Tìm kiếm Bài giảng
Bài 22. Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Vy
Ngày gửi: 20h:51' 15-03-2021
Dung lượng: 21.9 MB
Số lượt tải: 154
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Vy
Ngày gửi: 20h:51' 15-03-2021
Dung lượng: 21.9 MB
Số lượt tải: 154
Số lượt thích:
0 người
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Thị Vy
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO
TRƯỜNG THCS CẨM THÀNH
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG QUÝ THẦY, CÔ
VỀ DỰ TIẾT HỌC!
Môn: Ngữ văn
KHỞI ĐỘNG
Trò chơi: Ai nhanh hơn?
Trong 1 phút: Mỗi tổ 3 bạn lên bảng
? Ghi lại tên các kinh đô ở nước ta từ xưa tới nay ?
Đây là bức cuốn thư “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) đặt ở đền Đô Bắc Ninh: Cao 3,5m, rộng 8m và được ghép lại từ 214 chữ Hán làm bằng gốm Bát Tràng. Và đây được coi là bức chiếu làm bằng gốm lớn nhất Việt Nam.
Bức cuốn thư “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) đặt ở đền Đô (Bắc Ninh)
Bức “Chiếu dời đô” được mạ bằng vàng, gắn trên khung gỗ hương.
Mộc bản “Chiếu dời đô” được
Trung tâm lưu giữ Quốc gia IV tìm thấy nhân dịp kỉ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Thể loại:
Chiếu
Là thể văn do vua dùng ban bố mệnh lệnh.
Thường thể hiện tư tưởng chính trị lớn, ảnh hưởng đến vận mệnh triều đại, đất nước.
Hình thức:
Viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu, câu văn biền ngẫu cân đối, nhịp nhàng, sử dụng các điển tích, điển cố.
Mục đích:
Nội dung:
- Văn biền ngẫu” còn gọi là “Biền văn” là một thể văn du nhập từ nền văn học cổ đại Trung Quốc vào nước ta trong thời Bắc thuộc.
- Đặc điểm của biền văn là kết cấu ngôn ngữ đối xứng. Ngay trong từ “biền ngẫu” đã có nghĩa là đối xứng (“Biền”: hai ngựa thắng chung một xe; “ngẫu”: hai người cùng gọi một lúc).
VD: Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi.
Bố cục: 3 phần
Phần 1:
Từ đầu … “không thể không dời đổi”.
Phần 2:
Tiếp theo … “muôn đời”
Phần 3:
Còn lại
Những tiền đề lịch sử và thực tiễn của việc dời đô.
Những lí do để chọn thành Đại La làm kinh đô mới.
Thông báo quyết định dời đô (Kết luận)
“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh...”
“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh...”
“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh...”
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, môn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi...”
Học sinh quan sát câu văn: Nhận xét về hình thức của câu văn ?
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.
Học sinh quan sát câu văn: Nhận xét về hình thức của câu văn ?
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.
Ở câu văn này:
- 4 vế trên cùng hướng tới một cái đích: lẽ ra phải là sự đổi thay của nhà Đinh, Lê.
- 4 vế sau thông qua + Phép đối, hình thức biền văn
+ Tạo sự nhịp nhàng, cân xứng và nhấn mạnh
=> Hậu quả của việc không dời đô.
13 năm (968 - 980)
là triều đại Đinh
29 năm tiếp
(980-1009)
là triều Tiền Lê
Cố đô
Hoa Lư
Đầu tháng 11/1009,
Lí Công Uẩn lên ngôi vua tại Hoa Lư
Địa thế của Hoa Lư
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, môn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi...”
“Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.”
- Hình thức: “không thể không dời đổi”
-> Cấu trúc phủ định 2 lần khiến cho ý khẳng định thêm mạnh mẽ.
=> Đây chính là chân lí của tư duy.
- Nội dung:
+ Thể hiện những trăn trở của nhà vua -> quyết tâm dời đô.
+ Bộc lộ tình cảm yêu nước, thương dân vô cùng sâu sắc.
Lập luận: Kết hợp hài hòa giữa lí và tình cảm.
Lý do dời đô
Trong lịch sử
Trong thực tế
Nhà Thương 5 lần dời đô
Nhà Chu 3 lần dời đô
Nhà Đinh, Lê
không dời đô
Vững bền, thịnh vượng
Triều đại ngắn ngủi, suy yếu.
Tất yếu của lịch sử
Lập luận chặt chẽ, có lí có tình.
Hướng dẫn tự học
Bài mới: Chuẩn bị tiết 2 bài “Chiếu dời đô”
Hoàn thành nội dung bảng theo gợi ý.
Làm bài tập tình huống.
Lợi thế của thành Đại La
Về lịch sử
Về vị trí địa lí
Địa thế
Văn hóa
- Đại La “là thắng địa” là……………………………………………………….
- Xứng đáng là…………………………………………………………………
- Thể hiện tầm nhìn …………………………………, một cái nhìn ………….
Sau 1000 năm, Hà Nội đã trở thành 1 thủ đô hòa bình, trung tâm chính trị - văn hóa của cả nước càng ... dời đô của Lí Công Uẩn “mưu toan nghiệp lớn” , tính kế muôn đời cho con cháu.
Sự kết hợp giữa lí và tình
Về lí
Về tình
Giả sử em là “vua” của nước 8A7. Hãy suy nghĩ và viết 1 bài chiếu ngắn để cải thiện tình hình học tập, kỉ luật của lớp.
Cảm ơn thầy cô và các em !
Chúc thầy cô và em sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống !
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO
TRƯỜNG THCS CẨM THÀNH
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG QUÝ THẦY, CÔ
VỀ DỰ TIẾT HỌC!
Môn: Ngữ văn
KHỞI ĐỘNG
Trò chơi: Ai nhanh hơn?
Trong 1 phút: Mỗi tổ 3 bạn lên bảng
? Ghi lại tên các kinh đô ở nước ta từ xưa tới nay ?
Đây là bức cuốn thư “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) đặt ở đền Đô Bắc Ninh: Cao 3,5m, rộng 8m và được ghép lại từ 214 chữ Hán làm bằng gốm Bát Tràng. Và đây được coi là bức chiếu làm bằng gốm lớn nhất Việt Nam.
Bức cuốn thư “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) đặt ở đền Đô (Bắc Ninh)
Bức “Chiếu dời đô” được mạ bằng vàng, gắn trên khung gỗ hương.
Mộc bản “Chiếu dời đô” được
Trung tâm lưu giữ Quốc gia IV tìm thấy nhân dịp kỉ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Thể loại:
Chiếu
Là thể văn do vua dùng ban bố mệnh lệnh.
Thường thể hiện tư tưởng chính trị lớn, ảnh hưởng đến vận mệnh triều đại, đất nước.
Hình thức:
Viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu, câu văn biền ngẫu cân đối, nhịp nhàng, sử dụng các điển tích, điển cố.
Mục đích:
Nội dung:
- Văn biền ngẫu” còn gọi là “Biền văn” là một thể văn du nhập từ nền văn học cổ đại Trung Quốc vào nước ta trong thời Bắc thuộc.
- Đặc điểm của biền văn là kết cấu ngôn ngữ đối xứng. Ngay trong từ “biền ngẫu” đã có nghĩa là đối xứng (“Biền”: hai ngựa thắng chung một xe; “ngẫu”: hai người cùng gọi một lúc).
VD: Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi.
Bố cục: 3 phần
Phần 1:
Từ đầu … “không thể không dời đổi”.
Phần 2:
Tiếp theo … “muôn đời”
Phần 3:
Còn lại
Những tiền đề lịch sử và thực tiễn của việc dời đô.
Những lí do để chọn thành Đại La làm kinh đô mới.
Thông báo quyết định dời đô (Kết luận)
“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh...”
“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh...”
“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh...”
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, môn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi...”
Học sinh quan sát câu văn: Nhận xét về hình thức của câu văn ?
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.
Học sinh quan sát câu văn: Nhận xét về hình thức của câu văn ?
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.
Ở câu văn này:
- 4 vế trên cùng hướng tới một cái đích: lẽ ra phải là sự đổi thay của nhà Đinh, Lê.
- 4 vế sau thông qua + Phép đối, hình thức biền văn
+ Tạo sự nhịp nhàng, cân xứng và nhấn mạnh
=> Hậu quả của việc không dời đô.
13 năm (968 - 980)
là triều đại Đinh
29 năm tiếp
(980-1009)
là triều Tiền Lê
Cố đô
Hoa Lư
Đầu tháng 11/1009,
Lí Công Uẩn lên ngôi vua tại Hoa Lư
Địa thế của Hoa Lư
“... Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, môn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi...”
“Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.”
- Hình thức: “không thể không dời đổi”
-> Cấu trúc phủ định 2 lần khiến cho ý khẳng định thêm mạnh mẽ.
=> Đây chính là chân lí của tư duy.
- Nội dung:
+ Thể hiện những trăn trở của nhà vua -> quyết tâm dời đô.
+ Bộc lộ tình cảm yêu nước, thương dân vô cùng sâu sắc.
Lập luận: Kết hợp hài hòa giữa lí và tình cảm.
Lý do dời đô
Trong lịch sử
Trong thực tế
Nhà Thương 5 lần dời đô
Nhà Chu 3 lần dời đô
Nhà Đinh, Lê
không dời đô
Vững bền, thịnh vượng
Triều đại ngắn ngủi, suy yếu.
Tất yếu của lịch sử
Lập luận chặt chẽ, có lí có tình.
Hướng dẫn tự học
Bài mới: Chuẩn bị tiết 2 bài “Chiếu dời đô”
Hoàn thành nội dung bảng theo gợi ý.
Làm bài tập tình huống.
Lợi thế của thành Đại La
Về lịch sử
Về vị trí địa lí
Địa thế
Văn hóa
- Đại La “là thắng địa” là……………………………………………………….
- Xứng đáng là…………………………………………………………………
- Thể hiện tầm nhìn …………………………………, một cái nhìn ………….
Sau 1000 năm, Hà Nội đã trở thành 1 thủ đô hòa bình, trung tâm chính trị - văn hóa của cả nước càng ... dời đô của Lí Công Uẩn “mưu toan nghiệp lớn” , tính kế muôn đời cho con cháu.
Sự kết hợp giữa lí và tình
Về lí
Về tình
Giả sử em là “vua” của nước 8A7. Hãy suy nghĩ và viết 1 bài chiếu ngắn để cải thiện tình hình học tập, kỉ luật của lớp.
Cảm ơn thầy cô và các em !
Chúc thầy cô và em sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống !
 








Các ý kiến mới nhất