Dàn ý chi tiết ôn bài Nhàn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Linh
Ngày gửi: 08h:47' 23-12-2021
Dung lượng: 84.5 KB
Số lượt tải: 28
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Linh
Ngày gửi: 08h:47' 23-12-2021
Dung lượng: 84.5 KB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích:
0 người
Chuyên đề: Ôn tập bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
I. Mở bài
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đề tài.
-Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho, nhà thơ và nhà chính trị lớn của văn học phong kiến thế kỷ XVI.
Bài thơ Nhàn là sang tác tiêu biểu của ông.
Tác phẩm viết về đề tài tâm sự nhà nho về lẽ sống ở đời.
2. Nêu vấn đề.
Bài thơ Nhàn viết về cuộc sống nhàn nhã, ẩn dật và nói lên triết lý sống nhàn, coi thường tiền bạc, vật chất của nhà nho đại quan về quê.
3. Nêu cảm nhận chung
Bài thơ gợi nhiều suy nghĩ và cảm tình cho người đọc.
II. Thân bài: 3 ý
Ý 1: nêu xuất xứ của bài thơ: hoàn cảnh sáng tác, trích ở tập thơ nào.
2. Ý 2: trình bày, giảng giải làm rõ các nội dung của bài thơ theo kết cấu đề, thực, luận kết hoặc theo bố cục 6 câu đầu và 2 câu cuối.
3. Ý 3: nêu nhận xét về nghệ thuật, về quan điểm sống Nhàn có còn phù hợp với chúng ta bây giờ?
II. Thân bài
Ý 1: Bài thơ được viết khi nhà thơ cáo quan về quê sau nhiều năm học và thi đỗ, giữ chức quan to trong triều.
Ông viết nhiều bài về thời cuộc, về thiên nhiên và tâm sự về lẽ sống. Bài thơ Nhàn được viết bằng chữ Nôm trích tập thơ BVQN.
Tác phẩm viết theo thể thơ Đường luật bảy chữ tám câu.
2. Ý 2: Phân tích từng câu thơ qua biện pháp nghệ thuật tu từ:
Phân tích theo kết cấu tả cảnh (6 câu) và tả tình (2 câu)
Hai câu 1 và 2
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Mai, quốc, cần câu: Là những dụng cụ lao động cần thiết, quen thuộc của người nông dân.
Phép liệt kê kết hợp với số từ “một”: Gợi hình ảnh người nông dân đang điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng.
Nhịp thơ thong thả như chính cuộc sống ở quê nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn bó với công việc nặng nhọc, vất vả, lam lũ của một lão canh điền.
–Từ láy “thơ thẩn”: chăm chú vào công việc, tỉ mẩn
Tâm trạng hài lòng, vui vẻ cùng trạng thái ung dung, tự tại của nhà thơ.
Cụm từ phủ định “dầu ai vui thú nào”: Phủ nhận những thú vui mà người đời thường hay theo đuổi.
Hai câu thơ khái quát hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà vất vả, lam lũ, mệt nhọc nhưng tâm hồn lúc nào cũng thư thái, thanh thản.
Bày tỏ tâm thế ung dung, tự tại, triết lí sống nhàn vui với việc ruộng vườn, với công việc lao động hàng ngày. Nhà thơ vốn đèn sach học tập, đi thi, làm quan nhưng bây giờ về quê làm vườn vẫn hài lòng và thích thú.
Hai câu thực
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Nghệ thuật ẩn dụ và nghệ thuật đối: (ta – người, dại – khôn) nhấn mạnh quan niệm sống mang tính triết lí của nhà thơ.
+ “Nơi vắng vẻ”: là nơi không có bóng dáng con người, vắng người, chốn yên tĩnh, thưa người, yên bình, êm ả. Nơi vắng vẻ chỉ chốn quê nhà, nơi thiên nhiên hoang vắng, đồng quê rộng lớn, thưa dân.
+ “Chốn lao xao”: là nơi ồn ào, đông đúc, tấp nập người nói, người cười, đi lại, làm ăn, mua bán. Đó còn là nơi cuộc sống xô bồ, bon chen, giành giật, đố kị. Hình ảnh chốn lao xao trong bài thơ gợi người đọc nghĩ đến nơi quan trường hay thị thành đông người.
– Cách nói ngược: Ta dại – người khôn: Tác giả tự nhận mình là người dại, suy nghĩ chậm, kém cỏi, hay thất bại và ngược với người khôn nhanh nhạy, suy nghĩ và hành động thông minh, hiệu quả. Người dại thường bị chế cười và khinh thường, còn người khôn luôn được yêu mến, kính trọng.
Tác giả tự nhận và khen người nhưng lại xưng hô ta- người đẻ thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của mình ngang hàng, không hề thấp dưới so với người khôn.
+ Người khôn đến chốn quan trường mới đem lại cho con người tiền tài danh vọng, còn người dại tìm về thôn dã cuộc sống thì vất vả, cực khổ.
+ Hàm ý của câu thơ cho người đọc ý hiểu ngược. Nào ai biết ai dại ai không hơn ai. Ai bảo ta dại, người nào bảo mình không? Dại thực chất là khôn bởi ở nơi quê mùa con người mới được sống an nhiên, thanh thản. Khôn thực chất là dại bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình.
NBK thể hiện quan niệm sống tự chọn, tự quyết để được tự do của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Không bị phụ thuộc vào ai, được tự do độc lập trong thời buổi tranh giành chém giết vì quyền lực và giầu sang thì biết ai dại, ai khôn đây?
Về quê có thể an toàn, giữ được mạng sống, và ngược lại.
* Nhắc nhở:
- Đọc hiểu văn bản nói chung và thơ văn nói riêng đều phải dựa vào kiến thức tiếng Việt như hiểu nghĩa của từ ngữ, nghĩa tường minh và hàm ý, nghĩa tình thái, nghĩa sự vật của câu, các hiệu quả của phép tu từ... Và các thể loại văn bản, phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ…
Khó khăn chính là các em chưa tự viết văn và viết tự do theo cách hiểu của mình. Học để thi lấy điểm nên cách tốt nhất là học thuộc viết theo. Các em cũng chưa được trang bị kiến thức cơ bản để trả lời, tại sao tác giả viết như thế và viết như thế để làm gì? sử dụng tu từ để làm gì?
Các em cố gắng học bài để dùng cả đời: nói và viết sử dụng tu từ.
Hai câu luận:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Hai câu luận viết về cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở chốn quê nhà.
Sự xuất hiện của bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông.
Cuộc sống gắn bó, hài hòa với tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Việc ăn uống: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá.
Chuyện sinh hoạt: Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Cách ngắt nhịp 4/3 nhịp nhàng, kết hợp với cách điệp cấu trúc câu. → Gợi sự tuần hoàn, nhịp nhàng thư thái, thong thả.
Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Là những món ăn thôn quê dân giã, giản dị thanh đạm và có nguồn gốc tự nhiên, tự cung tự cấp Thói quen sinh hoạt tự nhiên, thoải mái, có sự giao hòa, quấn quýt giữa con người với thiên nhiên.
Hai câu thơ miêu tả bức tranh bốn mùa có cả cảnh đẹp, cả cảnh sinh hoạt của con người
Sự hài lòng về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với tự thiên mà vẫn thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Kiêm.
Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Là những món ăn thôn quê dân dã, giản dị thanh đạm và có nguồn gốc tự nhiên, tự cung tự cấp.Thói quen sinh hoạt tự nhiên, thoải mái, có sự giao hòa, quấn quýt giữa con người với thiên nhiên.
Hai câu thơ miêu tả bức tranh bốn mùa với đầy đủ các thứ sẵn có, là đặc sản của người thị thành. Thiên nhiên hài hòa, cảnh đẹp, cảnh sinh hoạt bình yên, hạnh phúc của con người.
Sự hài lòng và thích thú về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với tự thiên mà vẫn thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hai câu kết: Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Sử dụng điển tích giấc mộng đêm hòe: Coi phú quý tựa như một giấc chiêm bao trong sử sách Trung quốc. Mộ nhà nho nghèo khổ, nghiện rượt, một lần uống say, ngủ mơ dưới gốc cây cổ thu, thấy mình giàu sang lắm tiền nhiều của. Lúc tỉnh rượu, tỉnh ngủ vẫn thấy mình nghèo như thế.
NBK cũng tự cho mình quyền say, quyền mơ mộng như bất cứ nhà nho nào. Rượu đến, ta vẫn cứ uống, uống cho say. Lời thơ thể hiện sự tự do, làm chủ và chấp nhận tất cả khó khăn, nghèo đói, khi cáo quan về vườn là từ bỏ tất cả quyền lực và tiền bạc để về với cuộc sống cơm rau, cà muối, tương ngô. Lời thơ còn là lời tự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phú quý.
Hai câu kết: Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
– Động từ “nhìn xem”: tư thế đứng vị trí cao hơn nhìn xem người đời sống thế nào. Tâm trạng tự tin và mỉa mai của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nhà thơ muốn đề cao và nỗ lực thực hiện triết lí sống Nhàn: Biết từ bỏ những thứ vinh hoa phù phiếm vì đó chỉ là một giấc mộng, khi con người nhắm mắt xuôi tay mọi thứ trở nên vô nghĩa. Cuộc đời ai cũng chỉ sống một lần, tiền tài, danh tiếng sẽ mất đi theo thời gian và chỉ có tâm hồn, nhân cách mới tồn tại mãi mãi. Tiếng thơm còn mãi.
Câu thơ còn thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Coi khinh danh lợi, cốt cách thanh cao, tâm hồn trong sáng. Trang Trình NBK đã trở thành nhà nho bậc thầy, một tấm gương sang và một trí thức uyên thâm, coi danh dự naahn cách và tự do là quý nhất
Nhận xét, đánh giá Nghệ thuật
.Ngôn ngữ chữ Nôm trong sáng, dễ hiểu, dễ cảm nhận.
.Cách kể, tả tự nhiên, gần gũi với đời sống.
.Sử dụng Các biện pháp tu từ: Liệt kê, đối lập, điển tích điển cố.
.Nhịp thơ chậm, nhẹ nhàng, hóm hỉnh.
Kết bài
- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ Nhàn
Thể hiện những cảm nhận của mình về bài thơ: Là bài thơ hay, giàu ý nghĩa…
Liên hệ đến nhận thức và thái độ của mình sau khi đọc bài thơ em sẽ học được gì về quan niệm sống nhàn? Em nhìn nhận thế nào về tiền bạc và quyền lực quan chức?
Mỗi em có quan niệm khác nhau. (Hiểu đúng giá trị của tiền bạc, không làm nô lệ của tiền, quý trọng và cố gắng kiếm tiền và sử dụng…)
Buổi học đến đây kết thúc.
Chào tạm biệt các em!
I. Mở bài
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đề tài.
-Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho, nhà thơ và nhà chính trị lớn của văn học phong kiến thế kỷ XVI.
Bài thơ Nhàn là sang tác tiêu biểu của ông.
Tác phẩm viết về đề tài tâm sự nhà nho về lẽ sống ở đời.
2. Nêu vấn đề.
Bài thơ Nhàn viết về cuộc sống nhàn nhã, ẩn dật và nói lên triết lý sống nhàn, coi thường tiền bạc, vật chất của nhà nho đại quan về quê.
3. Nêu cảm nhận chung
Bài thơ gợi nhiều suy nghĩ và cảm tình cho người đọc.
II. Thân bài: 3 ý
Ý 1: nêu xuất xứ của bài thơ: hoàn cảnh sáng tác, trích ở tập thơ nào.
2. Ý 2: trình bày, giảng giải làm rõ các nội dung của bài thơ theo kết cấu đề, thực, luận kết hoặc theo bố cục 6 câu đầu và 2 câu cuối.
3. Ý 3: nêu nhận xét về nghệ thuật, về quan điểm sống Nhàn có còn phù hợp với chúng ta bây giờ?
II. Thân bài
Ý 1: Bài thơ được viết khi nhà thơ cáo quan về quê sau nhiều năm học và thi đỗ, giữ chức quan to trong triều.
Ông viết nhiều bài về thời cuộc, về thiên nhiên và tâm sự về lẽ sống. Bài thơ Nhàn được viết bằng chữ Nôm trích tập thơ BVQN.
Tác phẩm viết theo thể thơ Đường luật bảy chữ tám câu.
2. Ý 2: Phân tích từng câu thơ qua biện pháp nghệ thuật tu từ:
Phân tích theo kết cấu tả cảnh (6 câu) và tả tình (2 câu)
Hai câu 1 và 2
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Mai, quốc, cần câu: Là những dụng cụ lao động cần thiết, quen thuộc của người nông dân.
Phép liệt kê kết hợp với số từ “một”: Gợi hình ảnh người nông dân đang điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng.
Nhịp thơ thong thả như chính cuộc sống ở quê nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn bó với công việc nặng nhọc, vất vả, lam lũ của một lão canh điền.
–Từ láy “thơ thẩn”: chăm chú vào công việc, tỉ mẩn
Tâm trạng hài lòng, vui vẻ cùng trạng thái ung dung, tự tại của nhà thơ.
Cụm từ phủ định “dầu ai vui thú nào”: Phủ nhận những thú vui mà người đời thường hay theo đuổi.
Hai câu thơ khái quát hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà vất vả, lam lũ, mệt nhọc nhưng tâm hồn lúc nào cũng thư thái, thanh thản.
Bày tỏ tâm thế ung dung, tự tại, triết lí sống nhàn vui với việc ruộng vườn, với công việc lao động hàng ngày. Nhà thơ vốn đèn sach học tập, đi thi, làm quan nhưng bây giờ về quê làm vườn vẫn hài lòng và thích thú.
Hai câu thực
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Nghệ thuật ẩn dụ và nghệ thuật đối: (ta – người, dại – khôn) nhấn mạnh quan niệm sống mang tính triết lí của nhà thơ.
+ “Nơi vắng vẻ”: là nơi không có bóng dáng con người, vắng người, chốn yên tĩnh, thưa người, yên bình, êm ả. Nơi vắng vẻ chỉ chốn quê nhà, nơi thiên nhiên hoang vắng, đồng quê rộng lớn, thưa dân.
+ “Chốn lao xao”: là nơi ồn ào, đông đúc, tấp nập người nói, người cười, đi lại, làm ăn, mua bán. Đó còn là nơi cuộc sống xô bồ, bon chen, giành giật, đố kị. Hình ảnh chốn lao xao trong bài thơ gợi người đọc nghĩ đến nơi quan trường hay thị thành đông người.
– Cách nói ngược: Ta dại – người khôn: Tác giả tự nhận mình là người dại, suy nghĩ chậm, kém cỏi, hay thất bại và ngược với người khôn nhanh nhạy, suy nghĩ và hành động thông minh, hiệu quả. Người dại thường bị chế cười và khinh thường, còn người khôn luôn được yêu mến, kính trọng.
Tác giả tự nhận và khen người nhưng lại xưng hô ta- người đẻ thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của mình ngang hàng, không hề thấp dưới so với người khôn.
+ Người khôn đến chốn quan trường mới đem lại cho con người tiền tài danh vọng, còn người dại tìm về thôn dã cuộc sống thì vất vả, cực khổ.
+ Hàm ý của câu thơ cho người đọc ý hiểu ngược. Nào ai biết ai dại ai không hơn ai. Ai bảo ta dại, người nào bảo mình không? Dại thực chất là khôn bởi ở nơi quê mùa con người mới được sống an nhiên, thanh thản. Khôn thực chất là dại bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình.
NBK thể hiện quan niệm sống tự chọn, tự quyết để được tự do của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Không bị phụ thuộc vào ai, được tự do độc lập trong thời buổi tranh giành chém giết vì quyền lực và giầu sang thì biết ai dại, ai khôn đây?
Về quê có thể an toàn, giữ được mạng sống, và ngược lại.
* Nhắc nhở:
- Đọc hiểu văn bản nói chung và thơ văn nói riêng đều phải dựa vào kiến thức tiếng Việt như hiểu nghĩa của từ ngữ, nghĩa tường minh và hàm ý, nghĩa tình thái, nghĩa sự vật của câu, các hiệu quả của phép tu từ... Và các thể loại văn bản, phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ…
Khó khăn chính là các em chưa tự viết văn và viết tự do theo cách hiểu của mình. Học để thi lấy điểm nên cách tốt nhất là học thuộc viết theo. Các em cũng chưa được trang bị kiến thức cơ bản để trả lời, tại sao tác giả viết như thế và viết như thế để làm gì? sử dụng tu từ để làm gì?
Các em cố gắng học bài để dùng cả đời: nói và viết sử dụng tu từ.
Hai câu luận:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Hai câu luận viết về cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở chốn quê nhà.
Sự xuất hiện của bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông.
Cuộc sống gắn bó, hài hòa với tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Việc ăn uống: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá.
Chuyện sinh hoạt: Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Cách ngắt nhịp 4/3 nhịp nhàng, kết hợp với cách điệp cấu trúc câu. → Gợi sự tuần hoàn, nhịp nhàng thư thái, thong thả.
Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Là những món ăn thôn quê dân giã, giản dị thanh đạm và có nguồn gốc tự nhiên, tự cung tự cấp Thói quen sinh hoạt tự nhiên, thoải mái, có sự giao hòa, quấn quýt giữa con người với thiên nhiên.
Hai câu thơ miêu tả bức tranh bốn mùa có cả cảnh đẹp, cả cảnh sinh hoạt của con người
Sự hài lòng về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với tự thiên mà vẫn thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Kiêm.
Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Là những món ăn thôn quê dân dã, giản dị thanh đạm và có nguồn gốc tự nhiên, tự cung tự cấp.Thói quen sinh hoạt tự nhiên, thoải mái, có sự giao hòa, quấn quýt giữa con người với thiên nhiên.
Hai câu thơ miêu tả bức tranh bốn mùa với đầy đủ các thứ sẵn có, là đặc sản của người thị thành. Thiên nhiên hài hòa, cảnh đẹp, cảnh sinh hoạt bình yên, hạnh phúc của con người.
Sự hài lòng và thích thú về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với tự thiên mà vẫn thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hai câu kết: Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Sử dụng điển tích giấc mộng đêm hòe: Coi phú quý tựa như một giấc chiêm bao trong sử sách Trung quốc. Mộ nhà nho nghèo khổ, nghiện rượt, một lần uống say, ngủ mơ dưới gốc cây cổ thu, thấy mình giàu sang lắm tiền nhiều của. Lúc tỉnh rượu, tỉnh ngủ vẫn thấy mình nghèo như thế.
NBK cũng tự cho mình quyền say, quyền mơ mộng như bất cứ nhà nho nào. Rượu đến, ta vẫn cứ uống, uống cho say. Lời thơ thể hiện sự tự do, làm chủ và chấp nhận tất cả khó khăn, nghèo đói, khi cáo quan về vườn là từ bỏ tất cả quyền lực và tiền bạc để về với cuộc sống cơm rau, cà muối, tương ngô. Lời thơ còn là lời tự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phú quý.
Hai câu kết: Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
– Động từ “nhìn xem”: tư thế đứng vị trí cao hơn nhìn xem người đời sống thế nào. Tâm trạng tự tin và mỉa mai của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nhà thơ muốn đề cao và nỗ lực thực hiện triết lí sống Nhàn: Biết từ bỏ những thứ vinh hoa phù phiếm vì đó chỉ là một giấc mộng, khi con người nhắm mắt xuôi tay mọi thứ trở nên vô nghĩa. Cuộc đời ai cũng chỉ sống một lần, tiền tài, danh tiếng sẽ mất đi theo thời gian và chỉ có tâm hồn, nhân cách mới tồn tại mãi mãi. Tiếng thơm còn mãi.
Câu thơ còn thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Coi khinh danh lợi, cốt cách thanh cao, tâm hồn trong sáng. Trang Trình NBK đã trở thành nhà nho bậc thầy, một tấm gương sang và một trí thức uyên thâm, coi danh dự naahn cách và tự do là quý nhất
Nhận xét, đánh giá Nghệ thuật
.Ngôn ngữ chữ Nôm trong sáng, dễ hiểu, dễ cảm nhận.
.Cách kể, tả tự nhiên, gần gũi với đời sống.
.Sử dụng Các biện pháp tu từ: Liệt kê, đối lập, điển tích điển cố.
.Nhịp thơ chậm, nhẹ nhàng, hóm hỉnh.
Kết bài
- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ Nhàn
Thể hiện những cảm nhận của mình về bài thơ: Là bài thơ hay, giàu ý nghĩa…
Liên hệ đến nhận thức và thái độ của mình sau khi đọc bài thơ em sẽ học được gì về quan niệm sống nhàn? Em nhìn nhận thế nào về tiền bạc và quyền lực quan chức?
Mỗi em có quan niệm khác nhau. (Hiểu đúng giá trị của tiền bạc, không làm nô lệ của tiền, quý trọng và cố gắng kiếm tiền và sử dụng…)
Buổi học đến đây kết thúc.
Chào tạm biệt các em!
 







Các ý kiến mới nhất