Tìm kiếm Bài giảng
Bài 45. Thực hành: Tìm hiểu môi trường và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Ngọc Nam
Ngày gửi: 13h:30' 21-04-2021
Dung lượng: 12.2 MB
Số lượt tải: 39
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Ngọc Nam
Ngày gửi: 13h:30' 21-04-2021
Dung lượng: 12.2 MB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích:
0 người
Cre: Đỗ Ngọc Nam
Thuyết trình về các loại động vật em yêu thích nhất
Giới thiệu về thế giới tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm tất cả các sinh vật sống và không sống có trong tự nhiên, có nghĩa là không phải là nhân tạo. Thuật ngữ này thường được áp dụng cho Trái Đất hoặc một số phần của Trái Đất. Môi trường này bao gồm sự tương tác của tất cả các loài sống, khí hậu, thời tiết và tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người và hoạt động kinh tế. Khái niệm môi trường tự nhiên có thể được phân biệt thành các thành phần:
Các đơn vị sinh thái hoàn chỉnh hoạt động như các hệ thống tự nhiên mà không có sự can thiệp lớn của con người văn minh, bao gồm tất cả thảm thực vật, vi sinh vật, đất, đá, khí quyển và các hiện tượng thiên nhiên xảy ra trong ranh giới và bản chất của chúng.
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên phổ biến và các hiện tượng vật lý thiếu ranh giới rõ ràng, chẳng hạn như không khí, nước và khí hậu, cũng như năng lượng, bức xạ, điện tích và từ tính, không bắt nguồn từ hành động văn minh của con người.
Nội dung
thuyết trình
Sao La
01
02
03
04
Voọc quần đùi trắng
Cá heo Vaquita
Hổ Nam Trung Hoa (hổ hoa nam)
Vẹt đuôi xanh dài
05
06
Tê Giác Java
Sao la
01
1. Lịch sử khám phá
Sao la được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới tại Việt Nam vào tháng 5 năm 1992 trong một chuyến khảo sát được Bộ Lâm nghiệp Việt Nam và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tiến hành trong Vườn quốc gia Vũ Quang. Sau đó, các nhà khoa học đã tiếp tục tìm kiếm và phát hiện thêm 20 con sao la nữa cũng trong năm 1992.
Việc khám phá ra loài sao la đã gây chấn động trên thế giới vì giới khoa học đã cho rằng việc tìm thấy một loài thú lớn vào cuối thế kỷ 20 là chuyện khó có thể xảy ra. Sau này sao la cũng được tìm thấy ở các nơi khác trong phạm vi của rừng Trường Sơn thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và nhiều tỉnh thuộc Lào.
Sau này sao la cũng được tìm thấy ở các nơi khác trong phạm vi của rừng Trường Sơn thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và nhiều tỉnh thuộc Lào.
Mãi đến năm 1996 người ta mới bắt và chụp ảnh được một con sao la còn sống tại Lào, nhưng sau đó vài tuần nó đã chết. Đầu tháng 8 năm 2010, người dân tại tỉnh Borikhamxay của Lào bắt được một con sao la đực và chụp ảnh khi nó còn sống, nhưng sau đó, con vật đã chết .
Ngày 7 tháng 9 năm 2013, sau 15 năm biệt tăm ở Việt Nam kể từ năm 1998, hình ảnh sao la trong tự nhiên đã được ghi nhận ở Quảng Nam, trước đó, lần cuối cùng sao la được trông thấy trong tự nhiên là vào năm 1999 tại Bolikhamxai.
Sao la dài khoảng 1,3 đến 1,5 m, cao 90 cm và có trọng lượng khoảng 100 kg. Da màu nâu sẫm, trên mỗi móng có một đốm trắng. Sừng sao la dài và mảnh dẻ, hướng thẳng về phía sau và có thể dài đến 51 cm.
2. Hình dạng
3) Nơi sống
Sao la sống trong các khu rừng rậm chủ yếu gần nơi có suối trên độ cao 200 – 600 m trên mực nước biển dọc dãy Trường Sơn, vào mùa đông, sao la sẽ di cư xuống những vùng đất thấp hơn để tránh rét. Vì ít khi được quan sát nên khoa học không biết nhiều về tập quán sinh sống của chúng.
Tê giác java
02
1. Hình dáng
Tê giác Java hay tê giác Sunda, còn được gọi tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) là một trong năm loài động vật guốc lẻ còn sống sót của họ Tê giác. Chúng cùng thuộc 1 chi với loài tê giác Ấn Độ, và cũng có một bộ da nếp gấp giống như 1 bộ áo giáp, tuy nhiên chúng chỉ dài có 3,1–3,2 m (10–10,5 ft) và cao 1,4–1,7 m (4,6–5,8 ft), nhỏ hơn tê giác Ấn Độ và gần tương đương với kích cỡ loài tê giác đen.
2) Nơi sống
Tê giác Java hiện nay đang tồn tại ở hai nơi: vườn quốc gia Ujung Kulon phía Tây đảo Java và vườn quốc gia Cát Tiên. Chúng chủ yếu sinh sống ở các vùng rừng mưa rậm rạp trên đất thấp, những vùng lau sậy và cỏ cao cạnh các con sông, những vùng bãi bồi triền sông rộng lớn, hay những khu vực ẩm ướt. Dù trong lịch sử, chúng thích sống ở những nơi thấp, thì phân loài ở Việt Nam đã di chuyển lên nơi cao hơn bởi sự xâm lấn và săn bắt của con người.
3)Bảo tồn
Nguyên nhân chính cho việc suy giảm liên tục số lượng loài tê giác Java là việc chúng bị săn bắt để lấy sừng, một vấn đề không chỉ của chúng mà còn có ở tất cả các loài tê giác khác. Những chiếc sừng đã trở thành hàng hóa buôn bán ở Trung Quốc trong hơn 2000 năm qua, bởi họ tin rằng chúng có tác dụng hiệu quả trong y học phương Đông cổ truyền.
Sau khi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguycấp (CITES) bắt đầu có hiệu lực năm 1975, loài tê giác Java đã được liệt kê bảo vệ ở Phụ lục 1, có nghĩa là: tất cả các giao dịch quốc tế về tê giác Java và các sản phẩm bắt nguồn từ chúng đều là bất hợp pháp. Những khảo sát về tê giác ở chợ đen đã xác định rằng: sừng của những con tê giác châu Á (tê giác Ấn Độ, Java và Sumatra) có thể đạt tới giá 30.000 USD mỗi kilôgam, tức gấp ba lần so với sừng những con tê giác châu Phi cùng họ.
03
Voọc quần đùi trắng
1) Hình dáng
Voọc quần đùi trắng hay là voọc mông trắng (danh pháp khoa học: Trachypithecus delacouri, được đặt tên theo nhà điểu học người Mỹ gốc Pháp Jean Théodore Delacour) là một loài linh trưởng cỡ lớn thuộc họ Khỉ Cựu thế giới (Cercopithecidae), bộ Linh trưởng (Primates), đặc hữu của Việt Nam. Tại Việt Nam, voọc quần đùi trắng là loài đặc hữu quý hiếm, có tên trong "Sách Đỏ" của Việt Nam và thế giới; cần được bảo vệ. Đây là một trong năm loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu.
Trọng lượng cơ thể 8,1 – 9 kg; chiều dài đầu và thân 0,46 - 0,665 m. Trên đỉnh đầu có mào lông màu đen, có vệt lông trắng khá rộng hai bên má kéo dài lên phía trên vành tai. Chân có bộ lông màu đen. Vùng mông có lông màu trắng kéo dài tới tận gốc đuôi và đùi; chân tay dài. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi màu đen. Thức ăn chủ yếu là chồi cây, lá và quả cây.
2) Phân bố
Voọc quần đùi trắng phân bố ở rừng già, rừng nguyên sinh trên núi đá nhiều hang động. Theo kết quả điều tra của Hội Bảo vệ Động vật Frankfurk (Đức) tại Việt Nam, voọc quần đùi trắng chỉ còn ở Việt Nam với hơn 200 cá thể, được phân bố tại 18 điểm tách biệt nhau thuộc các tỉnh Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình và Thanh Hóa.Tại Việt Nam, voọc quần đùi trắng được tập trung bảo tồn ở hai nơi: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long và Vườn Quốc gia Cúc Phương.
3. Bảo tồn
Để cứu voọc mông trắng khỏi nguy cơ tuyệt chủng và bảo vệ quần thể Tam Chúc như một di sản thế giới, các cấp, các ngành cùng người dân tỉnh Hà Nam cần thực hiện ngay một số mục tiêu ưu tiên; ngừng mọi hoạt động khai thác đá vôi tại khu vực rừng tại huyện Kim Bảng và một phần của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Cần tiếp tục duy trì kết nối sinh cảnh, khả năng tồn tại của voọc mông trắng phụ thuộc vào khả năng di chuyển cũng như sinh sản trong toàn bộ trong toàn bộ cảnh quan này. Nếu như hành lang sinh cảnh giữa những khu rừng này bị mất đi thì khả năng tuyệt chủng của loài linh trưởng này là rất cao. Rà soát, đánh giá việc chấp hành yêu cầu về môi trường của các hoạt động khai thác đá trên địa bàn, bảo đảm không gây ảnh hưởng sự tồn tại và phát triển của các loài voọc mông trắng trong tự nhiên.
Chính vì vậy, việc bảo tồn sự tồn tại của loài linh trưởng quý hiếm và độc đáo voọc mông trắng là cần thiết, góp phần đem lại nhiều lợi ích cho quá trình kết hợp cảnh quan Tràng An, Tam Chúc với những khu rừng được bảo vệ, tạo thành một vùng di sản thế giới được UNESCO công nhận.
04
Cá heo Vaquita
Cá heo Vaquita là một loài cá trong họ Cá heo chuột, nghĩa đen là "bò nhỏ", là một loài cá heo đặc hữu của vùng cuối phía bắc của Vịnh California (Biển Cortez, Biển Vermilion). Chiều dài trung bình 150cm (đối với con cái) hoặc 140cm (đối với con đực). Chúng sống ở các đầm phá nông, đục dọc theo các bờ biển và hiếm khi được nhìn thấy ở nhiều nước sâu hơn 30 mét, thật sự nó có thể tồn tại trong các ao hồ để nông nhô ra trở lại trên bề mặt. Loài cá vi này thường được nhìn thấy trong nước 11-50 mét sâu, 11–25 km từ bờ biển, trên đáy bùn và đất sét. Môi trường sống của nó được đặc trưng bởi nước đục với có nhiều con mồi với hàm lượng dinh dưỡng cao. Ngày nay, loài này đang trên đà tuyệt chủng. Nghiên cứu gần đây ước tính dân số có ít hơn 19 cá thể[1]. Sự suy giảm mạnh về mức độ phong phú chủ yếu là do đánh bắt
cá mang từ nghề đánh bắt
cá totoaba bất hợp pháp.
1) Hình dáng
2) Phân bố
Môi trường sống của Vaquita chỉ giới hạn ở một phần nhỏ của thượng lưu Vịnh California (còn gọi là Biển Cortez), khiến đây là phạm vi nhỏ nhất trong số các loài động vật có vú biển. Chúng sống ở vùng nước nông, đục, độ sâu dưới 50 m (150 ft).
3) Bảo tồn
Thông báo ngày 4/4 của Bộ Môi trường Mexico cho biết kế hoạch khẩn cấp đầy tham vọng này là nhằm bảo vệ loài cá heo chuột (vaquita). Theo đó, các chú cá heo sẽ được đưa đến một môi trường sống mới, an toàn và phù hợp để chúng có thể sinh trưởng và phát triển giống loài. Theo Bộ trên, Chính phủ hiện đã phân bổ ngân sách 3 triệu USD cho chương trình bảo tồn động vật này.
Kế hoạch được công bố trong bối cảnh tháng 2 vừa qua, các nhà sinh vật cảnh báo chỉ còn 30 cá thể cá heo chuột sống tại vùng biển của Mexico, đồng thời dự báo loài này sẽ tuyệt chủng vào năm 2022.
Tuy nhiên, kế hoạch cũng gây tranh cãi trong giới bảo tồn do nhiều chuyên gia cho rằng loài cá heo này không thể sinh trưởng tốt trong môi trường phi tự nhiên. Theo nhiều nhà khoa học, sau một thời gian bị dồn đuổi, bắt giữ và chuyển môi trường sinh trưởng, sẽ rất khó để dự đoán phản ứng của loài cá heo này.
Hổ Nam Trung Hoa
(hổ hoa nam)
05
1. Hình dáng
Hổ Hoa Nam còn gọi là hổ Hạ Môn, là một phân loài hổ sống ở miền Nam Trung Quốc, phân bố ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam và Giang Tây. Đây là nòi hổ đang nằm trong tình trạng nguy hiểm nhất, được liệt kê là loài cực kỳ nguy cấp trong Sách đỏ IUCN từ năm 1996, và gần như đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Có thể là con hổ hoang cuối cùng được biết đến ở miền nam Trung Quốc đã bị bắn hạ vào năm 1994, và trong hai mươi năm gần đây nhất người ta không nhìn thấy một con hổ còn sống nào trong khu vực sinh sống của chúng. Vào cuối những năm 1990, sự sống sót tiếp tục được coi là không thể xảy ra do mật độ con mồi thấp, suy thoái và phân mảnh môi trường sống lan rộng và áp lực khác của con người.
Năm 1959, Mao Trạch Đông tuyên bố rằng hổ là một con vật có hại, và số lượng của chúng đã nhanh chóng giảm từ khoảng 4.000 con xuống còn khoảng 200 con năm 1976. Năm 1977 chính phủ Trung Quốc sửa đổi lại luật, cấm chỉ việc giết hổ hoang, nhưng điều này có lẽ đã quá muộn để có thể bảo vệ nòi này. Hiện tại còn 59 con còn đang bị nuôi nhốt, tất cả đều tại Trung Quốc, nhưng chúng chỉ sinh được có sáu con. Vì thế, tính đa dạng di truyền không được duy trì, làm cho khả năng tuyệt chủng vĩnh viễn trở nên rõ nét.
2.Phân bố
Phạm vi lịch sử của hổ Hoa Nam trải dài trên một lãnh thổ rộng lớn đến 2.000 km (1.200 dặm) từ đông sang tây và 1.500 km (930 mi) từ bắc xuống nam ở Trung Quốc. Từ phía đông, nó dao động từ các tỉnh Giang Tây và Chiết Giang ở khoảng kinh độ 120 ° E về phía tây qua các tỉnh Quý Châu và Tứ Xuyên ở khoảng kinh độ 100 ° E. Phần mở rộng nhất về phía bắc là ở vùng núi Tần Lĩnh và sông Hoàng Hà ở khoảng vĩ độ 35 ° N đến phần mở rộng phía nam của nó ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam ở vĩ độ 21 ° N.
3. Bảo tồn
Năm 1973, hổ Hoa Nam được phân loại là được bảo vệ bằng săn bắn có kiểm soát. Năm 1977, nó được phân loại là được bảo vệ và việc săn bắn bị cấm. Tất cả các phân loài hổ được bao gồm trong Phụ lục I của Công ước I, cấm thương mại quốc tế. Tất cả các quốc gia phạm vi hổ và các quốc gia có thị trường tiêu dùng cũng đã cấm thương mại nội địa.
Tổ chức phi chính phủ Save Tiger của Trung Quốc, với sự hỗ trợ của Cục Lâm nghiệp Nhà nước Trung Quốc đã phát triển một kế hoạch tái du nhập những con hổ Hoa Nam bị giam cầm vào các khu vực lớn ở miền nam Trung Quốc. Các mối quan tâm chính liên quan đến việc giới thiệu lại là sự sẵn có của môi trường sống phù hợp và con mồi thích hợp, và sự phù hợp của quần thể nuôi nhốt. Bảo tồn cấp độ cảnh quan của môi trường sống hoang dã và phục hồi các quần thể động vật hoang dã tạo quần thể con mồi cho hổ sẽ được yêu cầu. Một mục tiêu cuối cùng được đề xuất là thiết lập ít nhất ba quần thể, với mỗi quần thể bao gồm tối thiểu khoảng 15-20 con hổ sống trong môi trường tự nhiên có diện tích tối thiểu 1.000 km2 (390 dặm vuông). Khảo sát thực địa hợp tác và hội thảo đã được thực hiện để xác định các khu vực phục hồi phù hợp.
Tại Hội nghị lần thứ 14 của các Bên tham gia Công ước CITES năm 2007, việc chấm dứt nuôi nhốt hổ và ngừng buôn bán các sản phẩm từ hổ nuôi ở Trung Quốc đã được kêu gọi.
Vẹt đuôi xanh dài
06
1. Hình dáng
Vẹt đuôi dài xanh (Danh pháp khoa học: Cyanopsitta spixii) là một loài chim trong họ Psittacidae Vẹt đuôi dài xanh dài khoảng 55-57 cm. Thân của nó như tên gọi là màu xanh, đầu, đuôi xanh nhạt, xanh đậm ở phần bụng, cánh và chân. Phần chân màu đen. Chúng có màu lông đôi lúc ngả trắng phù hợp với môi trường. Mỏ chúng màu đen xám. Tiếng kêu của chúng khá trầm, lớn.
2.Phân bố
Những con vẹt đuôi dài nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbean. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.
3. Bảo tồn
Khoảng những năm 1980, vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép. Dẫn đến sụt giảm loài này nhanh chóng. Từ năm 2004, loài vẹt đuôi dài đã gần như bị tuyệt chủng.Nguyên nhân là do nạn săn bắt, kinh doanh và nuôi nhốt nên chúng dễ bị mắc bệnh.
Thống kê cho thấy, trong năm 2010, loài vẹt này chỉ còn 85 cá thể. Toàn bộ các con đực và cái đều lần lượt tham gia giao phối bởi tổ chức ICMBio và chính phủ Bảo tồn Thiên nhiên Brazil để duy trì khỏi nạn tuyệt chủng. Đến 2015, số lượng cá thể tăng lên gần 100 cá thể nhưng vẫn rất ít.
Cá thể cuối cùng của loài vẹt xanh đuôi dài đã biến mất trong tự nhiên từ năm 2001, nhưng các nhà bảo tồn vẫn nỗ lực tìm kiếm trong suốt 17 năm qua. Đến cuối cùng, họ buộc phải chấp nhận sự thật và phân loại chúng vào danh sách đã tuyệt chủng vào năm 2018.
Thank you
Do you have any question
Đỗ Ngọc Nam
namngocdo271106
0773468184
Thuyết trình về các loại động vật em yêu thích nhất
Giới thiệu về thế giới tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm tất cả các sinh vật sống và không sống có trong tự nhiên, có nghĩa là không phải là nhân tạo. Thuật ngữ này thường được áp dụng cho Trái Đất hoặc một số phần của Trái Đất. Môi trường này bao gồm sự tương tác của tất cả các loài sống, khí hậu, thời tiết và tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người và hoạt động kinh tế. Khái niệm môi trường tự nhiên có thể được phân biệt thành các thành phần:
Các đơn vị sinh thái hoàn chỉnh hoạt động như các hệ thống tự nhiên mà không có sự can thiệp lớn của con người văn minh, bao gồm tất cả thảm thực vật, vi sinh vật, đất, đá, khí quyển và các hiện tượng thiên nhiên xảy ra trong ranh giới và bản chất của chúng.
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên phổ biến và các hiện tượng vật lý thiếu ranh giới rõ ràng, chẳng hạn như không khí, nước và khí hậu, cũng như năng lượng, bức xạ, điện tích và từ tính, không bắt nguồn từ hành động văn minh của con người.
Nội dung
thuyết trình
Sao La
01
02
03
04
Voọc quần đùi trắng
Cá heo Vaquita
Hổ Nam Trung Hoa (hổ hoa nam)
Vẹt đuôi xanh dài
05
06
Tê Giác Java
Sao la
01
1. Lịch sử khám phá
Sao la được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới tại Việt Nam vào tháng 5 năm 1992 trong một chuyến khảo sát được Bộ Lâm nghiệp Việt Nam và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tiến hành trong Vườn quốc gia Vũ Quang. Sau đó, các nhà khoa học đã tiếp tục tìm kiếm và phát hiện thêm 20 con sao la nữa cũng trong năm 1992.
Việc khám phá ra loài sao la đã gây chấn động trên thế giới vì giới khoa học đã cho rằng việc tìm thấy một loài thú lớn vào cuối thế kỷ 20 là chuyện khó có thể xảy ra. Sau này sao la cũng được tìm thấy ở các nơi khác trong phạm vi của rừng Trường Sơn thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và nhiều tỉnh thuộc Lào.
Sau này sao la cũng được tìm thấy ở các nơi khác trong phạm vi của rừng Trường Sơn thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và nhiều tỉnh thuộc Lào.
Mãi đến năm 1996 người ta mới bắt và chụp ảnh được một con sao la còn sống tại Lào, nhưng sau đó vài tuần nó đã chết. Đầu tháng 8 năm 2010, người dân tại tỉnh Borikhamxay của Lào bắt được một con sao la đực và chụp ảnh khi nó còn sống, nhưng sau đó, con vật đã chết .
Ngày 7 tháng 9 năm 2013, sau 15 năm biệt tăm ở Việt Nam kể từ năm 1998, hình ảnh sao la trong tự nhiên đã được ghi nhận ở Quảng Nam, trước đó, lần cuối cùng sao la được trông thấy trong tự nhiên là vào năm 1999 tại Bolikhamxai.
Sao la dài khoảng 1,3 đến 1,5 m, cao 90 cm và có trọng lượng khoảng 100 kg. Da màu nâu sẫm, trên mỗi móng có một đốm trắng. Sừng sao la dài và mảnh dẻ, hướng thẳng về phía sau và có thể dài đến 51 cm.
2. Hình dạng
3) Nơi sống
Sao la sống trong các khu rừng rậm chủ yếu gần nơi có suối trên độ cao 200 – 600 m trên mực nước biển dọc dãy Trường Sơn, vào mùa đông, sao la sẽ di cư xuống những vùng đất thấp hơn để tránh rét. Vì ít khi được quan sát nên khoa học không biết nhiều về tập quán sinh sống của chúng.
Tê giác java
02
1. Hình dáng
Tê giác Java hay tê giác Sunda, còn được gọi tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) là một trong năm loài động vật guốc lẻ còn sống sót của họ Tê giác. Chúng cùng thuộc 1 chi với loài tê giác Ấn Độ, và cũng có một bộ da nếp gấp giống như 1 bộ áo giáp, tuy nhiên chúng chỉ dài có 3,1–3,2 m (10–10,5 ft) và cao 1,4–1,7 m (4,6–5,8 ft), nhỏ hơn tê giác Ấn Độ và gần tương đương với kích cỡ loài tê giác đen.
2) Nơi sống
Tê giác Java hiện nay đang tồn tại ở hai nơi: vườn quốc gia Ujung Kulon phía Tây đảo Java và vườn quốc gia Cát Tiên. Chúng chủ yếu sinh sống ở các vùng rừng mưa rậm rạp trên đất thấp, những vùng lau sậy và cỏ cao cạnh các con sông, những vùng bãi bồi triền sông rộng lớn, hay những khu vực ẩm ướt. Dù trong lịch sử, chúng thích sống ở những nơi thấp, thì phân loài ở Việt Nam đã di chuyển lên nơi cao hơn bởi sự xâm lấn và săn bắt của con người.
3)Bảo tồn
Nguyên nhân chính cho việc suy giảm liên tục số lượng loài tê giác Java là việc chúng bị săn bắt để lấy sừng, một vấn đề không chỉ của chúng mà còn có ở tất cả các loài tê giác khác. Những chiếc sừng đã trở thành hàng hóa buôn bán ở Trung Quốc trong hơn 2000 năm qua, bởi họ tin rằng chúng có tác dụng hiệu quả trong y học phương Đông cổ truyền.
Sau khi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguycấp (CITES) bắt đầu có hiệu lực năm 1975, loài tê giác Java đã được liệt kê bảo vệ ở Phụ lục 1, có nghĩa là: tất cả các giao dịch quốc tế về tê giác Java và các sản phẩm bắt nguồn từ chúng đều là bất hợp pháp. Những khảo sát về tê giác ở chợ đen đã xác định rằng: sừng của những con tê giác châu Á (tê giác Ấn Độ, Java và Sumatra) có thể đạt tới giá 30.000 USD mỗi kilôgam, tức gấp ba lần so với sừng những con tê giác châu Phi cùng họ.
03
Voọc quần đùi trắng
1) Hình dáng
Voọc quần đùi trắng hay là voọc mông trắng (danh pháp khoa học: Trachypithecus delacouri, được đặt tên theo nhà điểu học người Mỹ gốc Pháp Jean Théodore Delacour) là một loài linh trưởng cỡ lớn thuộc họ Khỉ Cựu thế giới (Cercopithecidae), bộ Linh trưởng (Primates), đặc hữu của Việt Nam. Tại Việt Nam, voọc quần đùi trắng là loài đặc hữu quý hiếm, có tên trong "Sách Đỏ" của Việt Nam và thế giới; cần được bảo vệ. Đây là một trong năm loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu.
Trọng lượng cơ thể 8,1 – 9 kg; chiều dài đầu và thân 0,46 - 0,665 m. Trên đỉnh đầu có mào lông màu đen, có vệt lông trắng khá rộng hai bên má kéo dài lên phía trên vành tai. Chân có bộ lông màu đen. Vùng mông có lông màu trắng kéo dài tới tận gốc đuôi và đùi; chân tay dài. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi màu đen. Thức ăn chủ yếu là chồi cây, lá và quả cây.
2) Phân bố
Voọc quần đùi trắng phân bố ở rừng già, rừng nguyên sinh trên núi đá nhiều hang động. Theo kết quả điều tra của Hội Bảo vệ Động vật Frankfurk (Đức) tại Việt Nam, voọc quần đùi trắng chỉ còn ở Việt Nam với hơn 200 cá thể, được phân bố tại 18 điểm tách biệt nhau thuộc các tỉnh Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình và Thanh Hóa.Tại Việt Nam, voọc quần đùi trắng được tập trung bảo tồn ở hai nơi: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long và Vườn Quốc gia Cúc Phương.
3. Bảo tồn
Để cứu voọc mông trắng khỏi nguy cơ tuyệt chủng và bảo vệ quần thể Tam Chúc như một di sản thế giới, các cấp, các ngành cùng người dân tỉnh Hà Nam cần thực hiện ngay một số mục tiêu ưu tiên; ngừng mọi hoạt động khai thác đá vôi tại khu vực rừng tại huyện Kim Bảng và một phần của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Cần tiếp tục duy trì kết nối sinh cảnh, khả năng tồn tại của voọc mông trắng phụ thuộc vào khả năng di chuyển cũng như sinh sản trong toàn bộ trong toàn bộ cảnh quan này. Nếu như hành lang sinh cảnh giữa những khu rừng này bị mất đi thì khả năng tuyệt chủng của loài linh trưởng này là rất cao. Rà soát, đánh giá việc chấp hành yêu cầu về môi trường của các hoạt động khai thác đá trên địa bàn, bảo đảm không gây ảnh hưởng sự tồn tại và phát triển của các loài voọc mông trắng trong tự nhiên.
Chính vì vậy, việc bảo tồn sự tồn tại của loài linh trưởng quý hiếm và độc đáo voọc mông trắng là cần thiết, góp phần đem lại nhiều lợi ích cho quá trình kết hợp cảnh quan Tràng An, Tam Chúc với những khu rừng được bảo vệ, tạo thành một vùng di sản thế giới được UNESCO công nhận.
04
Cá heo Vaquita
Cá heo Vaquita là một loài cá trong họ Cá heo chuột, nghĩa đen là "bò nhỏ", là một loài cá heo đặc hữu của vùng cuối phía bắc của Vịnh California (Biển Cortez, Biển Vermilion). Chiều dài trung bình 150cm (đối với con cái) hoặc 140cm (đối với con đực). Chúng sống ở các đầm phá nông, đục dọc theo các bờ biển và hiếm khi được nhìn thấy ở nhiều nước sâu hơn 30 mét, thật sự nó có thể tồn tại trong các ao hồ để nông nhô ra trở lại trên bề mặt. Loài cá vi này thường được nhìn thấy trong nước 11-50 mét sâu, 11–25 km từ bờ biển, trên đáy bùn và đất sét. Môi trường sống của nó được đặc trưng bởi nước đục với có nhiều con mồi với hàm lượng dinh dưỡng cao. Ngày nay, loài này đang trên đà tuyệt chủng. Nghiên cứu gần đây ước tính dân số có ít hơn 19 cá thể[1]. Sự suy giảm mạnh về mức độ phong phú chủ yếu là do đánh bắt
cá mang từ nghề đánh bắt
cá totoaba bất hợp pháp.
1) Hình dáng
2) Phân bố
Môi trường sống của Vaquita chỉ giới hạn ở một phần nhỏ của thượng lưu Vịnh California (còn gọi là Biển Cortez), khiến đây là phạm vi nhỏ nhất trong số các loài động vật có vú biển. Chúng sống ở vùng nước nông, đục, độ sâu dưới 50 m (150 ft).
3) Bảo tồn
Thông báo ngày 4/4 của Bộ Môi trường Mexico cho biết kế hoạch khẩn cấp đầy tham vọng này là nhằm bảo vệ loài cá heo chuột (vaquita). Theo đó, các chú cá heo sẽ được đưa đến một môi trường sống mới, an toàn và phù hợp để chúng có thể sinh trưởng và phát triển giống loài. Theo Bộ trên, Chính phủ hiện đã phân bổ ngân sách 3 triệu USD cho chương trình bảo tồn động vật này.
Kế hoạch được công bố trong bối cảnh tháng 2 vừa qua, các nhà sinh vật cảnh báo chỉ còn 30 cá thể cá heo chuột sống tại vùng biển của Mexico, đồng thời dự báo loài này sẽ tuyệt chủng vào năm 2022.
Tuy nhiên, kế hoạch cũng gây tranh cãi trong giới bảo tồn do nhiều chuyên gia cho rằng loài cá heo này không thể sinh trưởng tốt trong môi trường phi tự nhiên. Theo nhiều nhà khoa học, sau một thời gian bị dồn đuổi, bắt giữ và chuyển môi trường sinh trưởng, sẽ rất khó để dự đoán phản ứng của loài cá heo này.
Hổ Nam Trung Hoa
(hổ hoa nam)
05
1. Hình dáng
Hổ Hoa Nam còn gọi là hổ Hạ Môn, là một phân loài hổ sống ở miền Nam Trung Quốc, phân bố ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam và Giang Tây. Đây là nòi hổ đang nằm trong tình trạng nguy hiểm nhất, được liệt kê là loài cực kỳ nguy cấp trong Sách đỏ IUCN từ năm 1996, và gần như đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Có thể là con hổ hoang cuối cùng được biết đến ở miền nam Trung Quốc đã bị bắn hạ vào năm 1994, và trong hai mươi năm gần đây nhất người ta không nhìn thấy một con hổ còn sống nào trong khu vực sinh sống của chúng. Vào cuối những năm 1990, sự sống sót tiếp tục được coi là không thể xảy ra do mật độ con mồi thấp, suy thoái và phân mảnh môi trường sống lan rộng và áp lực khác của con người.
Năm 1959, Mao Trạch Đông tuyên bố rằng hổ là một con vật có hại, và số lượng của chúng đã nhanh chóng giảm từ khoảng 4.000 con xuống còn khoảng 200 con năm 1976. Năm 1977 chính phủ Trung Quốc sửa đổi lại luật, cấm chỉ việc giết hổ hoang, nhưng điều này có lẽ đã quá muộn để có thể bảo vệ nòi này. Hiện tại còn 59 con còn đang bị nuôi nhốt, tất cả đều tại Trung Quốc, nhưng chúng chỉ sinh được có sáu con. Vì thế, tính đa dạng di truyền không được duy trì, làm cho khả năng tuyệt chủng vĩnh viễn trở nên rõ nét.
2.Phân bố
Phạm vi lịch sử của hổ Hoa Nam trải dài trên một lãnh thổ rộng lớn đến 2.000 km (1.200 dặm) từ đông sang tây và 1.500 km (930 mi) từ bắc xuống nam ở Trung Quốc. Từ phía đông, nó dao động từ các tỉnh Giang Tây và Chiết Giang ở khoảng kinh độ 120 ° E về phía tây qua các tỉnh Quý Châu và Tứ Xuyên ở khoảng kinh độ 100 ° E. Phần mở rộng nhất về phía bắc là ở vùng núi Tần Lĩnh và sông Hoàng Hà ở khoảng vĩ độ 35 ° N đến phần mở rộng phía nam của nó ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam ở vĩ độ 21 ° N.
3. Bảo tồn
Năm 1973, hổ Hoa Nam được phân loại là được bảo vệ bằng săn bắn có kiểm soát. Năm 1977, nó được phân loại là được bảo vệ và việc săn bắn bị cấm. Tất cả các phân loài hổ được bao gồm trong Phụ lục I của Công ước I, cấm thương mại quốc tế. Tất cả các quốc gia phạm vi hổ và các quốc gia có thị trường tiêu dùng cũng đã cấm thương mại nội địa.
Tổ chức phi chính phủ Save Tiger của Trung Quốc, với sự hỗ trợ của Cục Lâm nghiệp Nhà nước Trung Quốc đã phát triển một kế hoạch tái du nhập những con hổ Hoa Nam bị giam cầm vào các khu vực lớn ở miền nam Trung Quốc. Các mối quan tâm chính liên quan đến việc giới thiệu lại là sự sẵn có của môi trường sống phù hợp và con mồi thích hợp, và sự phù hợp của quần thể nuôi nhốt. Bảo tồn cấp độ cảnh quan của môi trường sống hoang dã và phục hồi các quần thể động vật hoang dã tạo quần thể con mồi cho hổ sẽ được yêu cầu. Một mục tiêu cuối cùng được đề xuất là thiết lập ít nhất ba quần thể, với mỗi quần thể bao gồm tối thiểu khoảng 15-20 con hổ sống trong môi trường tự nhiên có diện tích tối thiểu 1.000 km2 (390 dặm vuông). Khảo sát thực địa hợp tác và hội thảo đã được thực hiện để xác định các khu vực phục hồi phù hợp.
Tại Hội nghị lần thứ 14 của các Bên tham gia Công ước CITES năm 2007, việc chấm dứt nuôi nhốt hổ và ngừng buôn bán các sản phẩm từ hổ nuôi ở Trung Quốc đã được kêu gọi.
Vẹt đuôi xanh dài
06
1. Hình dáng
Vẹt đuôi dài xanh (Danh pháp khoa học: Cyanopsitta spixii) là một loài chim trong họ Psittacidae Vẹt đuôi dài xanh dài khoảng 55-57 cm. Thân của nó như tên gọi là màu xanh, đầu, đuôi xanh nhạt, xanh đậm ở phần bụng, cánh và chân. Phần chân màu đen. Chúng có màu lông đôi lúc ngả trắng phù hợp với môi trường. Mỏ chúng màu đen xám. Tiếng kêu của chúng khá trầm, lớn.
2.Phân bố
Những con vẹt đuôi dài nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbean. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.
3. Bảo tồn
Khoảng những năm 1980, vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép. Dẫn đến sụt giảm loài này nhanh chóng. Từ năm 2004, loài vẹt đuôi dài đã gần như bị tuyệt chủng.Nguyên nhân là do nạn săn bắt, kinh doanh và nuôi nhốt nên chúng dễ bị mắc bệnh.
Thống kê cho thấy, trong năm 2010, loài vẹt này chỉ còn 85 cá thể. Toàn bộ các con đực và cái đều lần lượt tham gia giao phối bởi tổ chức ICMBio và chính phủ Bảo tồn Thiên nhiên Brazil để duy trì khỏi nạn tuyệt chủng. Đến 2015, số lượng cá thể tăng lên gần 100 cá thể nhưng vẫn rất ít.
Cá thể cuối cùng của loài vẹt xanh đuôi dài đã biến mất trong tự nhiên từ năm 2001, nhưng các nhà bảo tồn vẫn nỗ lực tìm kiếm trong suốt 17 năm qua. Đến cuối cùng, họ buộc phải chấp nhận sự thật và phân loại chúng vào danh sách đã tuyệt chủng vào năm 2018.
Thank you
Do you have any question
Đỗ Ngọc Nam
namngocdo271106
0773468184
 








Các ý kiến mới nhất