Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 16. Người lái đò Sông Đà (trích)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bạch Cảnh
Ngày gửi: 11h:32' 17-12-2021
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 57
Số lượt thích: 0 người
Thành Viên Trong Nhóm
Nội dung Thuyết trình
Nội dung 1
Nội dung 2
Nội dung 3
Nội dung 4
Nội dung thuyết trình:
Nội dung 1:
Những hiểu biết của bản thân về thể loại kí, về hai tác giả Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
So sánh nghệ thuật viết kí của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Nội dung 2:
Nghiên cứu, làm rõ vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của sông Đà ( Theo nội dung kiến thức của sách giáo khoa)
Dựa vào các bản đồ về sông Đà trên Storymap, lí giải tại sao nhà thơ Nguyễn Quang Bích lại viết về sông Đà: “Chúng thuỷ giai đông tẩu/Đà giang độc bắc lưu”.
Sưu tầm những thông tin, hình ảnh, câu chuyện về sông Đà ngày nay.

Nội dung 1:
1, Định nghĩa: Ký là tên gọi cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại), chủ yếu là văn xuôi tự sự.

2, Đặc trưng:
- Kí lấy sự thật khách quan của đời sống và tính xác thực của đối tượng làm cơ sở
- Kí là những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện đối tượng
- Kí mang tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả

3, Gồm nhiều thể nhiều tiểu loại:
Ký sự, phóng sự, nhật kí,hồi ký,bút ký, tùy bút, du ký, kỷ hành, truyện ký, tản văn,..
Nội dung 1:
Tác giả Nguyễn Tuân
Nội dung 1:
Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, quê ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên nôm là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung Nam Định (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay, tiền thân của trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929).
Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì đi qua biên giới tới Thái Lan không có giấy phép.
Sau khi ra tù, ông bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình.
Nội dung 1:
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi...
Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa và gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.
- Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.
Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam.
Nội dung 1:
a. Tác phẩm chính
- Vang bóng một thời (1940), Tùy bút sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), ...
b. Phong cách nghệ thuật
- Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
- Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông":
+ Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật.
+ Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch". Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội......
+ Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình.
+ Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam.
- Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng:
+ Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng.
+ Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội.
=> Với phong cách rất riêng của mình, có thể nói Nguyễn Tuân chính là hiện thân của cái định nghĩa về người nghệ sĩ. Đối với ông, văn chương nghệ thuật phải có phong cách độc đáo, mới lạ.
Nội dung 1:
Nội dung 1:
Hoàng Phủ Ngọc Tường : sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc lại ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thời niên thiếu ông sinh sống và học tập tại Huế. Sau khi học hết bậc trung học, ông di chuyển vào TP HCM để học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1960, ông tốt nghiệp khóa 1 ban Việt Hán trường Đại học Sư phạm Sài Gòn.
Hoàng Phủ Ngọc Tường
1963


Hoàng Phủ Ngọc Tường
khi ông về già


Hoàng Phủ Ngọc Tường
1963


Hoàng Phủ Ngọc Tường
khi ông về già


Nội dung 1:
Sau đó ông quay trở lại Huế và tiếp tục sự nghiệp học hành của mình tại trường Đại học Văn khoa Huế. Năm 1964, ông chính thức tốt nghiệp và nhận bằng Cử nhân triết tại ngôi trường này.
Trong khoảng thời gian từ năm 1960 – 1966,ông dạy tại trường Quốc Học Huế và tham gia rất tích cực vào các phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mĩ – Ngụy đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Năm 1966 – 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường tình nguyện thoát ly gia đình và di chuyển lên các chiến khu để góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng các hoạt động cách mạng trên mặt trận văn nghệ.
Nội dung 1:
Ông viết văn và viết báo từ khi còn rất trẻ nhưng đến năm 1978 ông mới kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông cũng từng nắm giữ rất nhiều chức vụ quan trọng như: Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên-Huế, Tổng thư kí Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình thành phố Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt, Sông Hương.
Nội dung 1:
Tác phẩm chính
- Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979) , Ai đã đặt tên cho dòng sông (1986), Bản di chúc của cỏ lau (1984), Ngọn núi ảo ảnh (1999),...
Phong cách nghệ thuật
- Là một trong những nhà văn chuyên về bút kí.
- Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý...Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
 
 
Nội dung 1:
Nguyễn Tuân
Viết theo thể loại tùy bút:
Là một thể của ký đối lập với phóng sự. Nêu phóng sự thiên về tự sự với điểm tựa là sự kiện, thì tùy bút nghiêng hẳn về trữ tình với điểm tựa là cái tôi của tác giả.
Hình thức thể loại này cho phép nhà văn phóng bút viết tùy theo cảm hứng, tùy cảnh, tùy việc mà suy tưởng, nhận xét, đánh giá, trình bày v.v.
Những chi tiết, con người cụ thể trong tác phẩm chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá.
Nội dung 1:
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Viết theo thể loại bút kí là một thể của ký, nằm trung gian giữa ký sự và tùy bút.
Bút ký thiên về ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường trong các chuyến đi.
Bút ký tái hiện con người và sự việc một cách phong phú, sinh động, nhưng qua đó biểu hiện khá trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, có màu sắc trữ tình.
Kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình nhưng tùy theo độ đậm nhạt khác nhau của các phương thức mà ta có bút ký chính luận, bút ký tùy bút v.v..
Nguyễn Tuân
Viết theo thể loại tùy bút:
Là một thể của ký đối lập với phóng sự. Nêu phóng sự thiên về tự sự với điểm tựa là sự kiện, thì tùy bút nghiêng hẳn về trữ tình với điểm tựa là cái tôi của tác giả.
Hình thức thể loại này cho phép nhà văn phóng bút viết tùy theo cảm hứng, tùy cảnh, tùy việc mà suy tưởng, nhận xét, đánh giá, trình bày v.v.
Những chi tiết, con người cụ thể trong tác phẩm chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Viết theo thể loại bút kí là một thể của ký, nằm trung gian giữa ký sự và tùy bút.
Bút ký thiên về ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường trong các chuyến đi.
Bút ký tái hiện con người và sự việc một cách phong phú, sinh động, nhưng qua đó biểu hiện khá trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, có màu sắc trữ tình.
Kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình nhưng tùy theo độ đậm nhạt khác nhau của các phương thức mà ta có bút ký chính luận, bút ký tùy bút v.v..
Nội dung 2:
Để khắc họa hình tượng sông Đà như một con sông hung bạo, tác giả Nguyễn Tuân có sử dụng hình ảnh so sánh như:
+ Bờ sông, dựng vách thành… có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một yết hầu, lòng sông như có chỗ nằm gọn giữa hai bờ vách như con hàng động huyền bí
+ Khung cảnh mênh mông hàng cây số nước đá…như lúc nào cũng đòi nợ xuýt
+ Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu
+ Tiếng nước réo nghe như oán trách, lúc như van xin, khiêu khích, giọng gằn như chế nhạo
- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người
Nội dung 2:
Được biết đây là hình ảnh trong game 3D "Người lái đò sông Đà" do bạn Nguyễn Lân – học sinh lớp 11A4, THPT FPT (Hà Nội) thực hiện trong 3 tháng.
Nội dung 2:
Sự liên tưởng độc đáo: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình của người thiếu nữ
Sông Đà được nhìn qua làn mây, qua ánh nắng với màu sắc
    + Xuân: xanh màu xanh ngọc bích
    + Thu: lừ đừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa
Qua đoạn:  Mùa xuân dòng xanh ngọc bích … … … bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về.
- Sông Đà gắn bó với con người tựa cố nhân.
-  Bờ sông hoang dại, bình lặng như thời tiền sử- hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa
Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà
Tại sao nhà thơ Nguyễn Quang Bích lại viết về sông Đà: “Chúng thuỷ giai đông tẩu/Đà giang độc bắc lưu”?
Nội dung 2:
Câu thơ: “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu” là câu thơ của tác giả Nguyễn Quang Bích khi nói đến đặc điểm khác biệt của con sông Đà theo địa lí tự nhiên. Mọi dòng sông trên đất nước Việt Nam đều chảy theo hướng đông, chỉ có sông Đà là chảy theo hướng bắc. Qua đó, Nguyễn Tuân muốn gợi mở cho người đọc vẻ đẹp đầu tiên của sông Đà. Đó là một con sông độc đáo, hung bạo.
Nội dung 2:
Sông Đà chảy vào địa phận Việt Nam còn có tên gọi sông Bờ hay Đà Giang, lúc ầm ào ghềnh thác, lúc lượn lờ bãi bồi, sông đi qua các tỉnh thành: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Nội. Địa hình dọc theo sông Đà chủ yếu núi cao vực thẳm hiểm trở, độ dốc dòng chảy lớn, lòng sông sâu, đậm phù sa. Khi vừa chảy qua khỏi tỉnh Hòa Bình, sông Đà bị dãy núi Ba Vì chắn ở phía hữu ngạn, phải đổi dòng lao lên phía Bắc chạm chân núi Đá Chông, trước khi hợp với sông Thao và sông Lô tạo thành một dòng chảy sông Hồng đổ ra biển.
Một số thông tin khác về Sông Đà:
Nội dung 2:
Bên cạnh những vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của sông Đà thì người dân ở đó cũng thường hay truyền miệng nhau về những huyền thoại như là: Một người đánh cá ở sông Đà, đoạn dòng Nậm Mu đổ ra, khi quăng chài, đã kéo lên một thi thể đang bị phân hủy, không còn ra hình hài một con người nữa. Một số bộ phận trên cơ thể đã bị biến mất... hay Huyền thoại về `thủy quái` sông Đà
Nội dung 2:
Nội dung 2:
 
Gửi ý kiến