Tìm kiếm Bài giảng
Bài 8. Bạn đến chơi nhà

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê duy thanh
Ngày gửi: 19h:55' 03-10-2021
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 254
Nguồn:
Người gửi: lê duy thanh
Ngày gửi: 19h:55' 03-10-2021
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 254
Số lượt thích:
0 người
NGỮ VĂN 7
TiẾT 31:
BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ
NHÓM THỰC HIỆN:
TỔ 3
TÌM HiỂU VĂN BẢN
Nguyễn Khuyến
TÌM
HiỂU
CHUNG
1. TÁC GIẢ
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)
Tên thật là Nguyễn Thắng quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN KHUYẾN
Nguyễn Khuyến thuở nhỏ nhà nghèo, thông minh học giỏi, sau đi thi, đỗ đầu cả ba kì, do đó có tên là Tam Nguyên Yên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan khoảng mười năm, nhưng đến khi thực dân Pháp đánh chiếm xong Bắc Bộ, ông cáo quan về ở ẩn.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ ca của ông chủ yếu được sáng tác vào giai đoạn sau ngày cáo quan về ở ẩn ở Yên Đổ.
Cha Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Khởi( 1796–1853), thường gọi là Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học. Mẹ là Trần Thị Thoan (1799–1874), nguyên là con của Trần Công Trạc, từng đỗ tú tài thời Lê Mạc.
Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864–1865) ở trường Hoàng giáp cùng bạn học Phạm Văn Nghị. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Giải nguyên) trường Hà Nội
Năm sau (1865), ông trượt thi Hội nên tu chí, ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám và đổi tên từ Nguyễn Thắng thành Nguyễn Khuyến, với hàm ý phải nỗ lực hơn nữa (chữ Thắng có chữ lực nhỏ, chữ Khuyến có chữ lực lớn hơn).
Đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên (Hoàng giáp). Từ đó, Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ .
Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tại tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877, ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán. Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu năm 1884 và qua đời tại đây.
Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân. Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên.
Hình ảnh về tác giả
Nguyễn Khuyến lúc làm quan
Từ đường Nguyễn Khuyến tại xã Trung Lương (Bình Lục)
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
NGUYỄN KHUYẾN
Bạn đến chơi nhà
Thu điếu
Thu ẩm
Thu vịnh
Khóc Dương Khuê
Muốn lấy chồng
Anh giả điếc
Đề tranh tố nữ…
2. TÁC PHẨM
THẢO LUẬN TÌM HIỂU NỘI DUNG VĂN BẢN TRONG 3 PHÚT
NÊU:
Hoàn cảnh sáng tác ?
Xuất xứ ?
Thể thơ ?
Bố cục, nội dung từng phần ?
2. Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: Nguyễn Khuyến cáo quan về quê sống với ruộng vườn dân dã, đến một hôm có người bạn tri kỉ đến chơi nhà nhưng không có gì thiết đãi bạn nhà thơ làm bài thơ này tự cười chính bản thân mình.
Xuất xứ: trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập IV.
Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường Luật.
Đôi nét về thể thơ
Thất ngôn bát cú Đường Luật
Mỗi bài thơ có 8 câu ( Bát cú ).
Mỗi câu thơ có 7 chữ ( Thất ngôn).
Gieo vần: có thể là vần chân, vần lưng, vần liền, vần gián cách.
Nghệ thuật đối(bắt buộc). Câu 3 đối câu 4, câu 5 đối câu 6.
Bố cục:
+ Hai cầu đầu: Đề
+ Hai câu tiếp: Thực
+ Hai câu tiếp: Luận
+ Hai câu cuối: Kết
BỐ CỤC
Hai câu đầu( Đề )
=> Giới thiệu sự việc.
Bốn câu tiếp ( Thực + Luận )
=> Hoàn cảnh của nhà thơ khi bạn tới chơi.
Hai câu cuối ( Kết ):
=>Tình bạn thắm thiết, chân thành.
II.PHÂN TÍCH
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,”
Đã bấy lâu nay
bác
- Chỉ thời gian lâu ngày
- Sự mong ngóng của nhà thơ
thân mật, sự nể trọng của nhà thơ với bạn
- Giọng điệu vồn vã, chân thành, cởi mở
- Cách mở đầu tự nhiên, giản dị như lời nói thường ngày, như lời chào, như tiếng reo vui của nhà thơ.
=> Thể hiện niềm vui mừng, xúc động của nhà thơ khi có bạn lâu ngày đến thăm.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
- Phép liệt kê: chợ, gà, cá, cải, cà, bầu, mướp, trầu
- Phép đối lập: đối lập giữa cái CÓ và cái KHÔNG
- Ngôn ngữ thơ dung dị, tự nhiên như cách diễn đạt thường ngày.
- Sử dụng nhiều tính từ : sâu, cả, rộng, thưa
- Nhiều phó từ chỉ sự phủ định: khôn, chửa; chỉ thời gian hay sự tiếp diễn của hoạt động: mới, đương, vừa; lặp cấu trúc cụm từ ”chửa ra cây”, ”vừa rụng rốn”, ”mới nụ”, ”đương hoa”...
- Giọng điệu: vui đùa, thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh của nhà thơ.
=> Khiến cho ngôn ngữ thơ chặt chẽ, nhất quán trong trong việc thể hiện nội dung.
=> Giúp tác giả giãi bày với bạn về tình huống khó xử của mình khi bạn đến thăm.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
- Biện pháp nghệ thuật: phép liệt kê; đối lập; nói quá; sử dụng ngôn ngữ dung dị, tự nhiên; nhiều tính từ, phó từ; tạo tình huống khó xử thật bất ngờ, thú vị: có sẵn mọi thứ nhưng hóa ra lại chẳng có gì đãi bạn.
- Nhấn mạnh sự đối lập giữa mong muốn thết đãi bạn chu đáo của nhà thơ với hiện thực không thể thực hiện được do những lí do khách quan.
- Thể hiện cuộc sống thanh bạch của nhà Nho nghèo giữa chốn hương quê bằng giọng điệu hóm hỉnh, hài hước.
* Giống nhau:
- Cùng hình thức ngữ âm
- Đều dùng để kết thúc bài thơ
* Khác nhau:
SO SÁNH 2 CỤM TỪ “TA VỚI TA”
Bạn đến chơi nhà
(Nguyễn Khuyến)
Câu 1: Cảm xúc vui mừng của nhà thơ khi bạn tới chơi nhà.
6 câu tiếp: Hoàn cảnh đặc biệt, chẳng có gì tiếp đãi bạn của nhà thơ.
Câu kết: Khẳng định tình bạn đậm đà, thắm thiết, vượt lên trên mọi thứ vật chất đời thường.
Nội dung
Nghệ thuật
Tạo tình huống bất ngờ, thú vị.
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bố cục độc đáo; giọng thơ chất phác, hóm hỉnh, hồn nhiên.
Ngôn ngữ thơ dung dị, tự nhiên mà thấm thía, sâu sắc...
TiẾT 31:
BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ
NHÓM THỰC HIỆN:
TỔ 3
TÌM HiỂU VĂN BẢN
Nguyễn Khuyến
TÌM
HiỂU
CHUNG
1. TÁC GIẢ
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)
Tên thật là Nguyễn Thắng quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN KHUYẾN
Nguyễn Khuyến thuở nhỏ nhà nghèo, thông minh học giỏi, sau đi thi, đỗ đầu cả ba kì, do đó có tên là Tam Nguyên Yên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan khoảng mười năm, nhưng đến khi thực dân Pháp đánh chiếm xong Bắc Bộ, ông cáo quan về ở ẩn.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ ca của ông chủ yếu được sáng tác vào giai đoạn sau ngày cáo quan về ở ẩn ở Yên Đổ.
Cha Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Khởi( 1796–1853), thường gọi là Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học. Mẹ là Trần Thị Thoan (1799–1874), nguyên là con của Trần Công Trạc, từng đỗ tú tài thời Lê Mạc.
Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864–1865) ở trường Hoàng giáp cùng bạn học Phạm Văn Nghị. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Giải nguyên) trường Hà Nội
Năm sau (1865), ông trượt thi Hội nên tu chí, ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám và đổi tên từ Nguyễn Thắng thành Nguyễn Khuyến, với hàm ý phải nỗ lực hơn nữa (chữ Thắng có chữ lực nhỏ, chữ Khuyến có chữ lực lớn hơn).
Đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên (Hoàng giáp). Từ đó, Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ .
Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tại tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877, ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán. Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu năm 1884 và qua đời tại đây.
Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân. Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên.
Hình ảnh về tác giả
Nguyễn Khuyến lúc làm quan
Từ đường Nguyễn Khuyến tại xã Trung Lương (Bình Lục)
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
NGUYỄN KHUYẾN
Bạn đến chơi nhà
Thu điếu
Thu ẩm
Thu vịnh
Khóc Dương Khuê
Muốn lấy chồng
Anh giả điếc
Đề tranh tố nữ…
2. TÁC PHẨM
THẢO LUẬN TÌM HIỂU NỘI DUNG VĂN BẢN TRONG 3 PHÚT
NÊU:
Hoàn cảnh sáng tác ?
Xuất xứ ?
Thể thơ ?
Bố cục, nội dung từng phần ?
2. Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: Nguyễn Khuyến cáo quan về quê sống với ruộng vườn dân dã, đến một hôm có người bạn tri kỉ đến chơi nhà nhưng không có gì thiết đãi bạn nhà thơ làm bài thơ này tự cười chính bản thân mình.
Xuất xứ: trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập IV.
Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường Luật.
Đôi nét về thể thơ
Thất ngôn bát cú Đường Luật
Mỗi bài thơ có 8 câu ( Bát cú ).
Mỗi câu thơ có 7 chữ ( Thất ngôn).
Gieo vần: có thể là vần chân, vần lưng, vần liền, vần gián cách.
Nghệ thuật đối(bắt buộc). Câu 3 đối câu 4, câu 5 đối câu 6.
Bố cục:
+ Hai cầu đầu: Đề
+ Hai câu tiếp: Thực
+ Hai câu tiếp: Luận
+ Hai câu cuối: Kết
BỐ CỤC
Hai câu đầu( Đề )
=> Giới thiệu sự việc.
Bốn câu tiếp ( Thực + Luận )
=> Hoàn cảnh của nhà thơ khi bạn tới chơi.
Hai câu cuối ( Kết ):
=>Tình bạn thắm thiết, chân thành.
II.PHÂN TÍCH
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,”
Đã bấy lâu nay
bác
- Chỉ thời gian lâu ngày
- Sự mong ngóng của nhà thơ
thân mật, sự nể trọng của nhà thơ với bạn
- Giọng điệu vồn vã, chân thành, cởi mở
- Cách mở đầu tự nhiên, giản dị như lời nói thường ngày, như lời chào, như tiếng reo vui của nhà thơ.
=> Thể hiện niềm vui mừng, xúc động của nhà thơ khi có bạn lâu ngày đến thăm.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
- Phép liệt kê: chợ, gà, cá, cải, cà, bầu, mướp, trầu
- Phép đối lập: đối lập giữa cái CÓ và cái KHÔNG
- Ngôn ngữ thơ dung dị, tự nhiên như cách diễn đạt thường ngày.
- Sử dụng nhiều tính từ : sâu, cả, rộng, thưa
- Nhiều phó từ chỉ sự phủ định: khôn, chửa; chỉ thời gian hay sự tiếp diễn của hoạt động: mới, đương, vừa; lặp cấu trúc cụm từ ”chửa ra cây”, ”vừa rụng rốn”, ”mới nụ”, ”đương hoa”...
- Giọng điệu: vui đùa, thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh của nhà thơ.
=> Khiến cho ngôn ngữ thơ chặt chẽ, nhất quán trong trong việc thể hiện nội dung.
=> Giúp tác giả giãi bày với bạn về tình huống khó xử của mình khi bạn đến thăm.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
- Biện pháp nghệ thuật: phép liệt kê; đối lập; nói quá; sử dụng ngôn ngữ dung dị, tự nhiên; nhiều tính từ, phó từ; tạo tình huống khó xử thật bất ngờ, thú vị: có sẵn mọi thứ nhưng hóa ra lại chẳng có gì đãi bạn.
- Nhấn mạnh sự đối lập giữa mong muốn thết đãi bạn chu đáo của nhà thơ với hiện thực không thể thực hiện được do những lí do khách quan.
- Thể hiện cuộc sống thanh bạch của nhà Nho nghèo giữa chốn hương quê bằng giọng điệu hóm hỉnh, hài hước.
* Giống nhau:
- Cùng hình thức ngữ âm
- Đều dùng để kết thúc bài thơ
* Khác nhau:
SO SÁNH 2 CỤM TỪ “TA VỚI TA”
Bạn đến chơi nhà
(Nguyễn Khuyến)
Câu 1: Cảm xúc vui mừng của nhà thơ khi bạn tới chơi nhà.
6 câu tiếp: Hoàn cảnh đặc biệt, chẳng có gì tiếp đãi bạn của nhà thơ.
Câu kết: Khẳng định tình bạn đậm đà, thắm thiết, vượt lên trên mọi thứ vật chất đời thường.
Nội dung
Nghệ thuật
Tạo tình huống bất ngờ, thú vị.
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bố cục độc đáo; giọng thơ chất phác, hóm hỉnh, hồn nhiên.
Ngôn ngữ thơ dung dị, tự nhiên mà thấm thía, sâu sắc...
 








Các ý kiến mới nhất