Bài 11. Đoàn thuyền đánh cá

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Gia Linh
Ngày gửi: 17h:49' 10-10-2021
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 447
Nguồn:
Người gửi: Đinh Gia Linh
Ngày gửi: 17h:49' 10-10-2021
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 447
Số lượt thích:
0 người
Tiết 51:
Đoàn thuyền đánh cá
Huy Cận
Huy Cận
I. Đọc – Tìm hiểu chung:
Đọc.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
TIẾT 51
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao,
Biển cho ta cá như lòng mẹ,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
Huy Cận
I. Đọc – Tìm hiểu chú thích:
HUY CẬN THỜI TRẺ
HUY CẬN NĂM 2005
- Huy Cận (1919 – 2005)
- Tên đầy đủ : Cù Huy Cận
- Quê : Hà Tĩnh
- Nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ Lửa thiêng (1940)
- Trước 1945: âm hưởng chung là buồn, bi quan.Thơ ông giàu chất triết lí và mang nỗi buồn nhân thế.
- Sau 1945: âm hưởng vui tươi, lạc quan ca ngợi cuộc sống mới, con người mới trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1954- 1964)
1. Đọc
2.Tác giả
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
TIẾT 51
a. Hoàn cảnh ra đời
Viết năm 1958, trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng’’(1958)
b. Cảm hứng bao trùm bài thơ:
Có sự thống nhất giữa hai nguồn cảm hứng: cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ và cảm hứng về con người lao động trong cuộc sống mới.
I. Đọc – Tìm hiểu chung:
1. Đọc
2. Tác giả
3. Tác phẩm
TIẾT 51
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
c. Bố cục.
- 3 phần:
-Phần 1: Hai khổ đầu:
Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong buổi hoàng hôn.
-Phần 2: Bốn khổ tiếp:
Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng
-Phần 3: Khổ cuối:
Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh
Bố cục của bài thơ theo trình tự thời gian
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
TIẾT 51
Chủ đề của bài thơ
Bài thơ miêu tả một chuyến đánh cá của người dân chài vùng biển Quảng Ninh trong âm hưởng tiếng hát lạc quan của người lao động.
II. Tìm hiểu văn bản
1. Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong buổi hoàng hôn( 2 khổ đầu)
a. Cảnh hoàng hôn trên biển
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Cảnh được cảm nhận từ điểm nhìn đặc biệt: trên con thuyền đang rời bờ ra khơi, nhìn từ biển vào bờ (một phát hiện sáng tạo thú vị)
- Nghệ thuật so sánh: mặt trời như hòn lửa
Mặt trời như quả cầu lửa khổng lồ đang dần dần chìm xuống biển khơi. Mặt biển rộng lớn, mênh mông, đẹp rực rỡ, huy hoàng, tráng lệ
Nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nhân hóa ( sóng cài then, đêm sập cửa)
Liên tưởng thú vị: đại dương là ngôi nhà rộng lớn, có màn đêm là cánh cửa, sóng là then cài. Không gian chìm vào bóng tối, biển vào đêm rộng lớn mà không rợn ngợp, con người trước biển hoàng hôn mà thấy ấm áp, bình yên, gần gũi với thiên nhiên, không chút buồn cô đơn như trong nhiều tác phẩm khác của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Bức tranh thiên nhiên biển vào lúc hoàng hôn bao la, rộng lớn, đẹp kì vĩ, huy hoàng, tráng lệ
b. Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Khi một ngày kết thúc cũng là lúc đoàn thuyền khởi hành. Giữa con người và thiên nhiên có sự nhịp nhàng, đồng điệu
Không phải con thuyền đơn lẻ mà là đoàn thuyền, là tập thể có tổ chức thống nhất, có niềm vui của cuộc sống mới những ngày đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Không khí tấp nập, nhộn nhịp.
Những chuyến ra khơi đã thành thường lệ, thành nhịp sống, nhịp lao động đều đặn của những ngư dân=> Phó từ “lại”
Giữa biển cả mây trời bao la, những ngư dân cùng cất cao tiếng hát. Khúc hát vang lên khỏe khoắn, mạnh mẽ , đầy hi vọng, lạc quan như hòa cùng gió khơi làm căng cánh buồm, đẩy con thuyền băng băng tiến về phía trước
Tình yêu biển cả, niềm hào hứng, phấn chấn, tin tưởng của ngư dân trong buổi lên đường, tâm thế của những người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
II Tìm hiểu văn bản:
1.Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.
Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
- Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi.
TIẾT 51
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
- Liệt kê: cá bạc, cá thu -> biển có rất nhiều tôm cá quý hiếm đang chờ con người khai thác.
- So sánh: “Như đoàn thoi” ->Hình ảnh đoàn cá nhiều vô kể, hình dáng như con thoi đang lao đi vun vút
- Biển lặng: Cầu mong trời yên biển lặng để công việc ra khơi được thuận buồm xuôi gió
Sự giàu có và trù phú của biển khơi.
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
- Nhân hoá: “ Dệt biển”
Những chú cá muôn màu sắc bơi lội tung tăng như dệt lên những tấm thảm rực rỡ, lung linh sắc màu, tạo nên vẻ đẹp kỳ ảo, thơ mộng của biển đêm.
- Câu cầu khiến: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Tiếng gọi thiết tha thể hiện khát vọng chinh phục biển cả, chinh phục thiên nhiên, mong ước đánh bắt được nhiều tôm cá của những ngư dân trên biển.
Khổ thơ thể hiện niềm tự hào của tác giả về vùng biển quê hương đẹp giàu. Tiếng hát của người lao động đã thể hiện tâm hồn chan chứa niềm vui, phấn khởi, hăng say lao động, làm giàu cho đất nước, quê hương.
2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng ( khổ 3,4,5,6)
Khổ 3: Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Con thuyền lấy gió làm bánh lái, lấy trăng làm cánh buồm. Buồm được trăng chiếu vào trở thành “buồm trăng”. Hình ảnh thơ thật đẹp, lãng mạn, thơ mộng.
Động từ “lướt” vẽ ra hình ảnh con thuyền đang băng băng lướt nhanh trên biển, thật nhẹ nhàng. Khí thế hào hùng, sôi nổi của con thuyền được thể hiện qua hình ảnh “Lướt giữa mây cao với biển bằng” Tầm vóc của con thuyền đã được nâng lên, sánh ngang cùng thiên nhiên, vũ trụ.
Không còn là những con thuyền cô đơn, bé nhỏ giữa đất trời, vũ trụ, mà là hình ảnh những con thuyền kì vĩ, lớn lao. Con thuyền hay cũng chính là hình ảnh hoán dụ cho những người ngư dân trong tư thế làm chủ thiên nhiên, đất trời.
Cuộc đánh bắt cá trên biển đã trở thành công cuộc chinh phục thiên nhiên. Nó thực sự là một trận chiến đòi hỏi ngư dân phải dày dạn kinh nghiệm chiến đấu. Các từ “dò”, “dàn đan thế trận” đã cho thấy sự thuần thục, khéo léo của người lao động trong công việc của mình.
Khổ thơ gợi lên bức tranh lao động kì vĩ và tráng lệ, bức tranh như thâu tóm được cả không gian thiên nhiên bao la, nâng con người lên tầm vóc vũ trụ.
BTVN: Viết đoạn văn tổng-phân-hợp khoảng 12 câu phân tích 2 khổ thơ đầu bài “Đoàn thuyền đánh cá” với câu chủ đề “Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong buổi hoàng hôn thật đẹp, thật hào hứng, vui tươi”. Trong đoạn văn có sử dụng một câu bị động (gạch chân dưới câu bị động)
Khổ 4: Cá nhụ, cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
b. Sự giàu có của biển khơi: khổ 4,5
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
(…)Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
NT:
+ Liệt kê: cá nhụ, cá đé, cá chim, cá song→ tác giả miêu tả sự phong phú giàu có của biển cả quê hương
+ H/ả ẩn dụ, so sánh: “cá song lấp lánh đuốc đen hồng” → tả thực loại cá song thân dài, vảy có chấm nhỏ màu đen hồng
→ gợi về đoàn cá song như cây đuốc lấp lánh dưới trăng đêm
+ Nhân hóa: “Cái đuôi em quẫy” → miêu tả động tác quẫy nước của một chú cá dưới trăng
+ Gợi đêm trăng đẹp , huyền ảo trên mặt biển→ cá quẫy nước như quẫy trên trăng, muôn nghìn mảnh trăng tan ra, lấp lánh
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
Nghệ thuật nhân hóa “đêm thở”, cùng với dấu hai chấm để giải thích: tiếng thở của biển đêm là tiếng sao lùa sóng nước biển trở thành một sinh thể có linh hồn, cuộn trào sức sống
=> Khổ thơ thứ 4 đã ca ngợi sự giàu có, trù phú (2 câu đầu) và vẻ đẹp lung linh, kì ảo, thơ mộng của biển đêm (2 câu cuối)
Khổ 5
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Tiếng hát một lần nữa lại cất lên đầy vui tươi, phấn khởi, hăng say trong khúc ca lao động.
Thiên nhiên như hòa nhịp cùng con người “Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”. Vầng trăng đã điểm nhịp cho công việc gõ thuyền của ngư dân, khiến cho công việc đánh bắt cá trở nên vô cùng thơ mộng, lãng mạn.
Nghệ thuật so sánh “Biển cho ta cá như lòng mẹ” đã nói lên lòng yêu quý, biết ơn của những người dân chài đối với biển. Biển rộng lớn, bao dung như tấm lòng người mẹ. Biển đã cho con người nguồn tài nguyên quý giá, nuôi dưỡng họ khôn lớn, trưởng thành. Bao tình cảm, cảm xúc chứa chan đã được gửi gắm trong những vần thơ thật xúc động.
Khổ 6
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc, đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng
-Thời gian: Một ngày mới sắp sửa bắt đầu. Đó cũng là thời điểm những ngư dân đã kết thúc một đêm lao động miệt mài trên biển.
- Thành quả: kéo xoăn tay chùm cá nặng. Tiếng “ta” vang lên đầy kiêu hãnh. Hình ảnh “xoăn tay” gợi những nét gân guốc, rắn rỏi, chắc khỏe của những con người lao động. “Chùm cá nặng” là thành quả bội thu, là phần thưởng cho những cố gắng chăm chỉ, nỗ lực, cần cù của họ
Hai câu thơ cuối “Vảy bạc ….nắng hồng” mở ra một không gian thiên nhiên ngập tràn ánh bình minh tươi hồng. Màu trắng, màu vàng của vảy cá phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ, lấp lánh, đẹp huy hoàng.
Nhịp lao động của con người tuần tự với nhịp thời gian của thiên nhiên. Khi con người thu xếp ra về cũng là lúc thời gian chuyển dần về sáng. Một buổi đánh bắt cá trên biển đã hoàn tất.
Khúc tráng ca lao động trên biển đã khép lại thật nhẹ nhàng, phơi phới, tràn đầy niềm vui.
3. Khổ 7: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Bài ca lao động ngân vang hào hùng nhất ở khổ thơ cuối: diễn tả cảnh đoàn thuyền thắng lợi trở về trong bình minh rực rỡ, tráng lệ
Câu hát đã theo suốt cuộc hành trình của người dân chài. Nếu khổ 1, câu hát vang lên là sự hào hứng, phấn chấn, lạc quan, tin tưởng cho buổi lao động sắp diễn ra, thì câu hát ở khổ cuối là niềm vui, niềm phấn khởi trước thành quả lao động bội thu.
Hình ảnh mặt trời cũng được lặp lại, nhưng mang ý nghĩa khác. Nếu khổ đầu là mặt trời của hoàng hôn, thì khổ cuối là mặt trời của bình minh => Bình minh báo hiệu một ngày mới,
báo hiệu sự sống sinh sôi, nảy nở, khởi đầu của những niềm vui, niềm hạnh phúc.
Hình ảnh đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời là hình ảnh rất đẹp, kì vĩ: con người được nâng lên sánh ngang với thiên nhiên, vũ trụ. Chính những con người lao động ấy đã chiến thắng thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên.
Bao trùm không gian là màu hồng rực rỡ của bình minh. Muôn ngàn mắt cá phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh, rực rỡ, huy hoàng.
Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng ngập tràn. Đó phải chăng là ánh sáng của niềm vui, niềm hi vọng về một tương lai tươi sáng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới ở miền Bắc nước ta.
LUYỆN TẬP
Cho câu chủ đề sau: “ Đoàn thuyền đánh cá không chỉ là một bức tranh sơn mài lộng lẫy về vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là một bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động”
Hãy viết đoạn văn tổng- phân- hợp (12 câu) hoàn chỉnh câu chủ đề trên.
Gợi ý: Đoạn văn có 2 luận điểm chính:
bức tranh sơn mài lộng lẫy về vẻ đẹp của thiên nhiên: ( 2 câu thơ đầu + khổ 2, khổ 4)
bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động: ( khổ 3, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời, câu hát của ngư dân)
Đoàn thuyền đánh cá
Huy Cận
Huy Cận
I. Đọc – Tìm hiểu chung:
Đọc.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
TIẾT 51
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao,
Biển cho ta cá như lòng mẹ,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
Huy Cận
I. Đọc – Tìm hiểu chú thích:
HUY CẬN THỜI TRẺ
HUY CẬN NĂM 2005
- Huy Cận (1919 – 2005)
- Tên đầy đủ : Cù Huy Cận
- Quê : Hà Tĩnh
- Nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ Lửa thiêng (1940)
- Trước 1945: âm hưởng chung là buồn, bi quan.Thơ ông giàu chất triết lí và mang nỗi buồn nhân thế.
- Sau 1945: âm hưởng vui tươi, lạc quan ca ngợi cuộc sống mới, con người mới trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1954- 1964)
1. Đọc
2.Tác giả
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
TIẾT 51
a. Hoàn cảnh ra đời
Viết năm 1958, trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng’’(1958)
b. Cảm hứng bao trùm bài thơ:
Có sự thống nhất giữa hai nguồn cảm hứng: cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ và cảm hứng về con người lao động trong cuộc sống mới.
I. Đọc – Tìm hiểu chung:
1. Đọc
2. Tác giả
3. Tác phẩm
TIẾT 51
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
c. Bố cục.
- 3 phần:
-Phần 1: Hai khổ đầu:
Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong buổi hoàng hôn.
-Phần 2: Bốn khổ tiếp:
Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng
-Phần 3: Khổ cuối:
Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh
Bố cục của bài thơ theo trình tự thời gian
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
TIẾT 51
Chủ đề của bài thơ
Bài thơ miêu tả một chuyến đánh cá của người dân chài vùng biển Quảng Ninh trong âm hưởng tiếng hát lạc quan của người lao động.
II. Tìm hiểu văn bản
1. Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong buổi hoàng hôn( 2 khổ đầu)
a. Cảnh hoàng hôn trên biển
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Cảnh được cảm nhận từ điểm nhìn đặc biệt: trên con thuyền đang rời bờ ra khơi, nhìn từ biển vào bờ (một phát hiện sáng tạo thú vị)
- Nghệ thuật so sánh: mặt trời như hòn lửa
Mặt trời như quả cầu lửa khổng lồ đang dần dần chìm xuống biển khơi. Mặt biển rộng lớn, mênh mông, đẹp rực rỡ, huy hoàng, tráng lệ
Nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nhân hóa ( sóng cài then, đêm sập cửa)
Liên tưởng thú vị: đại dương là ngôi nhà rộng lớn, có màn đêm là cánh cửa, sóng là then cài. Không gian chìm vào bóng tối, biển vào đêm rộng lớn mà không rợn ngợp, con người trước biển hoàng hôn mà thấy ấm áp, bình yên, gần gũi với thiên nhiên, không chút buồn cô đơn như trong nhiều tác phẩm khác của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Bức tranh thiên nhiên biển vào lúc hoàng hôn bao la, rộng lớn, đẹp kì vĩ, huy hoàng, tráng lệ
b. Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Khi một ngày kết thúc cũng là lúc đoàn thuyền khởi hành. Giữa con người và thiên nhiên có sự nhịp nhàng, đồng điệu
Không phải con thuyền đơn lẻ mà là đoàn thuyền, là tập thể có tổ chức thống nhất, có niềm vui của cuộc sống mới những ngày đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Không khí tấp nập, nhộn nhịp.
Những chuyến ra khơi đã thành thường lệ, thành nhịp sống, nhịp lao động đều đặn của những ngư dân=> Phó từ “lại”
Giữa biển cả mây trời bao la, những ngư dân cùng cất cao tiếng hát. Khúc hát vang lên khỏe khoắn, mạnh mẽ , đầy hi vọng, lạc quan như hòa cùng gió khơi làm căng cánh buồm, đẩy con thuyền băng băng tiến về phía trước
Tình yêu biển cả, niềm hào hứng, phấn chấn, tin tưởng của ngư dân trong buổi lên đường, tâm thế của những người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
II Tìm hiểu văn bản:
1.Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.
Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
- Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi.
TIẾT 51
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
- Liệt kê: cá bạc, cá thu -> biển có rất nhiều tôm cá quý hiếm đang chờ con người khai thác.
- So sánh: “Như đoàn thoi” ->Hình ảnh đoàn cá nhiều vô kể, hình dáng như con thoi đang lao đi vun vút
- Biển lặng: Cầu mong trời yên biển lặng để công việc ra khơi được thuận buồm xuôi gió
Sự giàu có và trù phú của biển khơi.
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
- Nhân hoá: “ Dệt biển”
Những chú cá muôn màu sắc bơi lội tung tăng như dệt lên những tấm thảm rực rỡ, lung linh sắc màu, tạo nên vẻ đẹp kỳ ảo, thơ mộng của biển đêm.
- Câu cầu khiến: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Tiếng gọi thiết tha thể hiện khát vọng chinh phục biển cả, chinh phục thiên nhiên, mong ước đánh bắt được nhiều tôm cá của những ngư dân trên biển.
Khổ thơ thể hiện niềm tự hào của tác giả về vùng biển quê hương đẹp giàu. Tiếng hát của người lao động đã thể hiện tâm hồn chan chứa niềm vui, phấn khởi, hăng say lao động, làm giàu cho đất nước, quê hương.
2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng ( khổ 3,4,5,6)
Khổ 3: Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Con thuyền lấy gió làm bánh lái, lấy trăng làm cánh buồm. Buồm được trăng chiếu vào trở thành “buồm trăng”. Hình ảnh thơ thật đẹp, lãng mạn, thơ mộng.
Động từ “lướt” vẽ ra hình ảnh con thuyền đang băng băng lướt nhanh trên biển, thật nhẹ nhàng. Khí thế hào hùng, sôi nổi của con thuyền được thể hiện qua hình ảnh “Lướt giữa mây cao với biển bằng” Tầm vóc của con thuyền đã được nâng lên, sánh ngang cùng thiên nhiên, vũ trụ.
Không còn là những con thuyền cô đơn, bé nhỏ giữa đất trời, vũ trụ, mà là hình ảnh những con thuyền kì vĩ, lớn lao. Con thuyền hay cũng chính là hình ảnh hoán dụ cho những người ngư dân trong tư thế làm chủ thiên nhiên, đất trời.
Cuộc đánh bắt cá trên biển đã trở thành công cuộc chinh phục thiên nhiên. Nó thực sự là một trận chiến đòi hỏi ngư dân phải dày dạn kinh nghiệm chiến đấu. Các từ “dò”, “dàn đan thế trận” đã cho thấy sự thuần thục, khéo léo của người lao động trong công việc của mình.
Khổ thơ gợi lên bức tranh lao động kì vĩ và tráng lệ, bức tranh như thâu tóm được cả không gian thiên nhiên bao la, nâng con người lên tầm vóc vũ trụ.
BTVN: Viết đoạn văn tổng-phân-hợp khoảng 12 câu phân tích 2 khổ thơ đầu bài “Đoàn thuyền đánh cá” với câu chủ đề “Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong buổi hoàng hôn thật đẹp, thật hào hứng, vui tươi”. Trong đoạn văn có sử dụng một câu bị động (gạch chân dưới câu bị động)
Khổ 4: Cá nhụ, cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
b. Sự giàu có của biển khơi: khổ 4,5
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
(…)Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
NT:
+ Liệt kê: cá nhụ, cá đé, cá chim, cá song→ tác giả miêu tả sự phong phú giàu có của biển cả quê hương
+ H/ả ẩn dụ, so sánh: “cá song lấp lánh đuốc đen hồng” → tả thực loại cá song thân dài, vảy có chấm nhỏ màu đen hồng
→ gợi về đoàn cá song như cây đuốc lấp lánh dưới trăng đêm
+ Nhân hóa: “Cái đuôi em quẫy” → miêu tả động tác quẫy nước của một chú cá dưới trăng
+ Gợi đêm trăng đẹp , huyền ảo trên mặt biển→ cá quẫy nước như quẫy trên trăng, muôn nghìn mảnh trăng tan ra, lấp lánh
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
Nghệ thuật nhân hóa “đêm thở”, cùng với dấu hai chấm để giải thích: tiếng thở của biển đêm là tiếng sao lùa sóng nước biển trở thành một sinh thể có linh hồn, cuộn trào sức sống
=> Khổ thơ thứ 4 đã ca ngợi sự giàu có, trù phú (2 câu đầu) và vẻ đẹp lung linh, kì ảo, thơ mộng của biển đêm (2 câu cuối)
Khổ 5
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Tiếng hát một lần nữa lại cất lên đầy vui tươi, phấn khởi, hăng say trong khúc ca lao động.
Thiên nhiên như hòa nhịp cùng con người “Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”. Vầng trăng đã điểm nhịp cho công việc gõ thuyền của ngư dân, khiến cho công việc đánh bắt cá trở nên vô cùng thơ mộng, lãng mạn.
Nghệ thuật so sánh “Biển cho ta cá như lòng mẹ” đã nói lên lòng yêu quý, biết ơn của những người dân chài đối với biển. Biển rộng lớn, bao dung như tấm lòng người mẹ. Biển đã cho con người nguồn tài nguyên quý giá, nuôi dưỡng họ khôn lớn, trưởng thành. Bao tình cảm, cảm xúc chứa chan đã được gửi gắm trong những vần thơ thật xúc động.
Khổ 6
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc, đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng
-Thời gian: Một ngày mới sắp sửa bắt đầu. Đó cũng là thời điểm những ngư dân đã kết thúc một đêm lao động miệt mài trên biển.
- Thành quả: kéo xoăn tay chùm cá nặng. Tiếng “ta” vang lên đầy kiêu hãnh. Hình ảnh “xoăn tay” gợi những nét gân guốc, rắn rỏi, chắc khỏe của những con người lao động. “Chùm cá nặng” là thành quả bội thu, là phần thưởng cho những cố gắng chăm chỉ, nỗ lực, cần cù của họ
Hai câu thơ cuối “Vảy bạc ….nắng hồng” mở ra một không gian thiên nhiên ngập tràn ánh bình minh tươi hồng. Màu trắng, màu vàng của vảy cá phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ, lấp lánh, đẹp huy hoàng.
Nhịp lao động của con người tuần tự với nhịp thời gian của thiên nhiên. Khi con người thu xếp ra về cũng là lúc thời gian chuyển dần về sáng. Một buổi đánh bắt cá trên biển đã hoàn tất.
Khúc tráng ca lao động trên biển đã khép lại thật nhẹ nhàng, phơi phới, tràn đầy niềm vui.
3. Khổ 7: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Bài ca lao động ngân vang hào hùng nhất ở khổ thơ cuối: diễn tả cảnh đoàn thuyền thắng lợi trở về trong bình minh rực rỡ, tráng lệ
Câu hát đã theo suốt cuộc hành trình của người dân chài. Nếu khổ 1, câu hát vang lên là sự hào hứng, phấn chấn, lạc quan, tin tưởng cho buổi lao động sắp diễn ra, thì câu hát ở khổ cuối là niềm vui, niềm phấn khởi trước thành quả lao động bội thu.
Hình ảnh mặt trời cũng được lặp lại, nhưng mang ý nghĩa khác. Nếu khổ đầu là mặt trời của hoàng hôn, thì khổ cuối là mặt trời của bình minh => Bình minh báo hiệu một ngày mới,
báo hiệu sự sống sinh sôi, nảy nở, khởi đầu của những niềm vui, niềm hạnh phúc.
Hình ảnh đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời là hình ảnh rất đẹp, kì vĩ: con người được nâng lên sánh ngang với thiên nhiên, vũ trụ. Chính những con người lao động ấy đã chiến thắng thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên.
Bao trùm không gian là màu hồng rực rỡ của bình minh. Muôn ngàn mắt cá phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh, rực rỡ, huy hoàng.
Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng ngập tràn. Đó phải chăng là ánh sáng của niềm vui, niềm hi vọng về một tương lai tươi sáng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới ở miền Bắc nước ta.
LUYỆN TẬP
Cho câu chủ đề sau: “ Đoàn thuyền đánh cá không chỉ là một bức tranh sơn mài lộng lẫy về vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là một bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động”
Hãy viết đoạn văn tổng- phân- hợp (12 câu) hoàn chỉnh câu chủ đề trên.
Gợi ý: Đoạn văn có 2 luận điểm chính:
bức tranh sơn mài lộng lẫy về vẻ đẹp của thiên nhiên: ( 2 câu thơ đầu + khổ 2, khổ 4)
bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động: ( khổ 3, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời, câu hát của ngư dân)
 







Các ý kiến mới nhất