Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

skkn van 8

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn A
Ngày gửi: 16h:19' 07-12-2021
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 44
Số lượt thích: 0 người
TRƯỜNG THCS NGÔ GIA TỰ
chào mừng quý thầy cô về tham dự chuyên đề cấp tổ
Giáo viên báo cáo: Đinh Anh Tuấn
Tổ Khoa học xã hội
Năm học : 2021 - 2022
Chuyên đề
TỔ CHỨC DẠY HỌC TỰ CHỌN VỚI CHỦ ĐỀ:
VĂN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI QUA HAI VĂN BẢN
“CHIẾU DỜI ĐÔ” VÀ “BÀN LUẬN VỀ PHÉP HỌC”
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 8
( THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC )


I. Đặt vấn đề:

- Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực cho người học càng trở nên quan trọng và cần thiết, nó trở thành một trong những vấn đề được quan tâm của toàn xã hội nói chung và toàn ngành giáo dục nước nhà nói riêng. Trong dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau 2015 nêu rõ “Một trong những quan điểm nổi bật là phát triển chương trình theo định hướng năng lực”.
Theo từ điển tiếng Việt, năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức, kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.


- Trong giai đoạn hiện nay, dạy học phải hướng đến phát huy tính tích cực của học sinh, đòi hỏi học sinh phải tự mình khám phá, chinh phục kiến thức, không chỉ có thế mà qua những kiến thức đó, người giáo viên cần phải hướng các em học sinh làm sao hình thành được những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống như kỹ năng tư duy, sáng tạo, kỹ năng hợp tác…Bên cạnh đó giúp học sinh có kỹ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử, hành động tích cực, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày, có suy nghĩ, có quyết định đúng đắn trong so sánh, có quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn và lành mạnh của cuộc sống.
-Văn học Việt Nam trung đại bao gồm những văn bản văn chương thẩm mỹ và những văn bản văn học chức năng ra đời trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Phân chia theo chức năng chủ yếu, văn học Việt Nam trung đại gồm hai bộ phận: văn chương thẩm mỹ (chủ yếu đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ) và văn học chức năng (chủ yếu đáp ứng nhu cầu thực tiễn), trong đó một phần của văn học chức năng ngày nay gọi là văn chính luận hay còn gọi là nghị luận trung đại. Những văn bản được chọn dạy học là những văn bản thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo với giá trị nghệ thuật cao. Do có giá trị đích thực nên nhiều văn bản trong số đó vượt qua được thử thách của thời gian.
- Phần văn nghị luận trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 8 gồm có bốn văn bản với bốn thể khác nhau đó là: Chiếu dời đô (Chiếu), Hịch tướng sĩ (Hịch), Nước Đại Việt ta (Cáo), Bàn luận về phép học (Tấu).
Các văn bản này không những nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức về những sự kiện trọng đại của lịch sử đất nước trong quá khứ, những vấn đề thiết yếu trong đời sống đương thời và hiện tại mà còn cung cấp cho học sinh kiến thức về thể loại của văn học trung đại. Mặt khác cụm bài này còn giúp học sinh thấy được trí tuệ sáng suốt, lối tư duy sắc sảo, chặt chẽ, có sự kết hợp hài hòa giữa lý và tình của ông cha ta trước đây. Từ đó học sinh có thể áp dụng vào việc học kiểu bài nghị luận trong phân môn Tập làm văn. Như vậy, việc dạy học văn nghị luận trung đại Việt Nam rất có điều kiện để hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh. Và Chiếu dời đô và Bàn luận về phép học là hai văn bản thể hiện rõ nhất những nội dung trên. Đồng thời hai văn bản cũng đại diện cho hai đối tượng tiêu biểu sử dụng lúc bấy giờ: vua, chúa, bề trên thì dùng thể loại chiếu; còn quan lại, thần dân thì dùng tấu. Vì thế, tôi lựa chọn hai văn bản này để thực hiện chuyên đề : Tổ chức dạy học tự chọn với chủ đề: Văn nghị luận trung đại qua hai văn bản “Chiếu dời đô” và “Bàn luận về phép học” trong chương trình Ngữ văn lớp 8 theo định hướng phát triển năng lực.
II. Mục tiêu:
Dạy học định hướng phát triển năng lực được thể hiện ở trong các thành tố quá trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Ngoài các yêu cầu về mức độ như nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng các kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế. Các mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường.
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn. Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, học sinh sẽ được hình thành và phát triển không phải một năng lực mà được hình thành đồng thời nhiều năng lực.
- Về nội dung: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa dạng gắn với thực tiễn.
- Về kiểm tra đánh giá: Về bản chất, đánh giá năng lực phải thông qua đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của học sinh trong các loại tình huống phức tạp khác nhau.
- Giờ học phải phát huy được tính tích cực của học sinh: ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi thì còn có những yêu cầu mới như thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin, được thực hiện theo nguyên tắc nhiều chiều: giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau.
- Dạy học tích hợp và phân hóa: dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên phải thấy được mối liên hệ nội môn (nghe, nói, đọc, viết), theo đó nội dung dạy đọc có liên quan lặp lại ở nội dung viết, nói và nghe; kiến thức và kỹ năng đọc hiểu mà học sinh tích lũy được trong quá trình tiếp nhận văn bản sẽ giúp cho năng lực giao tiếp (nghe, nói) của học sinh tốt hơn. Những kiến thức và cách thức diễn đạt mà học sinh được học trong quá trình đọc sẽ được các em dùng để thực hành viết. Những điều các em được dùng khi đọc, viết sẽ được các em vận dụng vào nói. Cùng với tích hợp nội môn, trong quá trình dạy giáo viên có thể tích hợp các kiến thức liên môn khác để định hướng phát triển các năng lực khác nhau cho học sinh khi vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
- Dạy học phân hóa có thể thực hiện bằng nhiều cách theo nhiều mức độ khác nhau bằng hệ thống câu hỏi phù hợp để làm sao tất cả học sinh đều làm việc và lựa chọn vấn đề phù hợp với mình. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học.


Cấu trúc bài soạn giáo án.
- Xác định vấn đề dạy học trong bài giảng.
- Nội dung của bài học và thời lượng thực hiện.
- Chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ và những phẩm chất, năng lực của học sinh có thể hình thành và phát triển trong quá trình dạy học.
- Bảng mô tả bốn mức yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của các loại câu hỏi/ bài tập kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học.
- Các câu hỏi bài tập tương ứng với mỗi loại, mức độ yêu cầu được mô tả trong quá trình tổ chức hoạt động học của học sinh.
- Tiến trình dạy học thiết kế 5 hoạt động
III. Nội dung:
1.Qua tìm hiểu hai văn bản "Chiếu dời đô" và "Bàn luận về phép học" nhằm hình thành các năng lực cho học sinh:


a.Năng lực hợp tác:
Hợp tác có nghĩa là phối hợp, tương tác hỗ trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ để đạt mục tiêu chung. Học sinh thể hiện năng lực hợp tác của mình qua hoạt động thảo luận nhóm. Trong quá trình thảo luận nhóm học sinh biết chia sẻ ý kiến của mình, lắng nghe ý kiến của bạn để giải quyết vấn đề của câu hỏi. Khi dạy văn bản Chiếu dời đô sau khi tìm hiểu văn bản xong, học sinh trao đổi, thảo luận với nhau để thấy được trình tự lập luận rất chặt chẽ của văn bản. Ban đầu tác giả nêu sử sách làm tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ. Sau đó soi sáng tiền đề vào thực tế hai triều Đinh, Lê và từ đó đi tới kết luận: khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô. Ở bài Bàn Luận về phép học, học sinh hợp tác với nhau để thấy được cách lập luận có tính chất đối lập hai quan niệm về việc học của Nguyễn Thiếp. Lập luận của Nguyễn Thiếp bao hàm sự lựa chọn với quan điểm rõ ràng, lý lẽ chặt chẽ...
b. Năng lực giải quyết vấn đề:

Học sinh nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập, phát hiện và lý giải những vấn đề trong thực tiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm. Chẳng hạn khi học văn bản Chiếu dời đô học sinh sẽ hiểu vì sao Lý Công Uẩn phải viện dẫn sử sách để lập luận ? Vì sao ông lại sử dụng ngôn ngữ mang tính đối thoại tâm tình trong một văn bản có tính chất chính luận? Khi học văn bản Bàn luận về phép học, học sinh phải lý giải được vì sao Nguyễn Thiếp phê phán những lối học lệch lạc sai trái và đề xuất những phương pháp học đúng đắn. Từ đó, học sinh sẽ nhận định đâu là phương pháp học tập đúng, phù hợp với thực tế ngày nay để giải quyết vấn đề học tập của bản thân.
c. Năng lực giao tiếp:
Học sinh đọc - hiểu được một văn bản nghị luận trung đại, thể hiện được sắc thái, tình cảm của người viết gửi gắm trong văn bản. Trong quá trình giải quyết vấn đề, học sinh biết đưa ra ý kiến của mình, phản biện ý kiến của người khác. Mặt khác, khi học phần văn bản nghị luận trung đại rất có điều kiện để hình thành và phát triển năng lực đối sánh, năng lực phê phán, năng lực đánh giá các hiện tượng đời sống, cùng với phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ dựa trên vốn từ ngữ phong phú hơn, nhất là từ ngữ Hán Việt và Việt cổ. Ví dụ: Khi học Chiếu dời đô học sinh có thể bày tỏ ý kiến của mình về nhận định của Lý Công Uẩn về hai nhà Đinh, Lê; liên hệ thực tế hiện tại để đánh giá quyết định dời đô của Lý Công Uẩn và nhận xét về tầm nhìn quân sự của ông. Ở bài Bàn luận về phép học, học sinh có thể đưa ra những nhận xét đánh giá của mình về những phương pháp học của Nguyễn Thiếp, so sánh với thực tế để xác định phương pháp học phù hợp nhất.
d.Năng lực cảm thụ thẩm mĩ:
Các văn bản nghị luận trung đại thuộc bộ phận văn học chức năng (chủ yếu đáp ứng nhu cầu thực tiễn), ngày nay gọi là văn chính luận. Dạy học văn bản chính luận Việt Nam trung đại nếu cứ bị ám ảnh bởi thuộc tính của văn chính luận hiện nay sẽ bỏ qua những giá trị thẩm mỹ quan trọng của các văn bản xưa. Những văn bản chính luận Việt Nam trung đại xuất sắc thực sự là tổng hòa của những giá trị mà ngày nay đã thuộc về những lĩnh vực khác nhau. Chiếu dời đô có sự kết hợp nhuần nhị giữa hệ thống lý lẽ và những dòng văn biểu cảm thể hiện tấm lòng của một vị vua đối với đất nước. Bàn luận về phép học với cách lập luận chặt chẽ thể hiện tấm lòng của một trí thức chân chính đối với đất nước. Việc cảm nhận được những giá trị đó sẽ giúp hình thành phát triển năng lực thẩm mỹ cho học sinh, giúp các em cảm nhận được giá trị lòng yêu nước, bồi dưỡng lòng khâm phục, kính yêu các tác giả. Từ đó giúp hình thành thế thế giới thẩm mỹ cho bản thân.
đ.Năng lực tự quản bản thân:
Biết học tập và rèn luyện lối tư duy có lý có tình vào việc giải quyết các tình huống trong thực tiễn học tập cũng như trong cuộc sống. Như trong bài Chiếu dời đô, kết thúc bài chiếu Lý Công Uẩn không ra mệnh lệnh mà lại đặt câu hỏi: "Các khanh nghĩ thế nào?". Cách kết thúc mang mang tính chất đối thoại, trao đổi, tạo sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của nhà vua với thần dân. Như vậy Chiếu dời đô thuyết phục người nghe bằng lý lẽ chặt chẽ và bằng tình cảm chân thành. Hay ở bài Bàn luận về phép học, sức thuyết phục của bài tấu không chỉ đến từ kết cấu chặt chẽ,lập luận lôgic mà còn đến từ tấm lòng yêu nước và nhân cách chính trực của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.
e. Năng lực sáng tạo:
Hướng học sinh biết cách sáng tạo trong việc mở rộng kiến thức qua các hình thức khác nhau, biết cách vẽ sơ đồ tư duy thể hiện nội dung bài học.
g. Năng lực tự học:
Học sinh tự học bài, soạn bài, làm bài tập ở nhà. Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, tác giả Lý Công Uẩn, Nguyễn Thiếp, đặc điểm thể chiếu, tấu; nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của hai văn bản "Chiếu dời đô" và "Bàn luận về phép học" thông qua việc chuẩn bị bài và làm bài tập giáo viên yêu cầu. Tìm hiểu thêm về các văn bản nghị luận trung đại khác.
2. Các bước xây dựng giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS

a. Bước 1: Xác định vấn đề dạy học trong bài giảng
Trong chương trình Ngữ văn của từng khối lớp, chúng ta chọn những bài học có mối liên quan chặt chẽ với nhau về mặt nội dung, ý nghĩa. Xác định nội dung, phạm vi kiến thức liên quan muốn đưa vào bài. Nội dung có thể là sự tích hợp một đơn vị kiến thức trong nhiều bài, phải mang tính định hướng vào thực tế cuộc sống (sau khi học xong bài học, học sinh sẽ giải quyết được những vấn đề thực tiễn gì?) Từ những nội dung liên quan đó, giáo viên lựa chọn bài sẽ dạy và soạn thành một giáo án Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
b. Bước 2: Nội dung của bài học và thời lượng thực hiện.
Căn cứ các nội dung đã được xác định tích hợp, giáo viên tiến hành xây dựng bài giảng. Về thực chất, mỗi bài học này tương ứng với một loại hoạt động học theo tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực.
c.Bước 3: Xác định mục tiêu của bài giảng.
-Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học, dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong chuyên đề sẽ xây dựng.
- Mục kiến thức: Liệt kê các đơn vị kiến thức (căn cứ vào chuẩn kiến thức)
- Mục kỹ năng: Xác định những kỹ năng cần hình thành và rèn luyện dựa trên đơn vị kiến thức.


d. Bước 4: Bảng mô tả các năng lực cần phát triển dựa trên các mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập
Mô tả rất khái quát để có thể vận dụng cho nhiều nội dung cụ thể của từng bài/từng đơn vị nội dung trong chủ đề (chưa có hình thức của câu hỏi). Có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học.

đ.Bước 5:Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả
Mục đích của công việc này là để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề đã xây dựng. Cụ thể là thiết kế những câu hỏi cụ thể, bám sát các mức độ yêu cầu đã xác định ở bước 4 và phù hợp với năng lực cần phát triển cho người học.
e.Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học
Để thiết kế tiến trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên phải hình thành được các hoạt động thực hiện trên lớp và ở nhà. Mỗi tiết học trên lớp có thể thực hiện một số hoạt động trong tiến trình dạy học còn một số hoạt động giao về nhà cho học sinh thực hiện. Khi tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên cần chú ý đặt học sinh vào các tình huống xuất phát gần gũi với thực tế cuộc sống để học sinh dễ cảm nhận, dễ liên hệ thực tế thì việc hình thành năng lực cho học sinh dễ dàng hơn. Từ tình huống xuất phát ban đầu, học sinh có thể hình thành những vấn đề khác xảy ra trong quá trình tìm hiểu các vấn đề mà giáo viên nêu ra trong các hoạt động dạy học. Từ đó, học sinh sử dụng những năng lực của mình như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học….để tìm hiểu và chiếm lĩnh tri thức GV truyền đạt.
- Phần mục tiêu của bài căn cứ vào chuẩn kiến thức – kỹ năng, xác định mục tiêu của từng hoạt động cần căn cứ vào mục tiêu chung của bài theo từng đơn vị kiến thức.
- Chú trọng cách tiến hành, cách tổ chức các hoạt động học tập của học sinh sao cho giáo viên chỉ là người tổ chức giao việc và chính xác hóa kiến thức còn học sinh được tự khám phá, trải nghiệm và chiếm lĩnh kiến thức thông qua các kỹ năng tự học, kỹ năng hợp tác…
- Cá thể hóa đối tượng học sinh, đặc biệt là nhóm học sinh cần giúp đỡ và nhóm học sinh cần phát huy năng lực.
- Chỉ rõ nội dung cần giúp đỡ hay cần phát huy cho học sinh.
- Để phát huy lợi thế của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, cần vận dụng tốt các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực. Tùy theo đặc thù giáo viên có thể lựa chọn các phương pháp thích hợp nhất để phát huy được năng lực của mỗi học sinh. Mỗi phương pháp dạy học đều có điểm mạnh, yếu riêng. Vì thế, để phát huy điểm mạnh, khắc phục nhược điểm, người thầy phải vận dụng các kỹ thuật dạy học để hỗ trợ. Chẳng hạn, để phát huy ưu thế của phương pháp thảo luận nhóm và hạn chế hiện tượng học sinh ỷ lại, không hợp tác khi thực hiện phương pháp này, người dạy có thể sử dụng kỹ thuật Khăn trải bàn. Đây là kỹ thuật dạy học đòi hỏi tất cả các thành viên của nhóm đều phải tham gia.
Lưu ý khi soạn giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC :

Tiết 94-95:
- CHIẾU DỜI ĐÔ (Lý Công Uẩn)
- BÀN LUẬN VỀ PHÉP HỌC (Nguyễn Thiếp)
I. Mục tiêu:
1. Kiến thức:
- Những hiểu biết bước đầu về thể chiếu, tấu.
- Đặc điểm hình thức lập luận, cách dùng câu văn biền ngẫu, điển tích, điển cố trong hai văn bản Chiếu dời đô và Bàn luận về phép hoc.
- Thấy được sự phát triển của quốc gia Đại Việt đang trên đà lớn mạnh, ý nghĩa trọng đại của sự kiện dời đô từ Hoa Lư ra thành Thăng Long và sức thuyết phục mạnh mẽ của lời tuyên bố quyết định dời đô qua văn bản Chiếu dời đô.
- Quan điểm, tư tưởng tiến bộ của tác giả về mục đích, phương pháp học và mối quan hệ của việc học với sự phát triển của đất nước qua văn bản Bàn luận về phép học.
2. Năng lực
- Năng lực hợp tác: Biết hợp tác và làm việc hiệu quả với các bạn trong nhóm, giao tiếp với các bạn nhóm khác, với giáo viên.
- Năng lực giải quyết vấn đề: Phát hiện và giải quyết các vấn đề có trong văn bản, từ đó phát hiện và lý giải những vấn đề trong thực tiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm.
- Năng lực giao tiếp: Học sinh biết cách đọc một văn bản nghị luận trung đại, thể hiện được sắc thái, tình cảm của người viết gửi gắm trong văn bản. Trong qúa trình giải quyết vấn đề, học sinh biết đưa ra ý kiến của mình, phản biện ý kiến của người khác.
- Năng lực cảm thụ thẩm mỹ: Học sinh cảm nhận được Chiếu dời đô có sự kết hợp giữa hệ thống lý lẽ và những dòng văn biểu cảm thể hiện tấm lòng của một vị vua đối với đất nước. Bàn luận về phép học với cách lập luận chặt chẽ thể hiện tấm lòng của một trí thức chân chính đối với đất nước
- Năng lực tự quản bản thân: Biết học tập và rèn luyện lối tư duy có lý có tình vào việc giải quyết các tình huống trong thực tiễn học tập cũng như trong cuộc sống.
- Năng lực sáng tạo: Hướng học sinh biết cách sáng tạo trong việc mở rộng kiến thức qua các hình thức khác nhau, biết cách vẽ sơ đồ tư duy thể hiện nội dung bài học.
- Năng lực tự học: Học sinh tìm hiểu thêm về bối cảnh lịch sử, tác giả Lý Công Uẩn, Nguyễn Thiếp, đặc điểm thể chiếu, tấu; nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của hai văn bản "Chiếu dời đô" và "Bàn luận về phép học".
3. Phẩm chất
- Giáo dục tư tưởng tự hào, khát vọng tốt đẹp trong cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.
- Nhận thức được phương pháp học tập đúng, kết hợp học với hành. Có ý thức và động cơ học tập đúng đắn.
II. Chuẩn bị :
1.Giáo viên:
+ Nghiên cứu kỹ tài liệu liên quan đến bài học (sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức - kỹ năng, các tài liệu tập huấn);
+ Thiết kế giáo án kết hợp với báo cáo chuyên đề;
+ Thiết bị dạy học: giáo án powerpoint
+ Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo từng yêu cầu cụ thể của bài học.
2. Học sinh:
+ Đọc kỹ hai văn bản Chiếu dời đô và Bàn luận về phép học;
+ Tìm hiểu thêm tư liệu về tác giả, tác phẩm, bối cảnh lịch sử khi văn bản ra đời. 10
+ Chia bố cục, xác định hệ thống luận điểm, luận cứ trong từng văn bản;
+ Nghiên cứu vẽ sơ đồ tư duy thể hiện hệ cách lập luận của các văn bản;
+ Qua hai văn bản nhận xét những nét chung về nội dung, nghệ thuật của các văn bản nghị luận trung đại.
III. Tiến trình dạy học:
HOẠT ĐỘNG 1: MỞ ĐẦU
a. Mục tiêu: Tạo tâm thế hứng thú cho HS.
b. Nội dung: Hình ảnh thể hiện sự kiện Lý Công Uẩn dời đô và hình ảnh của vua Quang Trung và Nguyễn Thiếp

c. Sản phẩm hoạt động: Câu trả lời của học sinh
d. Tổ chức thực hiện:
GV nêu yêu cầu: Quan sát hình ảnh, hình ảnh trên gợi cho em nhớ đến nhân vật và sự kiện nào?
- Học sinh quan sát hình ảnh:
HS trả lời:
+ Hình 1 liên quan đến sự kiện lịch sử: Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La.
+ Hình 2 là hình ảnh vua Quang Trung và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. (Ở hình 2 nếu học sinh không đoán được GV có thể gợi dẫn: nhân vật ở phía bên trái đó là vua Quang Trung, còn nhân vật có lại là một danh sĩ mà vua Quang Trung đã ba lần viết thư mời ông ra giúp. Đó là ai?)
GV: Lý Công Uẩn là một vị vua anh minh tài giỏi, Nguyễn Thiếp là một danh sĩ được người đời kính trọng, điểm chung của họ là tấm lòng vì dân vì nước. Điều đó không chỉ thể hiện qua hành động mà còn được thể hiện qua những áng văn chính luận mà họ để lại cho hậu thế. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu điều đó qua hai văn bản Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn và Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp.
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
a. Mục tiêu: Giúp học sinh nắm bắt được những kiến thức trọng tâm về tác giả, tác phẩm
b. Nội dung:
+ Tác giả, tác phẩm, bối cảnh lịch sử khi văn bản ra đời.
+ Chia bố cục, xác định hệ thống luận điểm, luận cứ trong từng văn bản;
+ Cách lập luận của văn bản
+ Những nét chung về nội dung, nghệ thuật của các văn bản nghị luận trung đại.
c. Sản phẩm hoạt động: Câu trả lời của học sinh, phiếu học tập.
d. Tổ chức thực hiện:
A- Văn bản CHIẾU DỜI ĐÔ – Lý Công Uẩn (35p)
Hoạt động 1: GV giới thiệu cho HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm.
I. Giới thiệu chung
1) Tác giả:
- Học sinh đọc phần chú thích (*) trong SGK kết hợp phần tìm hiểu thêm ở nhà.
(?) Giới thiệu về tác giả Lý Công Uẩn.
- Học sinh trả lời (Lý Công Uẩn (974-1028) tức Lý Thái Tổ, là vị vua anh minh, có chí lớn và lập nhiều chiến công)
- HS khác nhận xét, bổ sung đánh giá.
- GV kết luận những nét chính cần nhớ về tác giả.
2) Tác phẩm:
(?) Văn bản “Chiếu dời đô” ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Học sinh trả lời (Chiếu dời đô được viết bằng chữ Hán, ra đời gắn liền sự kiện lịch sử trọng đại: Thành Đại La trở thành kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý và nhiều triều đại phong kiến Việt Nam).
- HS khác nhận xét, bổ sung đánh giá.
- GV kết luận.
(?) Trình bày những hiểu biết của em về thể loại của văn bản.
- Học sinh trả lời (Thể loại: Thể chiếu: Thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.)
- HS khác nhận xét, bổ sung đánh giá
- GV kết luận.
+ GV Chiếu slide giới thiệu mục đích, nội dung, hình thức của thể chiếu.
+ Chiếu slide giải thích: văn biền ngẫu, cho ví dụ trong bài (Văn biền ngẫu: là từng cặp đôi câu văn sóng đôi giống nhau, cân xứng với nhau. Bài “Chiếu dời đô” được viết bằng văn xuôi, có xen câu văn biền ngẫu)
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản
II. Đọc - Hiểu văn bản.
1) Đọc, tìm hiểu nghĩa từ khó.
- GV hướng dẫn đọc: Giọng trang trọng, biểu hiện tình cảm tha thiết, chân thành. Hơi nhấn mạnh các câu văn biền ngẫu, câu văn bày tỏ tâm trạng.
- Giáo viên đọc mẫu một đoạn sau đó gọi học sinh đọc. Các học sinh khác nhận xét về cách đọc của bạn.
- GV cho HS phát hiện từ khó khác cần giải thích.
2) Tìm hiểu văn bản
2. 1. Phương thức biểu đạt:
(?) Xác định phương thức biểu đạt, vấn đề nghị luận và bố cục của văn bản.
+ Phương thức biểu đạt: Nghị luận
+ Vấn đề nghị luận trong văn bản: sự cần thiết phải dời đô từ Hoa Lư ra Đại La.
2. 2. Bố cục: 3 phần
(?) Xác định bố cục của văn bản.
- Bố cục: 3 phần
+ Phần 1: Từ đầu. . . “dời đổi”: Lý Công Uẩn phân tích những tiền đề, cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời dô.
+ Phần 2: tiếp đến. . . “muôn đời”: những lý do để chọn thành Đại La là kinh đô mới.
+ Phần 3: phần còn lại: kết luận, đưa ra lời ban bố.
2. 3. Phân tích:
a. Lý do của việc dời đô:
- Giáo viên chiếu phần 1 của văn bản, yêu cầu học sinh đọc thầm và thực hiện các nhiệm vụ:
(?) Ở đoạn đầu bài chiếu Lý Công Uẩn đã viện dẫn sử sách nói về việc gì?
- Việc dời đô của các vua thời xưa bên Trung Quốc: nhà Thương, nhà Chu nhiều lần dời đô.
- GV chiếu câu hỏi: HS thực hiện theo cá nhân – kỹ thuật động não. Yêu cầu HS đọc kỹ các câu hỏi.
- Học sinh hoạt động cá nhân (câu hỏi ứng với từng tổ – )
- Giáo viên mời cá nhân theo từng dãy báo cáo kết quả, các học sinh khác theo dõi, nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét và kết luận kiến thức cần nhớ.
Tổ 1: Việc dời đô của các vua nhà Thương, Chu nhằm mục đích gì? Kết quả của việc dời đô ấy? Việc tác giả nêu những dẫn chứng đó nhằm mục đích gì?
( Theo sử sách cổ đại Trung Hoa, các triều đại trước đây đã nhiều lần dời đô đem lại kết quả tốt đẹp → cho thấy việc định đô có mối liên hệ đặc biệt với sự hưng thịnh của đất nước).
Tổ 2: Nhận xét về thái độ của tác giả đối với việc hai triều Đinh, Lê vẫn cứ đóng đô ở Hoa Lư? Thái độ ấy cho ta thấy điều gì về kinh đô Hoa Lư đối với sự phát triển đất nước lúc bấy giờ?
(Việc 2 triều Đinh, Lê không dời đô sẽ phạm sai lầm . . . không tuân theo mệnh trời, không học theo cái đúng của thời xưa. Hậu quả là 2 triều đại thì ngắn ngủi nhân dân thì khổ sở, vạn vật không thích nghi, không phát triển thịnh vượng trong vùng đất chật chội. Sự phê phán ấy chỉ ra sự tất yếu của khách quan đó là thời Lý trong đà phát triển đi lên của đất nước thì việc đóng đô ở Hoa Lư không phù hợp cho việc phát triển của đất nước)
Tổ 3: : Theo hiểu biết của em về thực tế lịch sử, vì sao hai triều Đinh, Lê vẫn cứ phải đóng đô ở Hoa Lư? (Việc vẫn cứ phải đóng đô ở Hoa Lư chứng tỏ thế và lực của 2 triều đại ấy chưa đủ mạnh để ra nơi đồng bằng, nơi trung tâm của đất nước mà vẫn còn phải dựa vào thế núi rừng hiểm trở để bảo vệ đất nước)
Tổ 4: : Câu văn "Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.", thể hiện thái độ và tình cảm gì của Lý Công Uẩn? Cách nói ấy có tác dụng gì? (Thể hiện tấm lòng lo lắng cho dân cho nước của Lý Công Uẩn và quyết tâm dời đô. Đó là cách nói có lý, có tình tạo nên sức thuyết phục.)
(?) Nhận xét về nghệ thuật nghị luận ở đoạn này. Với cách lập luận đó tác giả muốn khẳng định điều gì? (Dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, kết hợp lý lẽ và tình cảm, nhằm khẳng định: việc Lý Công Uẩn dời đô không có gì khác thường trái với quy luật, là một việc cần thiết nhất định phải làm để xây dựng một đất nước hùng mạnh, lâu dài)
b. Lợi thế của thành Đại La:
- Giáo viên chiếu phần 2 của văn bản, yêu cầu học sinh đọc thầm và thực hiện các nhiệm vụ:
(?) Theo em, thành Đại La có những lợi thế gì để chọn làm kinh đô của đất nước?
- HS dựa vào SGK nêu ra những lợi thế của thành Đại La
(Nơi trung tâm trời đất; có thế rồng cuộn hổ ngồi; có núi có sông. . . : lợi thế về vị trí địa lý. Là đầu mối giao lưu, mảnh đất hưng thịnh, muôn vật phong phú tốt tươi: lợi thế về chính trị, văn hoá)
(?)Tác giả dùng cách diễn đạt cụ thể như thế nào (qua cấu trúc câu văn, tác dụng). Việc đưa ra những lợi thế của thành Đại La nhằm mục đích gì?
(Các câu văn được viết theo lối biền ngẫu, các vế đối nhau, cân xứng, lý lẽ dẫn chứng thuyết phục người nghe. Khẳng định thành Đại La có đủ điều kiện trở thành kinh đô mới của đất nước)
c. Lời ban bố:
- Giáo viên chiếu phần 3 của văn bản, yêu cầu học sinh đọc thầm và thực hiện các nhiệm vụ:
(?) Sau khi đưa ra những dẫn chứng, lý lẽ để lập luận đầy tính thuyết phục thì Lý Công Uẩn đã kết luận - đưa ra lời ban bố mệnh lệnh như thế nào? Đó là một sự kiện như thế nào?
- Dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La.
- Là một sự kiện trọng đại đối với đất nước.
(?) Đoạn văn sử dụng kiểu câu nào? Nhận xét gì về giọng văn, cách lựa chọn ngôn ngữ ở lời ban bố này?
- Câu 1: nêu khát vọng, khẳng định ý chí dời đô của nhà vua.
- Câu 2: hỏi ý kiến quần thần. Kiểu câu trần thuật, câu hỏi - câu mệnh lệnh mang tính chất đối thoại, tâm tình thuyết phục lòng người.
(?) Lời ban bố mệnh lệnh đó có ý nghĩa như thế nào đối với đất nước?
Thể hiện tầm nhìn về sự phát triển quốc gia Đại việt, khát vọng độc lập, thống nhất của một dân tộc có ý thức có truyền thống tự cường.
* Tích hợp GDANQP: Tầm nhìn chiến lược của vua Lý Công Uẩn về quân sự - Liên hệ vai trò của vị lãnh đạo đối với vận mệnh đất nước qua hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc

Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh Tổng kết
3. Tổng kết
Sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn: Giáo viên chia lớp làm bốn nhóm, mỗi nhóm thực hiện giải
đáp một câu hỏi
- Giáo viên lần lượt mời các nhóm báo cáo kết quả, các nhóm còn lại nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét, đánh giá và kết luận
Câu hỏi:
1) Nhận xét về kết cấu, cách sử dụng từ ngữ của bài chiếu.
2) Nhận xét về giọng văn thể hiện vấn đề trong văn bản.
3) Nêu tác dụng của câu hỏi cuối cùng khi nhà vua ban bố mệnh lệnh trong bài chiếu.
4) Bài học ý nghĩa lịch sử được rút ra qua văn bản Chiếu dời đô.
a. Nghệ thuật :
- Gồm có 3 phần chặt chẽ.
- Giọng văn trang trọng, thể hiện suy nghĩ, tình cảm sâu sắc của tác giả về một vấn đề hết sức quan trọng của đất nước.
- Lựa chọn từ ngữ có tính chất tâm tình, đối thoại.
- Câu hỏi cuối cùng làm cho quyết định của nhà vua được người đọc, người nghe tiếp nhận, suy nghĩ và hành động một cách tự nguyện.
b. Ý nghĩa: Ý nghĩa lịch sử của việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long và nhận thức về vị thế, sự phát triển đất nước của Lý Công Uẩn.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh liên hệ:
(?) Là một học sinh em thấy được trách nhiệm gì trong việc giữ gìn và xây dựng đất nước?
- Học sinh tự bộc lộ.
B - Văn bản: BÀN LUẬN VỀ PHÉP HỌC - Nguyễn Thiếp (35p)
Hoạt động 1: GV giới thiệu cho HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm.
I. Giới thiệu chung
1) Tác giả:
- Học sinh đọc phần chú thích (*) trong SGK kết hợp phần tìm hiểu thêm ở nhà.
(?) Giới thiệu những nét khái quát về tác giả Nguyễn Thiếp.
- HS: Đọc và trình bày dựa theo chú thích *sgk/77. (Nguyễn Thiếp (1723-1804) quê ở Hà Tĩnh, là người học rộng, hiểu sâu, đỗ đạt dưới triều Lê, được người đời rất kính trọng.
2) Tác phẩm:
(?) Văn bản “Bàn luận về phép học” ra đời trong hoàn cảnh nào? Vị trí của đoạn trích.
- Văn bản là phần trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung khi ông vào Phú Xuận hội kiến với nhà vua tháng 8/1791. Văn bản thuộc phần 3 trong bài tấu.
- GV tích hợp Lịch sử: Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ 1771 do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo, lúc đầu đánh đổ chế độ chính trị của họ Nguyễn ở Đàng Trong và đánh tan giặc Xiêm (1785). Sau đó kéo quân ra Bắc đánh đổ họ Trịnh và đánh giặc Thanh. Trước khi đại phá quân Thanh cuối 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân lấy hiệu là Quang Trung. Mùa xuân 1789, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung đã lập nên chiến công vĩ đại quét sạch 20 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi. Từ một lãnh tụ nông dân kiệt xuất, vua Quang Trung đã trở thành một anh hùng dân tộc vĩ đại. Và sau khi đất nước được thống nhất, vua Quang Trung xây dựng đất nước, ban bố khuyến nông, chiếu lập học… chiêu hiền, đãi sĩ…Chúng ta sẽ biết thêm về Nguyễn Huệ - Quang Trung ở chương trình học lớp 9.
- Ngày 10/7/1791, Nguyễn Thiếp được vua Quang Trung viết chiếu mời vào Phú Xuân hội kiến. Và lần này ông đã làm bài tấu dâng lên vua bàn về ba việc bậc quân vương nên biết:
+ Bàn về Quân đức (Đức của vua): Mong bậc đế vương một lòng tu đức, lấy học vấn mà tăng thêm tài, bởi sự học mà có đức.
+ Bàn về Dân tâm (Lòng dân): Khẳng định dân là gốc, gốc vững nước mới yên.
+ Bàn về học pháp (Phép học). Văn bản thuộc việc thứ ba mà Nguyễn Thiếp viết trong bản tấu.
(?) Văn bản này thuộc thể loại gì ? Nêu những đặc điểm về thể loại đó.
- Thể loại: Tấu. (Tấu là lời thần dân tâu lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị. Tấu có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần, văn biền ngẫu).
(?) Tấu khác với chiếu, ở điểm nào?
- Chiếu là thể văn do vua chúa ban truyền xuống thần dân còn tấu thì ngược lại, do thần dân gửi lên vua chúa.
- GV: Vua chúa bề trên dùng chiếu, cáo, hịch, mệnh, còn quan lại, thần dân thì dùng tấu, nghị, biểu, khải, sớ. Lưu ý thêm: phân biệt tấu (thể văn cổ) với tấu (tấu hài, một loại hình kể chuyện trong văn học hịên đại thường biểu diễn trước công chúng và mang ý nghĩa thời sự, có yếu tố hài hước, mua vui).
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:
1) Đọc, tìm hiểu nghĩa từ khó:
- Đọc giọng chân tình, bày tỏ thiệt hơn, vừa tự tin, vừa khiêm tốn.
- GV đọc mẫu một đoạn, HS đọc tiếp văn bản. HS giải nghĩa từ "phép học" trong nhan đề văn bản.
2) Tìm hiểu văn bản
2. 1. Phương thức biểu đạt:
(?) Nêu phương thức biểu đạt của bài tấu. Nguyễn Thiếp đã trình bày lên vua Quang Trung điều gì?
- Phương thức biểu đạt: Nghị luận. Vấn đề nghị luận: Bàn luận về phép học chân chính.
2. 3. Bố cục:
(?) Đoạn trích có thể chia làm mấy phần, nêu nội dung của từng phần.
* Bố cục chia 3 phần
- Phần 1:Từ đầu … “điều tệ hại ấy”: Mục đích chân chính của việc học, phê phán những cách học sai trái.
- Phần 2: Tiếp theo … “bỏ qua”: Khẳng định quan điểm và phương pháp học chân chính.
- Phần 3: Còn lại: Tác dụng của phương pháp học chân chính.
2. 4. Phân tích:
a. Bàn về mục đích của việc học.
- Giáo viên chiếu phần 1 của văn bản, yêu cầu hs đọc thầm và thực hiện các nhiệm vụ.
(?) Phần đầu văn bản, tác giả đã khái quát mục đích chân chính của việc học qua câu nào?
- Câu “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”.
(?) Câu châm ngôn này có hai vế đã dùng cách nói nào? Cách nói này nhằm nhấn mạnh điều gì?
- Cách nói so sánh, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học đối với con người.
(?) Từ“đạo”trong bài được giải thích như thế nào? Từ đó, ta hiểu t
 
Gửi ý kiến