Ôn thi vào 10 (Đề 12)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy Nhụy
Ngày gửi: 07h:03' 04-03-2022
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 108
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy Nhụy
Ngày gửi: 07h:03' 04-03-2022
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 108
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Thị Thúy Nhụy)
ĐỀ THI VÀO THPT MÔN NGỮ VĂN (ĐỀ 12)
Thời gian: 120 phút
I.Phần đọc – hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây:
(1) Trên thế giới này có hai quốc gia thích đọc sách nhất, một là Israel, hai là Hungary. Trung bình một năm người Israel đọc 64 quyển sách. Khi trẻ em vừa biết nhận thức, hầu như người mẹ nào cũng đều nghiêm túc nói với con mình rằng: trong sách cất giấu trí tuệ quý báu hơn rất nhiều so với tiền bạc hay kim cương, và trí tuệ là thứ mà không có bất cứ ai có thể cướp đi được.
(2) Người Do Thái là dân tộc duy nhất không có người mù chữ trên thế giới, ngay cả người ăn xin cũng không thể không có sách. Trong mắt người Do Thái, yêu thích đọc sách không chỉ là một thói quen, mà là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà con người cần có.
(3)[..] Một xã hội rốt cuộc là phát triển hay thụt lùi thì phải xem nguồn rễ của việc đọc sách có sâu hay không, những người đang đọc sách, đọc những quyển sách gì quyết định tương lai của một quốc gia. Đọc sách không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, mà còn tác động đến cả dân tộc, cả xã hội. Phải biết rằng: Một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc đáng sợ; một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc không có hy vọng.
(Theo Secret China, Ngọc Trúc biên dịch, Một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc không có hy vọng, https://trithucvn.org/doi-song/, 11/5/2017)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo quan niệm của người Israel, điều gì khiến sách quý báu hơn rất nhiều so với tiền bạc hay kim cương?
Câu 2. Các thông tin sau trong văn bản có ý nghĩa gì: “Trung bình một năm người Israel đọc 64 quyển sách”, “Người Do Thái là dân tộc duy nhất không có người mù chữ trên thế giới ngay cả người ăn xin cũng không thể không có sách”?
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của phép liên kết được sử dụng trong đoạn (3).
II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin, phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh, theo em việc đọc sách có cần thiết nữa hay không? Vì sao?
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về những ước nguyện đẹp như mùa xuân của nhà thơ Thanh Hải qua đoạn thơ sau:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập 2, NXB GDVN, 2017, tr.56)
GỢI Ý
Phần 1: (Đọc – hiểu)
Câu 1:Theo quan niệm của người Israel, điều khiến sách quý báu hơn rất nhiều so với tiền bạc hay kim cương là:
Trong sách cất giấu trí tuệ và trí tuệ là thứ không có bất kì ai có thể lấy đi được.
Câu 2: Các thông tin trong các câu:“Trung bình một năm người Israel đọc 64 quyển sách”, “Người Do Thái là dân tộc duy nhất không có người mù chữ trên thế giới ngay cả người ăn xin cũng không thể không có sách” có ý nghĩa là:
Người Israel đọc nhiều sách trong một năm
Bất kì người Do Thái nào trong xã hội không phân biệt giàu, nghèo, địa vị xã hội…đều có thói quen đọc sách.
Người Israel và người Do Thái đều yêu thích, chăm chỉ, có ý thức đọc sách.
Đọc sách là con đường đưa con người đến với ánh sáng của văn hóa, trí tuệ.
Câu 3:
Phép liên kết được sử dụng trong đoạn (3) là:
+ Phép lặp: Câu 1, 2: xã hội, đọc sách.
Câu 1, 2, 3: Xã hội, đọc sách, dân tộc.
+ Phép liên tưởng: Câu 1,2,3: xã hội, quốc gia, dân tộc.
Tác dụng:
+ Phép liên kết câu có tác dụng tạo sự liên kết giữa các câu trong đoạn, tạo tính thống nhất và hoàn chỉnh của đoạn.
+ Phép liên kết câu nhằm nhấn mạnh việc đọc sách có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự hưng thịnh của một dân tộc, của một quốc gia, một xã hội.
II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Giới thiệu:
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh đã mang lại cho con người rất nhiều thuận lợi, tiện ích. Con người có thể tiếp cận tri thức từ nhiều kênh thông tin đa dạng. Tuy nhiên việc đọc sách vẫn rất cần thiết.
Giải thích:
Bởi vì sách là nơi lưu giữ trí tuệ, tâm hồn của nhân loại. Đọc sách là tiếp nhận kho tri thức vô tận của nhân loại được tích lũy từ xưa tới nay.
Bàn luận
Đọc sách giúp ta bồi đắp tâm hồn và nhân cách, giúp con người trau dồi những tình cảm đẹp, tạo chiều sâu trong suy nghĩ, tâm hồn con người. Đọc sách còn là phương tiện giúp chúng ta giải trí, giúp con người rèn luyện, trau rồi, cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, rèn luyện khả năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người bằng ngôn từ.
Phản đề:
Bên cạnh những người có thói quen đọc sách, hiện nay có một số bạn trẻ còn lạm dụng các phương tiện nghe nhìn, ít động não, lười suy nghĩ, quá phụ thuộc và mạng xã hội như: Google, Facebook , Zalo, Tiktok.. đó là vấn đề đáng lo ngại.
Giải pháp (Bài học)
Từ việc phân tích trên chúng ta cần có những giải pháp để việc đọc sách có hiệu quả hơn. Mỗi người phải có phương pháp đọc sách và biết lựa chọn những cuốn sách hay để đọc nhằm mang lại hiệu quả cho công việc. Biết phối hợp hài hòa giữa việc khai thác công nghệ thông tin với việc đọc sách truyền thống chắc chắn sẽ mang lại cho mỗi chúng ta có được niềm vui đích thực trong cuộc sống.
Khẳng định
Tóm lại, đọc sách chính là chiếc chìa khóa vạn năng để mở cửa lâu đài trí tuệ và tâm hồn con người. Sách là người thầy thắp sáng nguồn tri thức vô biên, dạy ta biết sống đẹp, sống có ý nghĩa trong cuộc đời. Hãy biết yêu sách, chăm đọc sách và phát huy những giá trị từ sách để sách mãi là người bạn thân thiết của con người.
Câu 2: (5,0 điểm)
A.Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Thanh Hải là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác của ông tuy không thật sự đồ sộ nhưng có những tác phẩm làm lay động trái tim bao bạn đọc.
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được viết vào tháng 11/1980, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh và một tháng sau nhà thơ qua đời. Bài thơ đã thể hiện ước nguyện mong muốn được cống hiến để làm đẹp cho đời. Điều đó được bộc lộ một cách sâu sắc, chân thật, giản dị qua khổ thơ sau:
B.Thân bài:
- Luận điểm 1: (Khái quát ngắn gọn nội dung của các khổ thơ trước)
Ba khổ thơ đầu giúp người đọc cảm nhận được những cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước.
Bằng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, nghệ thuật đảo ngữ cùng các từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị gợi tả, lời thơ đã giúp người đọc cảm nhận được những cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Đó là niềm say sưa ngây ngất trước vẻ đẹp mộng mơ, dịu dàng của bức tranh thiên nhiên xứ Huế, là niềm tin, niềm vui, niềm tự hào khi đất nước bước vào xuân. Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra ở Thanh Hải là niềm yêu đời, yêu cuộc sống, là tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với quê hương đất nước.
Luận điểm 2: Ước nguyện chân thành của nhà thơ:
Từ những cảm xúc về mùa xuân, tác giả đã chuyển mạch thơ một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của mình về lẽ sống,về ý nghĩa giá trị của cuộc đời mỗi con người:
“Ta làmcon chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến”.
Để bày tỏ lẽ sống của mình, ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn, Thanh Hải đã đem đến cho người đọc cái giai điệu ngọt ngào, êm ái của những thanh bằng liên tiếp “ta”-“hoa”-“ca”.
Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha.
Động từ “làm”-“nhập” ở vai trò vị ngữ biểu lộ sự hoá thân đến diệu kỳ - hoá thân để sống đẹp, sống có ích cho cuộc đời.
Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên,của cuộc sống để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm. Còn gì đẹp hơn khi làm một cành hoa đem sắc hương tô điểm cho mùa xuân đất mẹ! Còn gì vui hơn khi được làm con chim nhỏ cất tiếng hót rộn rã làm vui cho đời!
Các hình ảnh bông hoa, tiếng chim đã xuất hiện trong cảm xúc của thi nhân về mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, giờ lại được sử dụng để thể hiện lẽ sống của mình. Một ý nghĩa mới đã mở ra, đó là mong muốn được sống có ích, sống làm đẹp cho đời là lẽ thường tình.
Cái “tôi”của thi nhân trong phần đầu bài thơ giờ chuyển hoá thành cái “ta”. Có cả cái riêng và chung trong cái “ta” ấy. Với cách sử dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung luôn có sự gắn bó với nhau
Hình ảnh “nốt trầm”và từ “một” được lặp lại, tác giả cho thấy ước muốn tha thiết, chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt trầm” nhưng phải là“một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung. Nghĩa là nhà thơ muốn đem phần nhỏ bé của riêng mình để góp vào công cuộc đổi mới và đi lên của đất nước. Đọc đoạn thơ, ta xúc động trước ước nguyện chân thành, mong muốn được cống hiến cho đời của nhà thơ xứ Huế và đó cũng là ước nguyện của nhiều người.
Luận điểm 3: Nhà thơ khao khát được cống hiến, dâng tặng những gì quý giá nhất cho cuộc đời.
Lẽ sống đẹp của Thanh Hải được thể hiện trong những vần thơ sâu lắng:
“ Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác, tinh tế và gợi cảm. Làm cành hoa,làm con chim,làm nốt trầm và làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho cuộc đời.
Hình ảnh “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một khát vọng sống cao đẹp. Mỗi người hãy làm một mùa xuân ,hãy đem tất cả những gì tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.
Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường, lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
Những câu thơ không khoe khoang, không cao điệu mà chỉ lặng lẽ âm thầm dâng hiến. Ý thơ thể hiện một ước nguyện, một khát vọng, một mục đích sống vì mọi người.
Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:
“Nếu là con chim chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh,
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”.
Còn đối với Thanh Hải – nhà thơ xứ Huế trước khi về với thế giới “người hiền” cũng đã ước nguyện:
“Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.
Lời ước nguyện thật thuỷ chung, son sắt. Điệp ngữ “dù là” được nhắc lại hai lần như tiếng lòng tự dặn mình đinh ninh: dẫu có ở giai đoạn nào của cuộc đời, dù là khi tuổi hai mươi tràn đầy sức trẻ, hay là khi đã già, bệnh tật thì vẫn phải sống có ích để làm đẹp cho đời, làm đẹp cho quê hương đất nước.
Luận điểm 4: Những đặc sắc về nghệ thuật
Thể thơ năm chữ hiện đại, giọng thơ tha thiết, sâu lắng, gần gũi với làn điệu dân ca. Ngôn ngữ trong sáng, giản dị. Các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, điệp ngữ, điệp cấu trúc được sử dụng sáng tạo.
Tác giả đã truyền đến người đọc một vấn đề nhân sinh quan rất tốt đẹp – nguyện ước chân thành, khao khát cống hiến. Vì vậy, mà sức lan tỏa của nó thật lớn.
Bài thơ được viết vào thời gian cuối đời, trước khi nhà thơ đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng trong bài thơ không hề gợi chút băn khoăn về bệnh tật, về những suy nghĩ riêng tư cho bản thân. Chỉ “lặng lẽ” mà cháy bỏng một nỗi khát khao được dâng hiến những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời mình cho quê hương đất nước.
Đây không phải là câu khẩu hiệu của một thanh niên mới vào đời mà là lời tâm niệm của một con người đã từng trải qua hai cuộc chiến tranh, đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời và sự nghiệp của mình cho cách mạng. Điều đó càng làm tăng thêm giá trị tư tưởng của bài thơ.
*Kết bài
Tóm lại, MXNN của TH là một bài thơ độc đáo. Bài thơ và đặc biệt là 2 khổ thơ trên đã khơi gợi trong lòng độc giả không ít những tình cảm đẹp, nó khiến ta càng thêm trân trọng, yêu mến cuộc sống.
Khổ thơ còn đem đến cho ta những bài học vô cùng sâu sắc. Đó là bài học về lí tưởng sống đẹp, về lẽ sống được cống hiến cho cuộc đời. Và có lẽ chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử bài thơ MXNN của TH vẫn còn sống mãi trong lòng bạn đọc.
Thời gian: 120 phút
I.Phần đọc – hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây:
(1) Trên thế giới này có hai quốc gia thích đọc sách nhất, một là Israel, hai là Hungary. Trung bình một năm người Israel đọc 64 quyển sách. Khi trẻ em vừa biết nhận thức, hầu như người mẹ nào cũng đều nghiêm túc nói với con mình rằng: trong sách cất giấu trí tuệ quý báu hơn rất nhiều so với tiền bạc hay kim cương, và trí tuệ là thứ mà không có bất cứ ai có thể cướp đi được.
(2) Người Do Thái là dân tộc duy nhất không có người mù chữ trên thế giới, ngay cả người ăn xin cũng không thể không có sách. Trong mắt người Do Thái, yêu thích đọc sách không chỉ là một thói quen, mà là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà con người cần có.
(3)[..] Một xã hội rốt cuộc là phát triển hay thụt lùi thì phải xem nguồn rễ của việc đọc sách có sâu hay không, những người đang đọc sách, đọc những quyển sách gì quyết định tương lai của một quốc gia. Đọc sách không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, mà còn tác động đến cả dân tộc, cả xã hội. Phải biết rằng: Một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc đáng sợ; một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc không có hy vọng.
(Theo Secret China, Ngọc Trúc biên dịch, Một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc không có hy vọng, https://trithucvn.org/doi-song/, 11/5/2017)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo quan niệm của người Israel, điều gì khiến sách quý báu hơn rất nhiều so với tiền bạc hay kim cương?
Câu 2. Các thông tin sau trong văn bản có ý nghĩa gì: “Trung bình một năm người Israel đọc 64 quyển sách”, “Người Do Thái là dân tộc duy nhất không có người mù chữ trên thế giới ngay cả người ăn xin cũng không thể không có sách”?
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của phép liên kết được sử dụng trong đoạn (3).
II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin, phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh, theo em việc đọc sách có cần thiết nữa hay không? Vì sao?
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về những ước nguyện đẹp như mùa xuân của nhà thơ Thanh Hải qua đoạn thơ sau:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập 2, NXB GDVN, 2017, tr.56)
GỢI Ý
Phần 1: (Đọc – hiểu)
Câu 1:Theo quan niệm của người Israel, điều khiến sách quý báu hơn rất nhiều so với tiền bạc hay kim cương là:
Trong sách cất giấu trí tuệ và trí tuệ là thứ không có bất kì ai có thể lấy đi được.
Câu 2: Các thông tin trong các câu:“Trung bình một năm người Israel đọc 64 quyển sách”, “Người Do Thái là dân tộc duy nhất không có người mù chữ trên thế giới ngay cả người ăn xin cũng không thể không có sách” có ý nghĩa là:
Người Israel đọc nhiều sách trong một năm
Bất kì người Do Thái nào trong xã hội không phân biệt giàu, nghèo, địa vị xã hội…đều có thói quen đọc sách.
Người Israel và người Do Thái đều yêu thích, chăm chỉ, có ý thức đọc sách.
Đọc sách là con đường đưa con người đến với ánh sáng của văn hóa, trí tuệ.
Câu 3:
Phép liên kết được sử dụng trong đoạn (3) là:
+ Phép lặp: Câu 1, 2: xã hội, đọc sách.
Câu 1, 2, 3: Xã hội, đọc sách, dân tộc.
+ Phép liên tưởng: Câu 1,2,3: xã hội, quốc gia, dân tộc.
Tác dụng:
+ Phép liên kết câu có tác dụng tạo sự liên kết giữa các câu trong đoạn, tạo tính thống nhất và hoàn chỉnh của đoạn.
+ Phép liên kết câu nhằm nhấn mạnh việc đọc sách có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự hưng thịnh của một dân tộc, của một quốc gia, một xã hội.
II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Giới thiệu:
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh đã mang lại cho con người rất nhiều thuận lợi, tiện ích. Con người có thể tiếp cận tri thức từ nhiều kênh thông tin đa dạng. Tuy nhiên việc đọc sách vẫn rất cần thiết.
Giải thích:
Bởi vì sách là nơi lưu giữ trí tuệ, tâm hồn của nhân loại. Đọc sách là tiếp nhận kho tri thức vô tận của nhân loại được tích lũy từ xưa tới nay.
Bàn luận
Đọc sách giúp ta bồi đắp tâm hồn và nhân cách, giúp con người trau dồi những tình cảm đẹp, tạo chiều sâu trong suy nghĩ, tâm hồn con người. Đọc sách còn là phương tiện giúp chúng ta giải trí, giúp con người rèn luyện, trau rồi, cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, rèn luyện khả năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người bằng ngôn từ.
Phản đề:
Bên cạnh những người có thói quen đọc sách, hiện nay có một số bạn trẻ còn lạm dụng các phương tiện nghe nhìn, ít động não, lười suy nghĩ, quá phụ thuộc và mạng xã hội như: Google, Facebook , Zalo, Tiktok.. đó là vấn đề đáng lo ngại.
Giải pháp (Bài học)
Từ việc phân tích trên chúng ta cần có những giải pháp để việc đọc sách có hiệu quả hơn. Mỗi người phải có phương pháp đọc sách và biết lựa chọn những cuốn sách hay để đọc nhằm mang lại hiệu quả cho công việc. Biết phối hợp hài hòa giữa việc khai thác công nghệ thông tin với việc đọc sách truyền thống chắc chắn sẽ mang lại cho mỗi chúng ta có được niềm vui đích thực trong cuộc sống.
Khẳng định
Tóm lại, đọc sách chính là chiếc chìa khóa vạn năng để mở cửa lâu đài trí tuệ và tâm hồn con người. Sách là người thầy thắp sáng nguồn tri thức vô biên, dạy ta biết sống đẹp, sống có ý nghĩa trong cuộc đời. Hãy biết yêu sách, chăm đọc sách và phát huy những giá trị từ sách để sách mãi là người bạn thân thiết của con người.
Câu 2: (5,0 điểm)
A.Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Thanh Hải là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác của ông tuy không thật sự đồ sộ nhưng có những tác phẩm làm lay động trái tim bao bạn đọc.
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được viết vào tháng 11/1980, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh và một tháng sau nhà thơ qua đời. Bài thơ đã thể hiện ước nguyện mong muốn được cống hiến để làm đẹp cho đời. Điều đó được bộc lộ một cách sâu sắc, chân thật, giản dị qua khổ thơ sau:
B.Thân bài:
- Luận điểm 1: (Khái quát ngắn gọn nội dung của các khổ thơ trước)
Ba khổ thơ đầu giúp người đọc cảm nhận được những cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước.
Bằng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, nghệ thuật đảo ngữ cùng các từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị gợi tả, lời thơ đã giúp người đọc cảm nhận được những cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Đó là niềm say sưa ngây ngất trước vẻ đẹp mộng mơ, dịu dàng của bức tranh thiên nhiên xứ Huế, là niềm tin, niềm vui, niềm tự hào khi đất nước bước vào xuân. Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra ở Thanh Hải là niềm yêu đời, yêu cuộc sống, là tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với quê hương đất nước.
Luận điểm 2: Ước nguyện chân thành của nhà thơ:
Từ những cảm xúc về mùa xuân, tác giả đã chuyển mạch thơ một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của mình về lẽ sống,về ý nghĩa giá trị của cuộc đời mỗi con người:
“Ta làmcon chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến”.
Để bày tỏ lẽ sống của mình, ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn, Thanh Hải đã đem đến cho người đọc cái giai điệu ngọt ngào, êm ái của những thanh bằng liên tiếp “ta”-“hoa”-“ca”.
Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha.
Động từ “làm”-“nhập” ở vai trò vị ngữ biểu lộ sự hoá thân đến diệu kỳ - hoá thân để sống đẹp, sống có ích cho cuộc đời.
Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên,của cuộc sống để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm. Còn gì đẹp hơn khi làm một cành hoa đem sắc hương tô điểm cho mùa xuân đất mẹ! Còn gì vui hơn khi được làm con chim nhỏ cất tiếng hót rộn rã làm vui cho đời!
Các hình ảnh bông hoa, tiếng chim đã xuất hiện trong cảm xúc của thi nhân về mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, giờ lại được sử dụng để thể hiện lẽ sống của mình. Một ý nghĩa mới đã mở ra, đó là mong muốn được sống có ích, sống làm đẹp cho đời là lẽ thường tình.
Cái “tôi”của thi nhân trong phần đầu bài thơ giờ chuyển hoá thành cái “ta”. Có cả cái riêng và chung trong cái “ta” ấy. Với cách sử dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung luôn có sự gắn bó với nhau
Hình ảnh “nốt trầm”và từ “một” được lặp lại, tác giả cho thấy ước muốn tha thiết, chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt trầm” nhưng phải là“một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung. Nghĩa là nhà thơ muốn đem phần nhỏ bé của riêng mình để góp vào công cuộc đổi mới và đi lên của đất nước. Đọc đoạn thơ, ta xúc động trước ước nguyện chân thành, mong muốn được cống hiến cho đời của nhà thơ xứ Huế và đó cũng là ước nguyện của nhiều người.
Luận điểm 3: Nhà thơ khao khát được cống hiến, dâng tặng những gì quý giá nhất cho cuộc đời.
Lẽ sống đẹp của Thanh Hải được thể hiện trong những vần thơ sâu lắng:
“ Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác, tinh tế và gợi cảm. Làm cành hoa,làm con chim,làm nốt trầm và làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho cuộc đời.
Hình ảnh “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một khát vọng sống cao đẹp. Mỗi người hãy làm một mùa xuân ,hãy đem tất cả những gì tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.
Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường, lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
Những câu thơ không khoe khoang, không cao điệu mà chỉ lặng lẽ âm thầm dâng hiến. Ý thơ thể hiện một ước nguyện, một khát vọng, một mục đích sống vì mọi người.
Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:
“Nếu là con chim chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh,
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”.
Còn đối với Thanh Hải – nhà thơ xứ Huế trước khi về với thế giới “người hiền” cũng đã ước nguyện:
“Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.
Lời ước nguyện thật thuỷ chung, son sắt. Điệp ngữ “dù là” được nhắc lại hai lần như tiếng lòng tự dặn mình đinh ninh: dẫu có ở giai đoạn nào của cuộc đời, dù là khi tuổi hai mươi tràn đầy sức trẻ, hay là khi đã già, bệnh tật thì vẫn phải sống có ích để làm đẹp cho đời, làm đẹp cho quê hương đất nước.
Luận điểm 4: Những đặc sắc về nghệ thuật
Thể thơ năm chữ hiện đại, giọng thơ tha thiết, sâu lắng, gần gũi với làn điệu dân ca. Ngôn ngữ trong sáng, giản dị. Các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, điệp ngữ, điệp cấu trúc được sử dụng sáng tạo.
Tác giả đã truyền đến người đọc một vấn đề nhân sinh quan rất tốt đẹp – nguyện ước chân thành, khao khát cống hiến. Vì vậy, mà sức lan tỏa của nó thật lớn.
Bài thơ được viết vào thời gian cuối đời, trước khi nhà thơ đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng trong bài thơ không hề gợi chút băn khoăn về bệnh tật, về những suy nghĩ riêng tư cho bản thân. Chỉ “lặng lẽ” mà cháy bỏng một nỗi khát khao được dâng hiến những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời mình cho quê hương đất nước.
Đây không phải là câu khẩu hiệu của một thanh niên mới vào đời mà là lời tâm niệm của một con người đã từng trải qua hai cuộc chiến tranh, đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời và sự nghiệp của mình cho cách mạng. Điều đó càng làm tăng thêm giá trị tư tưởng của bài thơ.
*Kết bài
Tóm lại, MXNN của TH là một bài thơ độc đáo. Bài thơ và đặc biệt là 2 khổ thơ trên đã khơi gợi trong lòng độc giả không ít những tình cảm đẹp, nó khiến ta càng thêm trân trọng, yêu mến cuộc sống.
Khổ thơ còn đem đến cho ta những bài học vô cùng sâu sắc. Đó là bài học về lí tưởng sống đẹp, về lẽ sống được cống hiến cho cuộc đời. Và có lẽ chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử bài thơ MXNN của TH vẫn còn sống mãi trong lòng bạn đọc.
 







Các ý kiến mới nhất