Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Hòa
Người gửi: Trần Thị Thơm
Ngày gửi: 19h:25' 29-09-2022
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 151
Nguồn: Hòa
Người gửi: Trần Thị Thơm
Ngày gửi: 19h:25' 29-09-2022
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 151
Số lượt thích:
0 người
NGỮ VĂN 9
§oµn kÕt - Ch¨m ngoan - Häc giái
TRƯỜNG THCS CHU VĂN AN
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
KIỂM TRA MIỆNG
Câu 1. _Trong văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, em hiểu vì sao Mác –két lại nói chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loài người và mọi sự sống trên trái đất?_
Câu 2. _Em hãy nêu những nét chính về tác giả và tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”? _
- Tác giả: Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ thứ XVI.
- Tác phẩm: “Chuyện người con gái Nam Xương” trích truyện thứ mười sáu trong hai mươi truyện của “Truyền kì mạn lục”, truyện có nguồn gốc từ truyện cổ “Vợ chàng Trương”.
* Chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loài người và mọi sự sống trên trái đất vì:
+ Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.
+ Chi phí cuộc chạy đua vũ trang đã làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỉ người; cho thấy tính chất phi lí của nó.
+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí của loài người mà còn ngược lại với lí trí tự nhiên, phản lại sự tiến hóa.
Vì vậy, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
LẠI VIẾNG VŨ THỊ
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng.
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
(Lê Thánh Tông, Trong “Hồng đức quốc âm thi tập”,
NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962)
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
* Tóm tắt truyện.
_Tuần 3. _
_Tiết 11,12,13_
Diễn biến câu chuyện
Kết thúc
Trương Sinh lập đàn giải oan, Vũ Nương hiện về rồi biến mất
Mở nút
Một đêm chàng ngồi dưới đèn khuya, con trỏ bóng chàng bảo là cha Đản, chàng mới tỉnh ngộ
Thắt nút
Trương Sinh đi lính, nàng sinh con phụng dưỡng mẹ chồng. Trương Sinh trở về nghe lời con trẻ nghi ngờ nàng thất tiết, đánh mắng đuổi đi….
Phát triển
Nàng lấy chồng tên Trương sinh có tính đa nghi
Mở đầu
Giới thiệu nhân vật Vũ Nương
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
2. Chú thích:
a. Tác giả:
- Nguyễn Dữ
- Nguyễn Dữ người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là học trò của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Nguyễn Dữ sống thế kỉ XVI, khi triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng. Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi xin từ chức, về nhà phụng dưỡng mẹ già và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời khác.
- Sáng tác của Nguyễn Dữ thể hiện cái nhìn tích cực của ông đối với văn học dân gian
- Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao, sống ở thế kỉ XVI.
b. Tác phẩm:
- Thể loại: Truyền kì.
- “Chuyện người con gái Nam Xương” trích từ thiên thứ 16, trong 20 truyện của “Truyền kì mạn lục”.
- _Truyền kì _là thể văn xuôi thời trung đại, phản ánh hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường. Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thế giới cõi âm có sự tương giao. Người đọc có thể thấy đằng sau thế giới phi hiện thực chính là cốt lõi của hiện thực và những quan niệm, thái độ của tác giả.
- Nhan đề _“Truyền kì mạn lục” _ _ghi ghép tản mạn những truyện truyền kì được lưu truyền, được viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XIV. Tập truyện khai thác từ các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam các thời Lí, Trần, Hồ, Lê sơ.
- _“Truyền kì mạn lục” _được đánh giá là _“Thiên cổ kì bút” __ một tuyệt tác của thể truyền kì.
Có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”.
- PTBĐ chính: Tự sự.
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
2. Chú thích:
a. Tác giả:
b. Tác phẩm:
c. Từ khó:
Thời Lê sơ, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), đổi tên huyện Lý Nhân thành huyện (đọc chệch là Nam Xang) cho khỏi trùng với phủ Lỵ Nhân.
Nghĩa tình son sắt của Vũ Nương dành cho gia đình nhà chồng
Nỗi oan khuất và cái chết của Vũ Nương
Vũ Nương được giải oan
Phần 1: (từ đầu đến “_lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình_.”)
Phần 2: (từ “_Qua năm sau, giặc ngoan cố_” đến “_nhưng việc trót đã qua rồi_!”)
Phần 3: (từ “_Cùng làng với nàng_” đến hết)
* Bố cục:
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
2. Chú thích:
a. Tác giả:
b. Tác phẩm:
c. Từ khó:
II. Đọc-tìm hiểu văn bản:
1. Nhân vật Vũ Nương:
a. Phẩm hạnh và đức tính:
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠ NG
(Trích “Truyền kì mạn lục”(1) )
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương (2) , tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung (3) tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh (4), xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa (5). Cuộc sum vầy chưa được mấy lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú (6) nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ đi lính vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy là hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách (7), phải lấy việc giữ mình làm trọng, biết gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng thì rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm (8) trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì (9), khiến cho tiện thiếp (10) băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú (11)! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠ NG
(Trích “Truyền kì mạn lục”(1) )
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương (2) , tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung (3) tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh (4), xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa (5). Cuộc sum vầy chưa được mấy lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú (6) nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ đi lính vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy là hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách (7), phải lấy việc giữ mình làm trọng, biết gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng thì rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm (8) trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì (9), khiến cho tiện thiếp (10) băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú (11)! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
1. Vẻ đẹp nhân vật Vũ Nương:
a. Phẩm hạnh và đức tính:
- Vũ Thị Thiết “_tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp_”.
- Vũ Nương hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình “_giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”._
- Nàng đảm đang, tháo vát: ân cần dặn dò chồng, lo lắng cho gia đình thay chồng.
- Người mẹ hiền, dâu thảo: nuôi con nhỏ, chăm sóc mẹ chồng chu đáo.
_+ Nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản. _
_+ Mẹ chồng“vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. _
+ Lời trăn trối của mẹ chồng đã ca ngợi và ghi nhận công lao của nàng _“Trời xét lòng thành ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”._
_+ _Bà cụ không qua khỏi, _“nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình”. _
- Vũ Nương là người vợ yêu chồng, hết lòng thủy chung son sắt.
+ Khi tiễn chồng đi lính, nàng rót chén rượu tiễn đưa, lời dặn dò đằm thắm, thiết tha khiến ai nghe cũng _“đều ứa hai hàng lệ”. _
*Nàng không mong gì vinh hiển, chỉ cầu mong chồng trở về được bình yên_“chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. _
*Tình thương còn thể hiện qua sự cảm thông với nỗi gian lao vất vả của chồng nơi chiến trận: _“Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường… rồi thế chẻ tre chưa có”. _
_
*Nàng bày tỏ nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình “tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa, trông liễu rũ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình thương người đất thú”; “mùa dưa chín quá kì, ...sợ không có cánh hồng bay bổng”_
+ Khi Trương Sinh ở ngoài biên ải, Vũ Nương là người vợ thủy chung: nhớ thương khắc khoải, triền miên_“Ngày qua tháng lại,… ngăn được”. _Thổn thức tâm tình nhưng nàng luôn giữ gìn tiết hạnh _“cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, liễu ngõ tường hoa, chưa hề bén gót”. _
*Nghệ thuật kể chuyện khéo léo.
Vũ Nương hội tụ đủ vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam _ công, dung, ngôn, hạnh.
Vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương
_- Ngoan hiền khéo léo, biết chịu đựng, biết hi sinh, hết lòng vun_
_ vén hạnh phúc_
_- Thủy chung, yêu thương chồng_
_- Người mẹ hết lòng yêu thương con_
_- Người con dâu hiếu thảo._
_Vẻ đẹp _
_nhân cách_
_Vũ Nương_
_- Vẻ đẹp công, dung, ngôn, hạnh “tính đã thùy mị nết na, lại _
_thêm tư dung tốt đẹp”_
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
_Tuần 3. _
_Tiết 12_
1. Vẻ đẹp nhân vật Vũ Nương:
a. Phẩm hạnh và đức tính:
b. Nỗi oan khuất của Vũ Nương:
- Với bản tính đa nghi, độc đoán, lại nghe lời con trẻ, Trương Sinh nổi giận, đánh đuổi nàng đi. Không lắng nghe những lời thanh minh.
- Nàng đau khổ, tuyệt vọng phải tìm đến cái chết để chứng minh cho tấm lòng thủy chung son sắt. Mượn nước Hoàng Giang rửa vết nhơ oan ức.
- Vũ Nương công dung ngôn hạnh, thủy chung. Hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, là khuôn vàng thước ngọc của phụ nữ Việt Nam nhưng số phận lại rơi vào vòng oan nghiệt.
Tấm lòng nhân đạo của nhà văn thương xót cho Vũ Nương, ca ngợi phẩm chất của nàng, lên án chế độ phong kiến hà khắc đã đẩy người phụ nữ đức hạnh đến đường cùng.
Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Một đoạn sông Hoàng Giang trước đền
c. Vũ Nương ở thủy cung:
- Cái kết có hậu cho những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh.
- Hoàn thiện thêm vẻ đẹp của Vũ Nương, dù ở thế giới khác, nàng vẫn nặng tình với quê hương, chồng con, khát khao sum họp và được trả lại danh dự.
*Kết thúc bi thương mang màu sắc cổ tích. Sáng tạo kết thúc, không sáo mòn.
Cảm quan của nhà văn với xã hội đương thời, lòng thương cảm với thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến nam quyền độc đoán (gia tộc phụ quyền).
2. Nhân vật Trương Sinh:
- Con nhà hào phú, thất học, đa nghi lại hay ghen, đối với vợ phòng ngừa quá sức.
Trương Sinh là hiện thân của xã hội phong kiến tàn bạo, bất công, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tình người đã tạo thành những bi kịch trong xã hội.
3. Giá trị tác phẩm:
_a. Giá trị hiện thực:_
- Cuộc chiến tranh phi nghĩa
- Quan niệm đạo đức hẹp hòi, khắc nghiệt của xã hội phong kiến.
_b. Giá trị nhân đạo:_
- Phê phán sự ghen tuông mù quáng
- Ngợi ca người phụ nữ tiết hạnh. Thể hiện niềm trân trọng và cảm thương của tác giả dành cho vẻ đẹp tâm hồn trong sạch, thủy chung, vị tha của người phụ nữ Việt Nam và số phận đau thương của họ trong xã hội phong kiến.
_c. Giá trị nghệ thuật:_
- Yếu tố nghệ thuật kì ảo
- Khai thác vốn văn học dân gian.
- Sáng tạo về nhân vật và sáng tạo trong cách kể chuyện, sử dụng yếu tố truyền kì.
- Sáng tạo một kết thúc không sáo mòn.
4. Ý nghĩa:
- Với quan niệm cho rằng, hạnh phúc khi đã tan vỡ không thể hàn gắn được, truyện phê phán thói ghen tuông mù quáng và ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ dân gian.
III. Luyện tập:
_1. Thành ngữ nào nói lên số phận bi thảm của người phụ nữ dưới chế độ phụ quyền phong kiến?_
A. Quyền huynh thế phụ
B. Cha truyền con nối
C. Chồng chúa vợ tôi.
D. Cha nào con nấy.
_2. Câu văn nào sử dụng lối văn biền ngẫu?_
A. Chàng tuy giận là nàng thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận, cũng động lòng thương, tìm vớt thây nàng, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu cả.
B. Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám.
C. Thì ra, ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản.
D. Bấy giờ, chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi.
_3. Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, tác giả đưa vào nhiều yếu tố kì ảo nhằm thể hiện điều gì?_
_* Tác giả đưa vào nhiều yếu tố kì ảo: _
+ Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương.
+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng.
+ Tăng thêm tính bi kịch và khẳng định niềm thương cảm của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ; làm tăng thêm giá trị nhân đạo cho tác phẩm.
1. Đối với bài học ở tiết học này:
2. Đối với bài học ở tiết học tiếp theo:
- Cảm nhận được giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Dữ trong tác phẩm.
+ Hiện thực về số phận người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ cũ và vẻ đẹp truyền thống của họ.
+ Sự thành công của tác giả về nghệ thuật kể chuyện.
+ Mối liên hệ giữa tác phẩm và truyện “Vợ chàng Trương”.
- Chuẩn bị bài: _Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ 14). _
- Đọc văn bản, tóm tắt nội dung.
- Tìm hiểu về nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong tác phẩm viết theo thể loại tiểu thuyết chương hồi.
- Tập phân tích hình ảnh của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; sự thất bại thảm hại của tướng sĩ nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.
NHẬN XÉT, DẶN DÒ
THÂN ÁI CHÀO CÁC EM ! CHÚC CÁC EM SỨC KHỎE, BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC !
§oµn kÕt - Ch¨m ngoan - Häc giái
TRƯỜNG THCS CHU VĂN AN
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
KIỂM TRA MIỆNG
Câu 1. _Trong văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, em hiểu vì sao Mác –két lại nói chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loài người và mọi sự sống trên trái đất?_
Câu 2. _Em hãy nêu những nét chính về tác giả và tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”? _
- Tác giả: Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ thứ XVI.
- Tác phẩm: “Chuyện người con gái Nam Xương” trích truyện thứ mười sáu trong hai mươi truyện của “Truyền kì mạn lục”, truyện có nguồn gốc từ truyện cổ “Vợ chàng Trương”.
* Chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loài người và mọi sự sống trên trái đất vì:
+ Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.
+ Chi phí cuộc chạy đua vũ trang đã làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỉ người; cho thấy tính chất phi lí của nó.
+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí của loài người mà còn ngược lại với lí trí tự nhiên, phản lại sự tiến hóa.
Vì vậy, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
LẠI VIẾNG VŨ THỊ
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng.
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
(Lê Thánh Tông, Trong “Hồng đức quốc âm thi tập”,
NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962)
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
* Tóm tắt truyện.
_Tuần 3. _
_Tiết 11,12,13_
Diễn biến câu chuyện
Kết thúc
Trương Sinh lập đàn giải oan, Vũ Nương hiện về rồi biến mất
Mở nút
Một đêm chàng ngồi dưới đèn khuya, con trỏ bóng chàng bảo là cha Đản, chàng mới tỉnh ngộ
Thắt nút
Trương Sinh đi lính, nàng sinh con phụng dưỡng mẹ chồng. Trương Sinh trở về nghe lời con trẻ nghi ngờ nàng thất tiết, đánh mắng đuổi đi….
Phát triển
Nàng lấy chồng tên Trương sinh có tính đa nghi
Mở đầu
Giới thiệu nhân vật Vũ Nương
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
2. Chú thích:
a. Tác giả:
- Nguyễn Dữ
- Nguyễn Dữ người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là học trò của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Nguyễn Dữ sống thế kỉ XVI, khi triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng. Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi xin từ chức, về nhà phụng dưỡng mẹ già và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời khác.
- Sáng tác của Nguyễn Dữ thể hiện cái nhìn tích cực của ông đối với văn học dân gian
- Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao, sống ở thế kỉ XVI.
b. Tác phẩm:
- Thể loại: Truyền kì.
- “Chuyện người con gái Nam Xương” trích từ thiên thứ 16, trong 20 truyện của “Truyền kì mạn lục”.
- _Truyền kì _là thể văn xuôi thời trung đại, phản ánh hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường. Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thế giới cõi âm có sự tương giao. Người đọc có thể thấy đằng sau thế giới phi hiện thực chính là cốt lõi của hiện thực và những quan niệm, thái độ của tác giả.
- Nhan đề _“Truyền kì mạn lục” _ _ghi ghép tản mạn những truyện truyền kì được lưu truyền, được viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XIV. Tập truyện khai thác từ các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam các thời Lí, Trần, Hồ, Lê sơ.
- _“Truyền kì mạn lục” _được đánh giá là _“Thiên cổ kì bút” __ một tuyệt tác của thể truyền kì.
Có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”.
- PTBĐ chính: Tự sự.
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
2. Chú thích:
a. Tác giả:
b. Tác phẩm:
c. Từ khó:
Thời Lê sơ, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), đổi tên huyện Lý Nhân thành huyện (đọc chệch là Nam Xang) cho khỏi trùng với phủ Lỵ Nhân.
Nghĩa tình son sắt của Vũ Nương dành cho gia đình nhà chồng
Nỗi oan khuất và cái chết của Vũ Nương
Vũ Nương được giải oan
Phần 1: (từ đầu đến “_lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình_.”)
Phần 2: (từ “_Qua năm sau, giặc ngoan cố_” đến “_nhưng việc trót đã qua rồi_!”)
Phần 3: (từ “_Cùng làng với nàng_” đến hết)
* Bố cục:
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
I. Đọc-tìm hiểu chú thích:
1. Đọc:
2. Chú thích:
a. Tác giả:
b. Tác phẩm:
c. Từ khó:
II. Đọc-tìm hiểu văn bản:
1. Nhân vật Vũ Nương:
a. Phẩm hạnh và đức tính:
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠ NG
(Trích “Truyền kì mạn lục”(1) )
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương (2) , tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung (3) tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh (4), xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa (5). Cuộc sum vầy chưa được mấy lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú (6) nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ đi lính vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy là hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách (7), phải lấy việc giữ mình làm trọng, biết gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng thì rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm (8) trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì (9), khiến cho tiện thiếp (10) băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú (11)! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠ NG
(Trích “Truyền kì mạn lục”(1) )
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương (2) , tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung (3) tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh (4), xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa (5). Cuộc sum vầy chưa được mấy lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú (6) nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ đi lính vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy là hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách (7), phải lấy việc giữ mình làm trọng, biết gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng thì rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm (8) trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì (9), khiến cho tiện thiếp (10) băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú (11)! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
1. Vẻ đẹp nhân vật Vũ Nương:
a. Phẩm hạnh và đức tính:
- Vũ Thị Thiết “_tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp_”.
- Vũ Nương hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình “_giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”._
- Nàng đảm đang, tháo vát: ân cần dặn dò chồng, lo lắng cho gia đình thay chồng.
- Người mẹ hiền, dâu thảo: nuôi con nhỏ, chăm sóc mẹ chồng chu đáo.
_+ Nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản. _
_+ Mẹ chồng“vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. _
+ Lời trăn trối của mẹ chồng đã ca ngợi và ghi nhận công lao của nàng _“Trời xét lòng thành ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”._
_+ _Bà cụ không qua khỏi, _“nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình”. _
- Vũ Nương là người vợ yêu chồng, hết lòng thủy chung son sắt.
+ Khi tiễn chồng đi lính, nàng rót chén rượu tiễn đưa, lời dặn dò đằm thắm, thiết tha khiến ai nghe cũng _“đều ứa hai hàng lệ”. _
*Nàng không mong gì vinh hiển, chỉ cầu mong chồng trở về được bình yên_“chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. _
*Tình thương còn thể hiện qua sự cảm thông với nỗi gian lao vất vả của chồng nơi chiến trận: _“Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường… rồi thế chẻ tre chưa có”. _
_
*Nàng bày tỏ nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình “tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa, trông liễu rũ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình thương người đất thú”; “mùa dưa chín quá kì, ...sợ không có cánh hồng bay bổng”_
+ Khi Trương Sinh ở ngoài biên ải, Vũ Nương là người vợ thủy chung: nhớ thương khắc khoải, triền miên_“Ngày qua tháng lại,… ngăn được”. _Thổn thức tâm tình nhưng nàng luôn giữ gìn tiết hạnh _“cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, liễu ngõ tường hoa, chưa hề bén gót”. _
*Nghệ thuật kể chuyện khéo léo.
Vũ Nương hội tụ đủ vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam _ công, dung, ngôn, hạnh.
Vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương
_- Ngoan hiền khéo léo, biết chịu đựng, biết hi sinh, hết lòng vun_
_ vén hạnh phúc_
_- Thủy chung, yêu thương chồng_
_- Người mẹ hết lòng yêu thương con_
_- Người con dâu hiếu thảo._
_Vẻ đẹp _
_nhân cách_
_Vũ Nương_
_- Vẻ đẹp công, dung, ngôn, hạnh “tính đã thùy mị nết na, lại _
_thêm tư dung tốt đẹp”_
_Bài 4_
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích _Truyền kì mạn lục_) _ Nguyễn Dữ
_Văn bản_
_Tuần 3. _
_Tiết 12_
1. Vẻ đẹp nhân vật Vũ Nương:
a. Phẩm hạnh và đức tính:
b. Nỗi oan khuất của Vũ Nương:
- Với bản tính đa nghi, độc đoán, lại nghe lời con trẻ, Trương Sinh nổi giận, đánh đuổi nàng đi. Không lắng nghe những lời thanh minh.
- Nàng đau khổ, tuyệt vọng phải tìm đến cái chết để chứng minh cho tấm lòng thủy chung son sắt. Mượn nước Hoàng Giang rửa vết nhơ oan ức.
- Vũ Nương công dung ngôn hạnh, thủy chung. Hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, là khuôn vàng thước ngọc của phụ nữ Việt Nam nhưng số phận lại rơi vào vòng oan nghiệt.
Tấm lòng nhân đạo của nhà văn thương xót cho Vũ Nương, ca ngợi phẩm chất của nàng, lên án chế độ phong kiến hà khắc đã đẩy người phụ nữ đức hạnh đến đường cùng.
Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Một đoạn sông Hoàng Giang trước đền
c. Vũ Nương ở thủy cung:
- Cái kết có hậu cho những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh.
- Hoàn thiện thêm vẻ đẹp của Vũ Nương, dù ở thế giới khác, nàng vẫn nặng tình với quê hương, chồng con, khát khao sum họp và được trả lại danh dự.
*Kết thúc bi thương mang màu sắc cổ tích. Sáng tạo kết thúc, không sáo mòn.
Cảm quan của nhà văn với xã hội đương thời, lòng thương cảm với thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến nam quyền độc đoán (gia tộc phụ quyền).
2. Nhân vật Trương Sinh:
- Con nhà hào phú, thất học, đa nghi lại hay ghen, đối với vợ phòng ngừa quá sức.
Trương Sinh là hiện thân của xã hội phong kiến tàn bạo, bất công, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tình người đã tạo thành những bi kịch trong xã hội.
3. Giá trị tác phẩm:
_a. Giá trị hiện thực:_
- Cuộc chiến tranh phi nghĩa
- Quan niệm đạo đức hẹp hòi, khắc nghiệt của xã hội phong kiến.
_b. Giá trị nhân đạo:_
- Phê phán sự ghen tuông mù quáng
- Ngợi ca người phụ nữ tiết hạnh. Thể hiện niềm trân trọng và cảm thương của tác giả dành cho vẻ đẹp tâm hồn trong sạch, thủy chung, vị tha của người phụ nữ Việt Nam và số phận đau thương của họ trong xã hội phong kiến.
_c. Giá trị nghệ thuật:_
- Yếu tố nghệ thuật kì ảo
- Khai thác vốn văn học dân gian.
- Sáng tạo về nhân vật và sáng tạo trong cách kể chuyện, sử dụng yếu tố truyền kì.
- Sáng tạo một kết thúc không sáo mòn.
4. Ý nghĩa:
- Với quan niệm cho rằng, hạnh phúc khi đã tan vỡ không thể hàn gắn được, truyện phê phán thói ghen tuông mù quáng và ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ dân gian.
III. Luyện tập:
_1. Thành ngữ nào nói lên số phận bi thảm của người phụ nữ dưới chế độ phụ quyền phong kiến?_
A. Quyền huynh thế phụ
B. Cha truyền con nối
C. Chồng chúa vợ tôi.
D. Cha nào con nấy.
_2. Câu văn nào sử dụng lối văn biền ngẫu?_
A. Chàng tuy giận là nàng thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận, cũng động lòng thương, tìm vớt thây nàng, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu cả.
B. Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám.
C. Thì ra, ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản.
D. Bấy giờ, chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi.
_3. Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, tác giả đưa vào nhiều yếu tố kì ảo nhằm thể hiện điều gì?_
_* Tác giả đưa vào nhiều yếu tố kì ảo: _
+ Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương.
+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng.
+ Tăng thêm tính bi kịch và khẳng định niềm thương cảm của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ; làm tăng thêm giá trị nhân đạo cho tác phẩm.
1. Đối với bài học ở tiết học này:
2. Đối với bài học ở tiết học tiếp theo:
- Cảm nhận được giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Dữ trong tác phẩm.
+ Hiện thực về số phận người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ cũ và vẻ đẹp truyền thống của họ.
+ Sự thành công của tác giả về nghệ thuật kể chuyện.
+ Mối liên hệ giữa tác phẩm và truyện “Vợ chàng Trương”.
- Chuẩn bị bài: _Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ 14). _
- Đọc văn bản, tóm tắt nội dung.
- Tìm hiểu về nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong tác phẩm viết theo thể loại tiểu thuyết chương hồi.
- Tập phân tích hình ảnh của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; sự thất bại thảm hại của tướng sĩ nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.
NHẬN XÉT, DẶN DÒ
THÂN ÁI CHÀO CÁC EM ! CHÚC CÁC EM SỨC KHỎE, BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC !
 







Các ý kiến mới nhất