Tràng Giang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Hường
Ngày gửi: 15h:03' 22-02-2022
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 20
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Hường
Ngày gửi: 15h:03' 22-02-2022
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích:
0 người
Huy Cận
(1919 - 2005)
Nhà thơ Huy Cận
3.1. Tiểu sử và con người
3.2. Sư nghiệp sáng tác
3.3. Phong cách nghệ thuật
Cấu trúc bài giảng
3.1. Tiểu sử và con người
3.1.1. Tiểu sử
3.1.2. Con người
Những yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác của Huy Cận?
Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất bãi tơi làm da thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay
(Tôi nằm nghe đất)
- Quê hương: Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, mảnh đất dạt dào truyền thống văn nghệ dân gian và nồng nàn lòng yêu nước, khơi nguồn cảm hứng cho thi nhân.
Người ta bảo bà mẹ chàng hay khóc
Chia gia tài cho con quý: lệ đau
Chàng là con một người mẹ hay sầu
Nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ”
(Mai sau)
- Gia đình: Huy Cận sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống văn chương. Cảnh gia đình không hạnh phúc, nỗi sầu buồn của mẹ đã ảnh hưởng lớn đến hồn thơ sầu vạn kỷ của Huy Cận.
Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa
Cùng đất nước và nặng buồn sông núi
(Mai sau)
+ Nỗi buồn thế hệ đã ngấm vào hồn thơ Huy Cận
Cuộc sống còn khó nhọc
Nhưng đời đổi mới rồi
Tiếng trẻ con ngồi học
Giục mùa xuân đâm chồi
(Trời mỗi ngày lại sáng)
+ CMT8 đã mang lại cho Huy Cận sự chuyển biến tích cực trong cách nhìn nhận con người và cuộc đời.
- Thời đại:
+ Gắn bó sâu nặng với gia đình, quê hương, với văn hóa truyền thống.
+ Bản tính trầm lặng, kín đáo, sống giản dị, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc.
- Con người:
3.2. Sự nghiệp sáng tác
Trước 1945
Sau 1945
3. 2.1. Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám
Tác phẩm tiêu biểu
Lửa thiêng (1940)
Vũ trụ ca (1942)
Kinh cầu tự (1942)
? Theo anh/chị, nội dung chính của tập thơ “Lửa thiêng” là gì?
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
- Sự xuất hiện dày đặc của những từ ngữ “buồn, sầu” trong Lửa thiêng đã tạo nên một âm điệu trầm buồn mênh mông xa vắng, một nỗi buồn man mác, bàng bạc mà thấm thía, day dứt.
a, Nỗi buồn sầu day dứt, thấm thía
Nỗi buồn
? Nguyên nhân của nỗi buồn trong thơ Huy Cận?
Một “hồn đau”
“hồn đơn chiếc”, “hồn góa bụa”, “lòng đau xé”, “lòng quạnh hiu”…
cái ngột ngạt, tù túng, nhàm chán, quẩn quanh của cuộc đời
gặp gỡ “đời lạnh”
? Nhà thơ đã tìm đến những con đường nào để thoát ra khỏi nỗi buồn?
Hồn thơ Huy Cận ráo riết đi tìm hướng giải thoát tinh thần bằng những con đường khác nhau:
+ Tìm vào cõi mộng
+ Hòa vào không gian vũ trụ bao la
+ Trở về quá khứ
- Khác với nỗi buồn của nhiều nhà thơ mới, nỗi buồn của Huy Cận là “nỗi buồn trong”, nỗi buồn sâu thăm thẳm như tụ vào đó những mối sầu thiên cổ.
? Sự khác biệt giữa nỗi buồn trong thơ Huy Cận với nỗi buồn trong thơ các nhà thơ khác cùng thời?
- Nỗi buồn trong thơ Huy Cận là biểu hiện của lòng yêu đời, yêu sự sống. Bởi vậy, cốt lõi trong thơ Huy Cận là tinh thần nhân bản, là nỗi thương người, thương đời sâu sắc.
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
b, Tình yêu đời, yêu quê hương tha thiết
Những câu thơ, bài thơ trong Lửa thiêng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước?
Tình yêu
quê hương
Tình yêu
đôi lứa
Tình đời, tình người trong thơ Huy Cận
- Tình yêu đôi lứa có vẻ đẹp riêng, xúc động và gợi cảm.
? Những nét riêng trong thơ tình Huy Cận so với thơ tình Xuân Diệu?
Tình yêu kín đáo, dịu dàng, rụt rè
Tình yêu trong những lần gặp gỡ.
Thơ tình Huy Cận
+ Tình mộng:
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng
(Đi giữa đường thơm)
Yêu giữa đời mà hồn ở trong mơ
(Tình tự)
+ Tình yêu trong thơ Huy Cận kín đáo, dịu dàng, rụt rè.
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến, mắt như lòng…
(Áo trắng)
Chân non dại ngập ngừng từng bước nhẹ
Tim run run trăm tình cảm rụt rè
(Tựu trường)
+ Tình yêu trong giây phút thần tiên của những lần gặp gỡ. Đó là con đường làng có “hoa dại với mùi rơm”, “đất nắng có bóng tre rồi bóng phượng”, đó là một buổi trưa nhè nhẹ như trong ca dao và đôi lứa bên vườn tình tứ:
Chân bên chân hồn bên hồn yên lặng
Người cùng tôi đi giữa đường rải nắng
Trí vô tư cho da thở hương tình
(Đi giữa đường thơm)
Buổi chiều đầu họ tìm bạn kết duyên
(Tựu trường)
c, Đặc sắc nghệ thuật
Âm điệu chung của Lửa thiêng: trầm buồn, mênh mông, xa vắng...
- Hình ảnh, thi liệu: nhà thơ nhìn nhận con người, cuộc đời và thiên nhiên qua sự sống cỏ cây: nhựa, nụ, mầm, hoa, lá... Hình ảnh trong thơ Huy Cận tạo ấn tượng không gian rất rõ: không gian mênh mông, xa vắng, mang tính truyền thống – hiện đại.
Nghe đi rời rạc trong hồn
Bước chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
(Buồn đêm mưa)
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
- Thể thơ:
+ Lục bát: mang vẻ đẹp đậm chất cổ điển, sang trọng, mực thước.
+ Thơ 7 chữ: vừa tiếp thu những thành tựu của thơ Đường luật, của song thất lục bát và ca trù vừa phá bỏ những niêm luật gò bó để tạo nên những câu thơ mới, uyển chuyển, nhuần nhị.
+ Thơ 8 chữ có nhịp điệu liền mạch, diễn tả những cảm xúc xôn xao (Đi giữa đường thơm, Tình tự), dùng những cặp câu song hành với nhiều vần bằng tạo âm hưởng khoan thai, tha thiết (Lời dịu, Cầu khẩn).
- Ngôn ngữ: đậm chất cổ điển, hiện đại giàu tính nhạc
3.2.2. Những sáng tác sau “Lửa thiêng”
a, Vũ trụ ca (1942):
Hướng thoát ly vào thiên nhiên, vũ trụ được bộc lộ đầy đủ hơn trong Vũ trụ ca.
Âm điệu chủ yếu của Vũ trụ ca là vui. Nhưng niềm vui ấy có vẻ chông chênh. Lời thơ đôi khi rơi vào cường điệu, cầu kì.
Hồn thơ Huy Cận chỉ thực sự rung động lòng người khi trở về với những ngậm ngùi mà ta đã gặp ở Lửa thiêng:
Hồn xa hỡi, ta từ trái đất
Dây buồn thương buộc uất tim đau
Đêm dài nhìn vội canh thâu
Vui chung vũ trụ, nguôi sầu nhân gian.
(Triều nhạc)
b, Kinh cầu tự (1942)
- Ghi lại những tư tưởng của Huy Cận về cuộc đời và nghệ thuật. Trong sự bối rối và bế tắc, Huy Cận tìm cho mình triết lý trong sự siêu thoát với thiên nhiên, vũ trụ.
Huy Cận có một hồn thơ vừa đa dạng vừa thống nhất. Cái tôi trữ tình luôn được vận động qua nhiều đối cực, nhưng bao trùm lên đó là niềm khát vọng của nhà thơ tìm đến sự hài hòa giữa cuộc đời và vũ trụ, giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực.
3.2.2.1
3.2.2.3
3.2.2.2.
Huy Cận trong kháng chiến chống Mỹ (1965-1975)
Huy Cận sau 1975
(1975-2005)
Huy Cận trong kháng chiến chống Pháp và mười năm hòa bình đầu tiên (1945 - 1965)
3.2.2. Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám
3.2.2.1. Huy Cận trong kháng chiến chống Pháp và trong mười năm hòa bình đầu tiên.
- Tác phẩm tiêu biểu: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963).
- Con đường nghệ thuật của Huy Cận từ sau Cách mạng trước hết là quá trình nhà thơ đi tới khẳng định và hòa nhập với cuộc sống mới bằng nghệ thuật.
+ Sự đổi thay trong tư tưởng và tình cảm. Giọt mưa cũ ố vàng thơ phú
Giọt mưa nay đoàn tụ lúa xanh
Cũng là thức giữa năm canh
Mưa xưa lạnh lẽo, an lành mưa nay
(Mưa mười năm sau).
+ Sự thay đổi trong cách nhìn nhận con người và cuộc đời: Ở đây ở với đồng bào
Người quen ngõ thuộc vui nào vui hơn
(Quanh nơi làm việc)
Sông quen nhớ cả chuyến đò
Nhớ khi bến đá xe bò kêu vang
(Ai về Mai Lĩnh, Chúc Sơn)
Chuyến thâm nhập thực tế vùng mỏ Quảng Ninh (năm 1958) đã khơi dậy một nguồn mạch mới trong thơ Huy Cận.
+ Những con người lao động cụ thể với vẻ đẹp khỏe khoắn đã trở thành nhân vật trong thơ ông (Anh Tài Lạc, Bác phở Cầu, Năm người con gái anh hùng ở Cẩm Phả…).
+ Tâm hồn hòa hợp tin yêu trong mối quan hệ gắn bó với thiên nhiên, với cuộc sống mới và con người mới được thể hiện rõ (Đoàn thuyền đánh cá, …)
- Bằng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, Huy Cận phát hiện chất thơ trong cuộc sống bình dị hàng ngày:
Anh tặng em buổi sáng hôm nay
Có hoa sen nở hồ Tây trắng hồng
Tặng em trời mát như sông
Trong veo chảy giữa đôi dòng cây xanh
(Buổi sáng hôm nay)
Chiều thu trong, lá trúc vờn đẹp quá
Lá mía xanh nhung quạt vào mái rạ
Tiếng lao xao như ai ngả nón chào
Hoa mướp cuối mùa, vàng rực như sao
Giếng trong lẻo, trời xanh in thăm thẳm
(Chiều thu quê hương)
3.2.2.2. Huy Cận trong kháng chiến chống Mỹ
- Tác phẩm tiêu biểu: Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Họp mặt thiếu niên anh hùng (1973), Những người mẹ, những người vợ (1973).
- Thơ Huy Cận tăng cường tính thời sự, hướng vào việc khẳng định, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
- Từ cái nền hiện thực, thơ Huy Cận ngày càng có xu hướng đi sâu vào suy tưởng chính luận, triết luận. (Giờ trưa, Chân lý, Ngã ba Đồng Lộc, Đi trên mảnh đất này…).
Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thật: sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
(Đi trên mảnh đất này).
Huy Cận vẫn nặng tình với hương đất, hương cây, gắn bó với cuộc sống lao động bình dị (Hương đất, hương cây, Ngày sáng dần lên, Bài ca thả cá…)
Muốn mọc cánh làm con chim chiền chiện
Tự lúa xanh bay vút bầu trời
Muốn làm con cá rô lặn lội tung tăng
Ngụp mát nước phù sa sông Hồng, sông Luộc…
(Bài ca thủy lợi)
- Tâm hồn đôn hậu và tinh tế của Huy Cận được thể hiện trong các bài thơ cho thiếu nhi, đặc biệt là tập Hai bàn tay em.
+ Những ý thơ ngộ nghĩnh
+ Những quan sát tinh tế
+ Những trò chơi thú vị của tuổi thơ
3.2.2.3. Huy Cận từ sau năm 1975
- Tác phẩm tiêu biểu:: Ngày hằng sống, Ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1991), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ (1997).
- Thơ ông trở về với mạch cảm xúc quen thuộc, về với cuộc đời hàng ngày quanh mình, say mê với thiên nhiên và vũ trụ, suy ngẫm về sự sống và con người…
3.3.4. Bút pháp đa dạng, thống nhất
3.3.3. Thơ Huy Cận mang tầm
khái quát, triết lý sâu xa
3.3.2. Nhà thơ của tình đời,
tình người, tình yêu sự sống
3.3.1. Cảm hứng vũ trụ
3.3. Phong cách nghệ thuật
3.3.1. Cảm hứng vũ trụ
- Là cảm hứng chủ đạo của hồn thơ Huy Cận.
- Điều này không trái ngược với sự gắn bó cuộc đời của Huy Cận.
+ Biển lặng, em nằm trong gió êm
Anh là bóng thức của hồn em
Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng
Từng cặp nhân vàng trong trái đêm
(Anh viết bài thơ)
+ Hai bờ sống chết đời ru võng
Trăng rộng, triều xa, gió cảm thông
(Lượng vui)
+ Trời xanh ran lá biếc
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang
(Trời xanh ran lá biếc)
3.3.2. Nhà thơ của tình đời, tình người,
tình yêu sự sống
- Tình yêu sự sống cùng với sự nhạy cảm đặc biệt của các giác quan đem tới cho Huy Cận khả năng thâm nhập vào những mạch ngầm của sự sống để nắm bắt, thấu hiểu và chỉ ra được cả những xao động rất mong manh, mơ hồ của tình và cảnh (Thu, Buồn đêm mưa…).
+ Năng lực giao cảm với thiên nhiên, tạo vật
+ Cảm hứng về quê hương, đất nước
3.3.3. Thơ Huy Cận mang tầm khái quát,
triết lý sâu xa
- Huy Cận thường hướng tới những suy tưởng khái quát, những suy ngẫm, triết lý.
+ Suy tưởng bắt nguồn từ những chi tiết, sự kiện của đời sống hiện thực (Dấu chân trên đường), (Các vị La Hán chùa Tây Phương)
+ Suy tưởng gắn với chất chính luận - thời sự (Đi trên mảnh đất này, Ngã ba Đồng Lộc…)
- Giọng điệu triết lý trong thơ Huy Cận thường thâm trầm, đằm lắng nên dễ đi vào lòng người.
3.3.4. Bút pháp đa dạng mà thống nhất
Thơ Huy Cận có sự thống nhất giữa chất triết lý và chất trữ tình, giữa cảm xúc vũ trụ và tình yêu cuộc sống, giữa giọng thơ sầu não và những khúc ca vui… Nhà thơ buồn chán nhưng chưa bao giờ quay lưng lại với đời.
Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ
Bình giảng khổ thơ cuối của bài thơ
3.4 Thảo luận: Tràng giang
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1. Những yếu tố nào trong tiểu sử và con người nhà thơ Huy Cận ảnh hưởng đến sáng tác của ông?
2. Nêu và phân tích các chặng đường thơ Huy Cận.
3. Những đặc sắc chính của tập Lửa thiêng.
4. Nét chính trong phong cách nghệ thuật Huy Cận.
5. Tràng giang là “bài ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc” (Xuân Diệu). Ý kiến của anh/chị?
(1919 - 2005)
Nhà thơ Huy Cận
3.1. Tiểu sử và con người
3.2. Sư nghiệp sáng tác
3.3. Phong cách nghệ thuật
Cấu trúc bài giảng
3.1. Tiểu sử và con người
3.1.1. Tiểu sử
3.1.2. Con người
Những yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác của Huy Cận?
Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất bãi tơi làm da thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay
(Tôi nằm nghe đất)
- Quê hương: Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, mảnh đất dạt dào truyền thống văn nghệ dân gian và nồng nàn lòng yêu nước, khơi nguồn cảm hứng cho thi nhân.
Người ta bảo bà mẹ chàng hay khóc
Chia gia tài cho con quý: lệ đau
Chàng là con một người mẹ hay sầu
Nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ”
(Mai sau)
- Gia đình: Huy Cận sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống văn chương. Cảnh gia đình không hạnh phúc, nỗi sầu buồn của mẹ đã ảnh hưởng lớn đến hồn thơ sầu vạn kỷ của Huy Cận.
Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa
Cùng đất nước và nặng buồn sông núi
(Mai sau)
+ Nỗi buồn thế hệ đã ngấm vào hồn thơ Huy Cận
Cuộc sống còn khó nhọc
Nhưng đời đổi mới rồi
Tiếng trẻ con ngồi học
Giục mùa xuân đâm chồi
(Trời mỗi ngày lại sáng)
+ CMT8 đã mang lại cho Huy Cận sự chuyển biến tích cực trong cách nhìn nhận con người và cuộc đời.
- Thời đại:
+ Gắn bó sâu nặng với gia đình, quê hương, với văn hóa truyền thống.
+ Bản tính trầm lặng, kín đáo, sống giản dị, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc.
- Con người:
3.2. Sự nghiệp sáng tác
Trước 1945
Sau 1945
3. 2.1. Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám
Tác phẩm tiêu biểu
Lửa thiêng (1940)
Vũ trụ ca (1942)
Kinh cầu tự (1942)
? Theo anh/chị, nội dung chính của tập thơ “Lửa thiêng” là gì?
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
- Sự xuất hiện dày đặc của những từ ngữ “buồn, sầu” trong Lửa thiêng đã tạo nên một âm điệu trầm buồn mênh mông xa vắng, một nỗi buồn man mác, bàng bạc mà thấm thía, day dứt.
a, Nỗi buồn sầu day dứt, thấm thía
Nỗi buồn
? Nguyên nhân của nỗi buồn trong thơ Huy Cận?
Một “hồn đau”
“hồn đơn chiếc”, “hồn góa bụa”, “lòng đau xé”, “lòng quạnh hiu”…
cái ngột ngạt, tù túng, nhàm chán, quẩn quanh của cuộc đời
gặp gỡ “đời lạnh”
? Nhà thơ đã tìm đến những con đường nào để thoát ra khỏi nỗi buồn?
Hồn thơ Huy Cận ráo riết đi tìm hướng giải thoát tinh thần bằng những con đường khác nhau:
+ Tìm vào cõi mộng
+ Hòa vào không gian vũ trụ bao la
+ Trở về quá khứ
- Khác với nỗi buồn của nhiều nhà thơ mới, nỗi buồn của Huy Cận là “nỗi buồn trong”, nỗi buồn sâu thăm thẳm như tụ vào đó những mối sầu thiên cổ.
? Sự khác biệt giữa nỗi buồn trong thơ Huy Cận với nỗi buồn trong thơ các nhà thơ khác cùng thời?
- Nỗi buồn trong thơ Huy Cận là biểu hiện của lòng yêu đời, yêu sự sống. Bởi vậy, cốt lõi trong thơ Huy Cận là tinh thần nhân bản, là nỗi thương người, thương đời sâu sắc.
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
b, Tình yêu đời, yêu quê hương tha thiết
Những câu thơ, bài thơ trong Lửa thiêng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước?
Tình yêu
quê hương
Tình yêu
đôi lứa
Tình đời, tình người trong thơ Huy Cận
- Tình yêu đôi lứa có vẻ đẹp riêng, xúc động và gợi cảm.
? Những nét riêng trong thơ tình Huy Cận so với thơ tình Xuân Diệu?
Tình yêu kín đáo, dịu dàng, rụt rè
Tình yêu trong những lần gặp gỡ.
Thơ tình Huy Cận
+ Tình mộng:
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng
(Đi giữa đường thơm)
Yêu giữa đời mà hồn ở trong mơ
(Tình tự)
+ Tình yêu trong thơ Huy Cận kín đáo, dịu dàng, rụt rè.
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến, mắt như lòng…
(Áo trắng)
Chân non dại ngập ngừng từng bước nhẹ
Tim run run trăm tình cảm rụt rè
(Tựu trường)
+ Tình yêu trong giây phút thần tiên của những lần gặp gỡ. Đó là con đường làng có “hoa dại với mùi rơm”, “đất nắng có bóng tre rồi bóng phượng”, đó là một buổi trưa nhè nhẹ như trong ca dao và đôi lứa bên vườn tình tứ:
Chân bên chân hồn bên hồn yên lặng
Người cùng tôi đi giữa đường rải nắng
Trí vô tư cho da thở hương tình
(Đi giữa đường thơm)
Buổi chiều đầu họ tìm bạn kết duyên
(Tựu trường)
c, Đặc sắc nghệ thuật
Âm điệu chung của Lửa thiêng: trầm buồn, mênh mông, xa vắng...
- Hình ảnh, thi liệu: nhà thơ nhìn nhận con người, cuộc đời và thiên nhiên qua sự sống cỏ cây: nhựa, nụ, mầm, hoa, lá... Hình ảnh trong thơ Huy Cận tạo ấn tượng không gian rất rõ: không gian mênh mông, xa vắng, mang tính truyền thống – hiện đại.
Nghe đi rời rạc trong hồn
Bước chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
(Buồn đêm mưa)
3.2.1.1. Tập thơ “Lửa thiêng”
- Thể thơ:
+ Lục bát: mang vẻ đẹp đậm chất cổ điển, sang trọng, mực thước.
+ Thơ 7 chữ: vừa tiếp thu những thành tựu của thơ Đường luật, của song thất lục bát và ca trù vừa phá bỏ những niêm luật gò bó để tạo nên những câu thơ mới, uyển chuyển, nhuần nhị.
+ Thơ 8 chữ có nhịp điệu liền mạch, diễn tả những cảm xúc xôn xao (Đi giữa đường thơm, Tình tự), dùng những cặp câu song hành với nhiều vần bằng tạo âm hưởng khoan thai, tha thiết (Lời dịu, Cầu khẩn).
- Ngôn ngữ: đậm chất cổ điển, hiện đại giàu tính nhạc
3.2.2. Những sáng tác sau “Lửa thiêng”
a, Vũ trụ ca (1942):
Hướng thoát ly vào thiên nhiên, vũ trụ được bộc lộ đầy đủ hơn trong Vũ trụ ca.
Âm điệu chủ yếu của Vũ trụ ca là vui. Nhưng niềm vui ấy có vẻ chông chênh. Lời thơ đôi khi rơi vào cường điệu, cầu kì.
Hồn thơ Huy Cận chỉ thực sự rung động lòng người khi trở về với những ngậm ngùi mà ta đã gặp ở Lửa thiêng:
Hồn xa hỡi, ta từ trái đất
Dây buồn thương buộc uất tim đau
Đêm dài nhìn vội canh thâu
Vui chung vũ trụ, nguôi sầu nhân gian.
(Triều nhạc)
b, Kinh cầu tự (1942)
- Ghi lại những tư tưởng của Huy Cận về cuộc đời và nghệ thuật. Trong sự bối rối và bế tắc, Huy Cận tìm cho mình triết lý trong sự siêu thoát với thiên nhiên, vũ trụ.
Huy Cận có một hồn thơ vừa đa dạng vừa thống nhất. Cái tôi trữ tình luôn được vận động qua nhiều đối cực, nhưng bao trùm lên đó là niềm khát vọng của nhà thơ tìm đến sự hài hòa giữa cuộc đời và vũ trụ, giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực.
3.2.2.1
3.2.2.3
3.2.2.2.
Huy Cận trong kháng chiến chống Mỹ (1965-1975)
Huy Cận sau 1975
(1975-2005)
Huy Cận trong kháng chiến chống Pháp và mười năm hòa bình đầu tiên (1945 - 1965)
3.2.2. Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám
3.2.2.1. Huy Cận trong kháng chiến chống Pháp và trong mười năm hòa bình đầu tiên.
- Tác phẩm tiêu biểu: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963).
- Con đường nghệ thuật của Huy Cận từ sau Cách mạng trước hết là quá trình nhà thơ đi tới khẳng định và hòa nhập với cuộc sống mới bằng nghệ thuật.
+ Sự đổi thay trong tư tưởng và tình cảm. Giọt mưa cũ ố vàng thơ phú
Giọt mưa nay đoàn tụ lúa xanh
Cũng là thức giữa năm canh
Mưa xưa lạnh lẽo, an lành mưa nay
(Mưa mười năm sau).
+ Sự thay đổi trong cách nhìn nhận con người và cuộc đời: Ở đây ở với đồng bào
Người quen ngõ thuộc vui nào vui hơn
(Quanh nơi làm việc)
Sông quen nhớ cả chuyến đò
Nhớ khi bến đá xe bò kêu vang
(Ai về Mai Lĩnh, Chúc Sơn)
Chuyến thâm nhập thực tế vùng mỏ Quảng Ninh (năm 1958) đã khơi dậy một nguồn mạch mới trong thơ Huy Cận.
+ Những con người lao động cụ thể với vẻ đẹp khỏe khoắn đã trở thành nhân vật trong thơ ông (Anh Tài Lạc, Bác phở Cầu, Năm người con gái anh hùng ở Cẩm Phả…).
+ Tâm hồn hòa hợp tin yêu trong mối quan hệ gắn bó với thiên nhiên, với cuộc sống mới và con người mới được thể hiện rõ (Đoàn thuyền đánh cá, …)
- Bằng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, Huy Cận phát hiện chất thơ trong cuộc sống bình dị hàng ngày:
Anh tặng em buổi sáng hôm nay
Có hoa sen nở hồ Tây trắng hồng
Tặng em trời mát như sông
Trong veo chảy giữa đôi dòng cây xanh
(Buổi sáng hôm nay)
Chiều thu trong, lá trúc vờn đẹp quá
Lá mía xanh nhung quạt vào mái rạ
Tiếng lao xao như ai ngả nón chào
Hoa mướp cuối mùa, vàng rực như sao
Giếng trong lẻo, trời xanh in thăm thẳm
(Chiều thu quê hương)
3.2.2.2. Huy Cận trong kháng chiến chống Mỹ
- Tác phẩm tiêu biểu: Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Họp mặt thiếu niên anh hùng (1973), Những người mẹ, những người vợ (1973).
- Thơ Huy Cận tăng cường tính thời sự, hướng vào việc khẳng định, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
- Từ cái nền hiện thực, thơ Huy Cận ngày càng có xu hướng đi sâu vào suy tưởng chính luận, triết luận. (Giờ trưa, Chân lý, Ngã ba Đồng Lộc, Đi trên mảnh đất này…).
Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thật: sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
(Đi trên mảnh đất này).
Huy Cận vẫn nặng tình với hương đất, hương cây, gắn bó với cuộc sống lao động bình dị (Hương đất, hương cây, Ngày sáng dần lên, Bài ca thả cá…)
Muốn mọc cánh làm con chim chiền chiện
Tự lúa xanh bay vút bầu trời
Muốn làm con cá rô lặn lội tung tăng
Ngụp mát nước phù sa sông Hồng, sông Luộc…
(Bài ca thủy lợi)
- Tâm hồn đôn hậu và tinh tế của Huy Cận được thể hiện trong các bài thơ cho thiếu nhi, đặc biệt là tập Hai bàn tay em.
+ Những ý thơ ngộ nghĩnh
+ Những quan sát tinh tế
+ Những trò chơi thú vị của tuổi thơ
3.2.2.3. Huy Cận từ sau năm 1975
- Tác phẩm tiêu biểu:: Ngày hằng sống, Ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1991), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ (1997).
- Thơ ông trở về với mạch cảm xúc quen thuộc, về với cuộc đời hàng ngày quanh mình, say mê với thiên nhiên và vũ trụ, suy ngẫm về sự sống và con người…
3.3.4. Bút pháp đa dạng, thống nhất
3.3.3. Thơ Huy Cận mang tầm
khái quát, triết lý sâu xa
3.3.2. Nhà thơ của tình đời,
tình người, tình yêu sự sống
3.3.1. Cảm hứng vũ trụ
3.3. Phong cách nghệ thuật
3.3.1. Cảm hứng vũ trụ
- Là cảm hứng chủ đạo của hồn thơ Huy Cận.
- Điều này không trái ngược với sự gắn bó cuộc đời của Huy Cận.
+ Biển lặng, em nằm trong gió êm
Anh là bóng thức của hồn em
Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng
Từng cặp nhân vàng trong trái đêm
(Anh viết bài thơ)
+ Hai bờ sống chết đời ru võng
Trăng rộng, triều xa, gió cảm thông
(Lượng vui)
+ Trời xanh ran lá biếc
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang
(Trời xanh ran lá biếc)
3.3.2. Nhà thơ của tình đời, tình người,
tình yêu sự sống
- Tình yêu sự sống cùng với sự nhạy cảm đặc biệt của các giác quan đem tới cho Huy Cận khả năng thâm nhập vào những mạch ngầm của sự sống để nắm bắt, thấu hiểu và chỉ ra được cả những xao động rất mong manh, mơ hồ của tình và cảnh (Thu, Buồn đêm mưa…).
+ Năng lực giao cảm với thiên nhiên, tạo vật
+ Cảm hứng về quê hương, đất nước
3.3.3. Thơ Huy Cận mang tầm khái quát,
triết lý sâu xa
- Huy Cận thường hướng tới những suy tưởng khái quát, những suy ngẫm, triết lý.
+ Suy tưởng bắt nguồn từ những chi tiết, sự kiện của đời sống hiện thực (Dấu chân trên đường), (Các vị La Hán chùa Tây Phương)
+ Suy tưởng gắn với chất chính luận - thời sự (Đi trên mảnh đất này, Ngã ba Đồng Lộc…)
- Giọng điệu triết lý trong thơ Huy Cận thường thâm trầm, đằm lắng nên dễ đi vào lòng người.
3.3.4. Bút pháp đa dạng mà thống nhất
Thơ Huy Cận có sự thống nhất giữa chất triết lý và chất trữ tình, giữa cảm xúc vũ trụ và tình yêu cuộc sống, giữa giọng thơ sầu não và những khúc ca vui… Nhà thơ buồn chán nhưng chưa bao giờ quay lưng lại với đời.
Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ
Bình giảng khổ thơ cuối của bài thơ
3.4 Thảo luận: Tràng giang
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1. Những yếu tố nào trong tiểu sử và con người nhà thơ Huy Cận ảnh hưởng đến sáng tác của ông?
2. Nêu và phân tích các chặng đường thơ Huy Cận.
3. Những đặc sắc chính của tập Lửa thiêng.
4. Nét chính trong phong cách nghệ thuật Huy Cận.
5. Tràng giang là “bài ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc” (Xuân Diệu). Ý kiến của anh/chị?
 







Các ý kiến mới nhất