Bài 5. Hoàng Lê nhất thống chí - Hồi thứ mười bốn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Ba
Ngày gửi: 16h:58' 27-09-2021
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 189
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Ba
Ngày gửi: 16h:58' 27-09-2021
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 189
Số lượt thích:
0 người
CHÀO MỪNG CÁC EM
ĐẾN VỚI TIẾT HỌC !!!
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
(trích)
Ngô gia văn phái
1. Tác giả
- Dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Hà Tây cũ) là 1 dòng họ lớn tuổi với truyền thống nghiên cứu, sáng tác văn chương ở nước ta.
* Ngô Thì Chí (1753-1788) Viết 7 hồi đầu của Hoàng Lê nhất thống chí cuối năm 1786.
* Ngô Thì Du (1772-1840) Là người viết tiếp 7 hồi cuối của Hoàng Lê nhất thống chí (trong đó có hồi 14).
Nhà thờ họ Ngô Thì tại Tả Thanh Oai
I. Tìm hiểu chung:
a. Hoàn cảnh sáng tác
- Khoảng 30 năm cuối thế kỉ 18 đầu 19
b. Thể loại
- Thể chí: tóm tắt lịch sử viết theo lối chương hồi bằng chữ Hán.
c.Nội dung
- mô tả bức tranh sinh động về những biến động trong xã hội phong kiến cuối thế kỷ 18.
d. Nhan đề: Hoàng Lê nhất thống chí: ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê
-> Mong muốn, tình cảm và sự trung thành của các tác giả dành cho nhà Lê
2. Tác phẩm:
- Phần một: (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788): Được tin quan Thanh đó chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế và cầm quân dẹp giặc.
- Phần hai: (từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” đến “rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
- Phần ba: (còn lại): Hình ảnh thất bại thảm hại của quân Thanh và bè lũ Lê Chiêu Thống.
BỐ CỤC: 3 PHẦN
a. Hình tượng Vua Quang Trung
Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:
+ Nghe tin quân Thanh chiếm Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, cầm quân ra Bắc để đuổi bọn giặc.
+ Nghe lời tướng sĩ tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng Đế.
+ Tổ chức hành quân hỏa tốc.
+ Tổ chức duyệt binh, tuyển binh.
-> Là một người anh hùng có hành động mạnh mẽ, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1. Nội dung:
Trí tuệ sáng suốt, tầm nhìn xa rộng:
+ Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ.
+ Phân tích rất chính xác sự tương quan giữa quân ta và quân địch.
+ Rất giỏi trong việc phán xét và dùng người: biết dùng người đúng sở trường, sở đoản, đối đãi công bằng.
+ Mở tiệc khao quân sớm và hoạch định ngày chiến thắng.
+ Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)…
-> Vị tướng có trí tuệ tinh thông và tầm nhìn chiến lược.
- Tài thao lược hơn người:
+Vừa đi vừa tuyển quân, khiến cho binh lực mạnh lên không ngừng.
+ Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, linh hoạt, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…).
+ Vua Quang Trung thân chinh cưỡi voi, mình mặc áo bào lẫm liệt xông ra chiến đấu với kẻ thù.
-> Vẻ đẹp của một người anh hùng áo vải, của một dũng tướng uy phong.
Tóm lại: Hình tượng Vua Quang Trung được xây dựng bằng cảm hứng sử thi hiện lên với vẻ đẹp dũng mãnh, tài trí, đại diện cho hình ảnh dân tộc Việt Nam anh hùng, bất khuất.
b.Bè lũ bán nước và cướp nước
- Quân tướng nhà Thanh:
+ Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”…
+ Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”…
- Vua tôi Lê Chiêu Thống:
+ Kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
+ Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh.
+ Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh.
=> Lối văn trần thuật đặc sắc, không ghi chép sự kiện một cách gấp gáp qua từng mốc thời gian mà miêu tả cụ thể hành động, lời nói.
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
BÈ LŨ BÁN NƯỚC VÀ CƯỚP NƯỚC
VUA QUANG TRUNG
-> Ngòi bút lịch sử chân thực kết hợp bút pháp so sánh, đối lập đã xây dựng thành công hình tượng vua QT và bè lũ bán nước, cướp nước.
- Kiêu căng tự mãn.
- Hồ đồ thiển cận
- Nhu nhược đớn hèn
- Tham sống sợ chết
-Mưu lược uy phong
- Mạnh mẽ quyết đoán
-Tầm nhìn xa rộng
-Dụng binh kì tài
ĐẾN VỚI TIẾT HỌC !!!
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
(trích)
Ngô gia văn phái
1. Tác giả
- Dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Hà Tây cũ) là 1 dòng họ lớn tuổi với truyền thống nghiên cứu, sáng tác văn chương ở nước ta.
* Ngô Thì Chí (1753-1788) Viết 7 hồi đầu của Hoàng Lê nhất thống chí cuối năm 1786.
* Ngô Thì Du (1772-1840) Là người viết tiếp 7 hồi cuối của Hoàng Lê nhất thống chí (trong đó có hồi 14).
Nhà thờ họ Ngô Thì tại Tả Thanh Oai
I. Tìm hiểu chung:
a. Hoàn cảnh sáng tác
- Khoảng 30 năm cuối thế kỉ 18 đầu 19
b. Thể loại
- Thể chí: tóm tắt lịch sử viết theo lối chương hồi bằng chữ Hán.
c.Nội dung
- mô tả bức tranh sinh động về những biến động trong xã hội phong kiến cuối thế kỷ 18.
d. Nhan đề: Hoàng Lê nhất thống chí: ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê
-> Mong muốn, tình cảm và sự trung thành của các tác giả dành cho nhà Lê
2. Tác phẩm:
- Phần một: (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788): Được tin quan Thanh đó chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế và cầm quân dẹp giặc.
- Phần hai: (từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” đến “rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
- Phần ba: (còn lại): Hình ảnh thất bại thảm hại của quân Thanh và bè lũ Lê Chiêu Thống.
BỐ CỤC: 3 PHẦN
a. Hình tượng Vua Quang Trung
Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:
+ Nghe tin quân Thanh chiếm Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, cầm quân ra Bắc để đuổi bọn giặc.
+ Nghe lời tướng sĩ tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng Đế.
+ Tổ chức hành quân hỏa tốc.
+ Tổ chức duyệt binh, tuyển binh.
-> Là một người anh hùng có hành động mạnh mẽ, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1. Nội dung:
Trí tuệ sáng suốt, tầm nhìn xa rộng:
+ Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ.
+ Phân tích rất chính xác sự tương quan giữa quân ta và quân địch.
+ Rất giỏi trong việc phán xét và dùng người: biết dùng người đúng sở trường, sở đoản, đối đãi công bằng.
+ Mở tiệc khao quân sớm và hoạch định ngày chiến thắng.
+ Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)…
-> Vị tướng có trí tuệ tinh thông và tầm nhìn chiến lược.
- Tài thao lược hơn người:
+Vừa đi vừa tuyển quân, khiến cho binh lực mạnh lên không ngừng.
+ Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, linh hoạt, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…).
+ Vua Quang Trung thân chinh cưỡi voi, mình mặc áo bào lẫm liệt xông ra chiến đấu với kẻ thù.
-> Vẻ đẹp của một người anh hùng áo vải, của một dũng tướng uy phong.
Tóm lại: Hình tượng Vua Quang Trung được xây dựng bằng cảm hứng sử thi hiện lên với vẻ đẹp dũng mãnh, tài trí, đại diện cho hình ảnh dân tộc Việt Nam anh hùng, bất khuất.
b.Bè lũ bán nước và cướp nước
- Quân tướng nhà Thanh:
+ Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”…
+ Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”…
- Vua tôi Lê Chiêu Thống:
+ Kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
+ Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh.
+ Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh.
=> Lối văn trần thuật đặc sắc, không ghi chép sự kiện một cách gấp gáp qua từng mốc thời gian mà miêu tả cụ thể hành động, lời nói.
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
BÈ LŨ BÁN NƯỚC VÀ CƯỚP NƯỚC
VUA QUANG TRUNG
-> Ngòi bút lịch sử chân thực kết hợp bút pháp so sánh, đối lập đã xây dựng thành công hình tượng vua QT và bè lũ bán nước, cướp nước.
- Kiêu căng tự mãn.
- Hồ đồ thiển cận
- Nhu nhược đớn hèn
- Tham sống sợ chết
-Mưu lược uy phong
- Mạnh mẽ quyết đoán
-Tầm nhìn xa rộng
-Dụng binh kì tài
 







Các ý kiến mới nhất