyền lại. (3) Trên quả đất này từ khi có loài người bao giờ
vẫn núi non ấy, cây cỏ ấy, thế mà một người đời xưa với một người đời nay nào
có trông thấy như nhau. (4) Cả phong cảnh đã thay hình đổi dạng từ khi có
những nhà văn đưa cảm giác riêng của họ làm thành cảm giác chung của mọi
người. (5) (Dẫn chứng)
Và có thể nói rằng thế giới như ngày nay là một sự sáng tạo của họ. (6)
Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong
tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng
nghèo nàn sẽ đến bực nào! (7)
Vậy thì văn chương cứ làm tròn nhiệm vụ tự nhiên của nó cũng đã có ích rồi.
(8)Nhà nghệ thuật vị nghệ thuật theo lời Tê-ô-phin Gấu chê (Théophile Gautier)
nói: “Chỉ có cái gì vô ích mới đẹp”. (9)Trái lại, chúng tôi tin rằng cái đẹp tự
nhiên đã có ích rồi. (10) Vì cái đẹp văn chương theo chúng tôi là những tình
cảm, những cảm giác mới lạ có sức trau dồi, tô điểm cho đời người và trao cho
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực và sáng
tạo ra sự sống.
- Văn chương gây cho ta những tình cảm
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có.
- Luận điểm đứng đầu đoạn văn.
- Dẫn chứng cụ thể, lí lẽ chặt chẽ. (Trình bày
khách quan)
Sơ đồ tổng kết
LUẬN ĐỀ
Ý nghĩa văn chương
LUẬN ĐIỂM 1
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người, lòng
thương muôn vật, muôn loài
LUẬN ĐIỂM 1.1
Văn chương là hình dung
của sự sống muôn hình vạn
trạng
LÍ LẼ
Văn chương
có nhiệm vụ
“vén tấm màn
đen ấy, tìm
cái hay, cái
đẹp, cái lạ”
để “làm cho
người ta cùng
nghe, cùng
thấy, cùng
cảm” qua tác
phẩm
BẰNG
CHỨNG
Những
cảnh thiên
nhiên tươi
đẹp mà
bình
thường do
mưu sinh
con người
bỏ lỡ
LUẬN ĐIỂM 1.2
Văn chương còn sáng tạo ra
sự sống
LÍ LẼ
- Để “thoả
mãn mối tình
cảm dồi dào”
của nhà văn
- Sự sáng tạo
của nhà văn
gắn với tình
yêu thương
tha thiết, để
“trao sự
sống” cho
nhân vật
BẰNG
CHỨNG
- Quá trình
sáng tác của
nhà văn: sáng
tạo ra thế giới
khác, những
người, sự vật
khác
- Trường hợp
Nguyễn Du và
nhân vật Thuý
Kiều
LUẬN ĐIỂM 2
Văn chương gây cho ta những tình cảm
ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp
LÍ LẼ – Cả phong
cảnh đã thay hình
đổi dạng từ khi có
những nhà văn đưa
cảm giác riêng của
họ làm thành cảm
giác chung của mọi
người
– Thế giới như ngày
nay là một sự sáng
tạo của nghệ sĩ
– Nếu thiếu nghệ sĩ
trong lịch sử và tâm
linh nhân loại, “cảnh
tượng nghèo nàn sẽ
đến bực nào”
BẰNG
CHỨNG
Những ví dụ
để chứng
minh rằng
phần nhiều
những tình
cảm, những
cảm giác của
người thời
bây giờ đều
do một ít
người xưa có
thiên tài sáng
tạo ra và
truyền lại
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
- Hoµi Thanh -
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
III. BÀI HỌC RÚT RA KHI VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN:
- Luận điểm có thể đứng đầu hoặc cuối đoạn văn.
- Dẫn chứng phải cụ thể, rõ ràng.
- Lí lẽ phải chặt chẽ, thuyết phục.
IV. LUYỆN TẬP:
IV. LUYỆN TẬP:
- Hoµi Thanh -
1. Bài tập 1:
(1). Những cơn gió heo may đầu mùa se lạnh.
(2). Mùa thu đã tới. LUẬN ĐIỂM
(3). Lá trên cành bắt đầu khoác lên mình một bộ áo
mới vàng óng.
(4). Và bao nhiêu em nhỏ tung tăng đến trường.
(3) =>(1) => (4)=> (2)
IV. LUYỆN TẬP:
2. Bài tập 2:
- Hoµi Thanh -
Viết đoạn văn phân tích hai câu thơ mà em yêu
thích?
NHẬN XÉT VÀ DẶN DÒ
- Đối với bài học tiết này:
+ Nắm đặc nguồn gốc và công dụng của Văn chương.
+ Nắm được lân điểm, dẫn chứng của bài nghị luận.
+ Tập viết bài nghị luận.
- Đối với bài học ở tiết tiếp theo:
+ Chuẩn bị bài: “Viết bài văn nghị luận phân tích tác
phẩm văn học”
+ Đọc kĩ bài văn mẫu, tìm luận điểm và dẫn chứng.
+ Hoàn thành bài tập 1,2,3,4(SGK/49).
+ Thực hành viết bài phân tích về tác phẩm mình thích.
(Hoài Thanh)
- Hoµi Thanh -
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
Đọc với giọng vừa
rành mạch vừa cảm
xúc, chậm và sâu
lắng.
1. Đọc
2. Tác giả- tác phẩm:
- Hoµi Thanh -
a. Tác giả:
-Hoài Thanh ( 1909-1982)
- Quê: Nghi Trung, huyện Nghi
Lộc- Nghệ An.
- Là nhà phê bình văn học xuất sắc.
- Năm 2000 được nhà nước truy
tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về
VHNT.
Chân dung Hoµi Thanh
- Hoµi Thanh -
b. Tác phẩm:
-Viết năm 1936, in trong tập
“ Văn chương và hành động”
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
1. Đọc
2. Tác giả- tác phẩm:
3. Thể loại:
- Nghị luận Văn chương.
4. Bố cục:
- Phần 1: Từ đầu đến “lòng vị tha”:
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương
- Phần 2: Phần còn lại:
Công dụng của Văn chương
- Hoµi Thanh -
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
THẢO LUẬN NHÓM
Các nhóm hoàn thành các
phiếu học tập theo phân công
như sau:
-Phiếu học tập số 1: nhóm 1,2.
-Phiếu học tập số 2: nhóm 3, 4
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
LUẬN ĐỀ
……………………
….
LUẬN ĐIỂM 2
…………………………
LUẬN ĐIỂM 1
……………………..
LUẬN ĐIỂM 1.1
…………………
LÍ
LẼ
…...
BẰNG
CHỨNG
………………
LUẬN ĐIỂM 1.2
…………………
LÍ
LẼ
…...
BẰNG
CHỨNG
………………
LÍ
LẼ
…...
BẰNG
CHỨNG
………………
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
Qua bài viết, em thấy văn chương có
những công dụng nào? Tìm cách trình
bày vấn đề khách quan và chủ quan
trong văn bản?
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau
thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]”
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết.(Dẫn chứng)Tiếng khóc
ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi
ca. (Lí lẽ)
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.(Lí lẽ)
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]” (Luận điểm)
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và thương cả muôn vật, muôn loài.
Trâu ơi, ta bảo trâu này.
- Hoµi Thanh -
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Trâu đây, ta đấy, ai mà quản công
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết.(Dẫn chứng)Tiếng khóc
ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi
ca. (Lí lẽ)
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.(Lí lẽ)
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]” (Luận điểm)
II. SY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và thương cả muôn vật, muôn loài.
- Luận điểm đứng cuối đoạn văn.
- Hoµi Thanh -
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi
sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi
xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run
rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau
thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang
đường, song không phải không có ý nghĩa.
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và rộng ra thương cả muôn vật,
muôn loài. [...]”
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
- Hoµi Thanh -
1. Nguồn gốc của văn chương.
- Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người và thương cả muôn vật, muôn loài.
- Luận điểm đứng đầu đoạn văn.
- Giọng văn nhẹ nhàng, giàu tình cảm.
2. Công dụng của văn chương.
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
Hoµi Thanh
Cảnh trời với lòng người như một đám rừng sâu thẳm, hoa cỏ -hương
thơm, -sắc lạ
vô cùng mà người đòi là những khách vào rừng lại vì còn phải mưu cầu sự sống,
nên chỉ lo bẻ măng đào củ, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu hiện tượng li kì đều bỏ
qua không biết, không thưởng thức(1).[...] Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay,
cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta rồi mượn câu
văn, tiếng hát, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm,
đó là nhiệm vụ của nghệ thuật và, nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương(2).
Làm trọn nhiệm vụ ấy, nhà văn sẽ quên mình, thoát mình ra ngoài phạm vi hẹp
hòi của bản thân để sống cái đòi của mọi người, mọi vật. Văn chương sẽ là hình
dung của sự sống muôn hình vạn trạng(3). Chẳng những thế, văn chương còn sáng
tạo ra sự sống Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm
dồi dào của nhà văn? (4) Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người,
những vật khác. (5) Sự sáng tạo này cũng có thể xem là xuất ở mối tình yêu thương
tha thiết. (6) Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực
tế. (7)[...] Những thế giới tưởng tượng trong văn chương cũng sáng tạo ra bởi lòng
yêu thương vô cùng của nhà văn. (8) Nếu có một người yêu Thuý Kiều còn nồng
nàn hơn Kim Trọng, người ấy là Nguyễn Du và chính Nguyễn Du đã trao sự sống
của mình cho thiếu nữ trong truyện. (9)
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn
chương là tình cảm, là lòng vị tha. (10) Và vì thế, công dụng của văn chương cũng
là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha. (11)
Hoµi Thanh
Cảnh trời với lòng người như một đám rừng sâu thẳm, hoa cỏ -hương
thơm, -sắc lạ
vô cùng mà người đòi là những khách vào rừng lại vì còn phải mưu cầu sự sống,
nên chỉ lo bẻ măng đào củ, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu hiện tượng li kì đều bỏ
qua không biết, không thưởng thức(1).[...] Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay,
cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta rồi mượn câu
văn, tiếng hát, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm,
đó là nhiệm vụ của nghệ thuật và, nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương(2).
Làm trọn nhiệm vụ ấy, nhà văn sẽ quên mình, thoát mình ra ngoài phạm vi hẹp
hòi của bản thân để sống cái đòi của mọi người, mọi vật. (3) Văn chương sẽ là hình
dung của sự sống muôn hình vạn trạng(4). Chẳng những thế, văn chương còn sáng
tạo ra sự sống Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm
dồi dào của nhà văn? (5) Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người,
những vật khác. (6) Sự sáng tạo này cũng có thể xem là xuất ở mối tình yêu thương
tha thiết. (7) Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực
tế. (8)[...] Những thế giới tưởng tượng trong văn chương cũng sáng tạo ra bởi lòng
yêu thương vô cùng của nhà văn. (9) Nếu có một người yêu Thuý Kiều còn nồng
nàn hơn Kim Trọng, người ấy là Nguyễn Du và chính Nguyễn Du đã trao sự sống
(Dẫn chứng)
của mình cho thiếu nữ trong truyện. (10)
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn
chương là tình cảm, là lòng vị tha. (11)Luận điểm Và vì thế, công dụng của
văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha. (12)
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực cuộc sống
và sáng tạo ra sự sống.
- Hoµi Thanh -
O du kích nhỏ dương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cú đầu (Tố Hữu)
- Hoµi Thanh -
Joanne Rowling(31/7/1965), là một nhà văn, nhà từ thiện,
nhà sản xuất phim và truyền hình, nhà biên kịch người Anh.
Hoµi Thanh
Cảnh trời với lòng người như một đám rừng sâu thẳm, hoa cỏ -hương
thơm, -sắc lạ
vô cùng mà người đòi là những khách vào rừng lại vì còn phải mưu cầu sự sống,
nên chỉ lo bẻ măng đào củ, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu hiện tượng li kì đều bỏ
qua không biết, không thưởng thức(1).[...] Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay,
cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta rồi mượn câu
văn, tiếng hát, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm,
đó là nhiệm vụ của nghệ thuật và, nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương(2).
Làm trọn nhiệm vụ ấy, nhà văn sẽ quên mình, thoát mình ra ngoài phạm vi hẹp
hòi của bản thân để sống cái đòi của mọi người, mọi vật. (3) Văn chương sẽ là hình
dung của sự sống muôn hình vạn trạng(4). Chẳng những thế, văn chương còn sáng
tạo ra sự sống Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm
dồi dào của nhà văn? (5) Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác, những người,
những vật khác. (6) Sự sáng tạo này cũng có thể xem là xuất ở mối tình yêu thương
tha thiết. (7) Yêu thương ngay những điều chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực
tế. (8)[...] Những thế giới tưởng tượng trong văn chương cũng sáng tạo ra bởi lòng
yêu thương vô cùng của nhà văn. (9) Nếu có một người yêu Thuý Kiều còn nồng
nàn hơn Kim Trọng, người ấy là Nguyễn Du và chính Nguyễn Du đã trao sự sống
của mình cho thiếu nữ trong truyện. (10)
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn
chương là tình cảm, là lòng vị tha. (11)Luận điểm Và vì thế, công dụng của
văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha. (12)
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực cuộc sống
và sáng tạo ra sự sống.
- Luận điểm đứng cuối đoạn văn.
Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương
mà
trở nên
- Hoµi
Thanh
thâm trầm và rộng rãi đến nghìn lần. (1) Luận điểm
Có kẻ nói từ khi thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ mới đẹp;
từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng
chim, tiếng suối nghe mới hay.(Dẫn
(2)
chứng)Lời ấy không có gì là quá đáng.
(3) Ta có thể tìm rất dễ dàng những ví dụ để chúng rằng, phần nhiều những
tình cảm, những cảm giác của người thời bây giờ đều do một ít người xưa có
thiên tài sáng tạo ra và lưu truyền lại. (3) Trên quả đất này từ khi có loài người
bao giờ vẫn núi non ấy, cây cỏ ấy, thế mà một người đời xưa với một người đời
nay nào có trông thấy như nhau. (4) Cả phong cảnh đã thay hình đổi dạng từ khi
có những nhà văn đưa cảm giác riêng của họ làm thành cảm giác chung của mọi
người. (5) (Dẫn chứng)
Và có thể nói rằng thế giới như ngày nay là một sự sáng tạo của họ. (6)
Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong
tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng
nghèo nàn sẽ đến bực nào! (7)
Vậy thì văn chương cứ làm tròn nhiệm vụ tự nhiên của nó cũng đã có ích rồi.
(8)Nhà nghệ thuật vị nghệ thuật theo lời Tê-ô-phin Gấu chê (Théophile Gautier)
nói: “Chỉ có cái gì vô ích mới đẹp”. (9)Trái lại, chúng tôi tin rằng cái đẹp tự
nhiên đã có ích rồi. (10) Vì cái đẹp văn chương theo chúng tôi là những tình
cảm, những cảm giác mới lạ có sức trau dồi, tô điểm cho đời người và trao cho
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực và sáng
tạo ra sự sống.
- Luận điểm đứng cuối đoạn văn.
- Văn chương gây cho ta những tình cảm
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có.
- Hoµi Thanh -
Em có tình cảm
gì sau khi nghe
bài sau?
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực và sáng
tạo ra sự sống.
- Văn chương gây cho ta những tình cảm
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có.
Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương
mà
trở nên
- Hoµi
Thanh
thâm trầm và rộng rãi đến nghìn lần. (1) Luận điểm
Có kẻ nói từ khi thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ mới đẹp;
từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng
chứng)
chim, tiếng suối nghe mới hay. (2) Lời ấy không có gì là quá đáng. (Dẫn
(3)
Ta có thể tìm rất dễ dàng những ví dụ để chúng rằng, phần nhiều những tình
cảm, những cảm giác của người thời bây giờ đều do một ít người xưa có thiên tài
sáng tạo ra và lưu truyền lại. (3) Trên quả đất này từ khi có loài người bao giờ
vẫn núi non ấy, cây cỏ ấy, thế mà một người đời xưa với một người đời nay nào
có trông thấy như nhau. (4) Cả phong cảnh đã thay hình đổi dạng từ khi có
những nhà văn đưa cảm giác riêng của họ làm thành cảm giác chung của mọi
người. (5) (Dẫn chứng)
Và có thể nói rằng thế giới như ngày nay là một sự sáng tạo của họ. (6)
Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong
tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng
nghèo nàn sẽ đến bực nào! (7)
Vậy thì văn chương cứ làm tròn nhiệm vụ tự nhiên của nó cũng đã có ích rồi.
(8)Nhà nghệ thuật vị nghệ thuật theo lời Tê-ô-phin Gấu chê (Théophile Gautier)
nói: “Chỉ có cái gì vô ích mới đẹp”. (9)Trái lại, chúng tôi tin rằng cái đẹp tự
nhiên đã có ích rồi. (10) Vì cái đẹp văn chương theo chúng tôi là những tình
cảm, những cảm giác mới lạ có sức trau dồi, tô điểm cho đời người và trao cho
2. Công dụng của văn chương.
- Hoµi Thanh -
- Văn chương phản ánh hiện thực và sáng
tạo ra sự sống.
- Văn chương gây cho ta những tình cảm
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có.
- Luận điểm đứng đầu đoạn văn.
- Dẫn chứng cụ thể, lí lẽ chặt chẽ. (Trình bày
khách quan)
Sơ đồ tổng kết
LUẬN ĐỀ
Ý nghĩa văn chương
LUẬN ĐIỂM 1
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người, lòng
thương muôn vật, muôn loài
LUẬN ĐIỂM 1.1
Văn chương là hình dung
của sự sống muôn hình vạn
trạng
LÍ LẼ
Văn chương
có nhiệm vụ
“vén tấm màn
đen ấy, tìm
cái hay, cái
đẹp, cái lạ”
để “làm cho
người ta cùng
nghe, cùng
thấy, cùng
cảm” qua tác
phẩm
BẰNG
CHỨNG
Những
cảnh thiên
nhiên tươi
đẹp mà
bình
thường do
mưu sinh
con người
bỏ lỡ
LUẬN ĐIỂM 1.2
Văn chương còn sáng tạo ra
sự sống
LÍ LẼ
- Để “thoả
mãn mối tình
cảm dồi dào”
của nhà văn
- Sự sáng tạo
của nhà văn
gắn với tình
yêu thương
tha thiết, để
“trao sự
sống” cho
nhân vật
BẰNG
CHỨNG
- Quá trình
sáng tác của
nhà văn: sáng
tạo ra thế giới
khác, những
người, sự vật
khác
- Trường hợp
Nguyễn Du và
nhân vật Thuý
Kiều
LUẬN ĐIỂM 2
Văn chương gây cho ta những tình cảm
ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp
LÍ LẼ – Cả phong
cảnh đã thay hình
đổi dạng từ khi có
những nhà văn đưa
cảm giác riêng của
họ làm thành cảm
giác chung của mọi
người
– Thế giới như ngày
nay là một sự sáng
tạo của nghệ sĩ
– Nếu thiếu nghệ sĩ
trong lịch sử và tâm
linh nhân loại, “cảnh
tượng nghèo nàn sẽ
đến bực nào”
BẰNG
CHỨNG
Những ví dụ
để chứng
minh rằng
phần nhiều
những tình
cảm, những
cảm giác của
người thời
bây giờ đều
do một ít
người xưa có
thiên tài sáng
tạo ra và
truyền lại
I. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN:
- Hoµi Thanh -
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI:
III. BÀI HỌC RÚT RA KHI VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN:
- Luận điểm có thể đứng đầu hoặc cuối đoạn văn.
- Dẫn chứng phải cụ thể, rõ ràng.
- Lí lẽ phải chặt chẽ, thuyết phục.
IV. LUYỆN TẬP:
IV. LUYỆN TẬP:
- Hoµi Thanh -
1. Bài tập 1:
(1). Những cơn gió heo may đầu mùa se lạnh.
(2). Mùa thu đã tới. LUẬN ĐIỂM
(3). Lá trên cành bắt đầu khoác lên mình một bộ áo
mới vàng óng.
(4). Và bao nhiêu em nhỏ tung tăng đến trường.
(3) =>(1) => (4)=> (2)
IV. LUYỆN TẬP:
2. Bài tập 2:
- Hoµi Thanh -
Viết đoạn văn phân tích hai câu thơ mà em yêu
thích?
NHẬN XÉT VÀ DẶN DÒ
- Đối với bài học tiết này:
+ Nắm đặc nguồn gốc và công dụng của Văn chương.
+ Nắm được lân điểm, dẫn chứng của bài nghị luận.
+ Tập viết bài nghị luận.
- Đối với bài học ở tiết tiếp theo:
+ Chuẩn bị bài: “Viết bài văn nghị luận phân tích tác
phẩm văn học”
+ Đọc kĩ bài văn mẫu, tìm luận điểm và dẫn chứng.
+ Hoàn thành bài tập 1,2,3,4(SGK/49).
+ Thực hành viết bài phân tích về tác phẩm mình thích.
 








Các ý kiến mới nhất