Tuần 7-8. Luyện tập về từ nhiều nghĩa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: đỗ phong sơn
Ngày gửi: 18h:44' 17-10-2022
Dung lượng: 107.1 KB
Số lượt tải: 34
Nguồn:
Người gửi: đỗ phong sơn
Ngày gửi: 18h:44' 17-10-2022
Dung lượng: 107.1 KB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG TIỂU HỌC VANG QUỚI ĐÔNG
TỔ KHỐI 4+5
CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ DỰ CHUYÊN ĐỀ
MÔN: LUYỆN TỪ VÀ CÂU-LỚP 5
BÀI: TỪ NHIỀU NGHĨA
• Theo SGK Tiếng Việt 5: Từ nhiều nghĩa là từ có
một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa
chuyển . Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ
còng có mối liên hệ với nhau.
• Theo cách phân chia này nghĩa của từ được
chia làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa chuyển.
Nghĩa gốc là cái nghĩa chỉ vật, khái niệm mà
những người trong một cộng đồng ngôn ngữ
thường hiểu đối víi một từ nào đó khi nó
đứng một mình, ít bị phụ thuộc vào những từ
đi trước hoặc sau nó. Nghĩa chuyển là nghĩa
chuyển được suy ra từ nghĩa gốc .
• Ví dụ: Đối với từ chân nghĩa “chi dưới của
động vật”, đối với từ nhà nghĩa “công trình kiến
trúc để ở”, đối với từ chạy nghĩa :“dời chổ bằng
chân với tốc độ cao”, đối với chín nghĩa “chỉ
trạng thái của quả cây” là nghĩa gốc thì các
nghĩa còn lại của mỗi từ đều là nghĩa chuyển.
• Mặt khác các từ trong cùng một phạm vi biểu
vật thường chuyển nghĩa theo một hướng nên
nghĩa gốc và nghĩa chuyển có tính chất giống
nhau.
• Ví dụ: Nếu xem nghĩa “ bộ phận cơ thể người, động
vật” là nghĩa gốc của từ tay thì đó cũng là nghĩa gốc
của từ: đầu, mặt, cổ, chân, cánh, lưng, bụng….và các
nghĩa của các từ trên trong các tổ hợp sau đây là
nghĩa chuyển của chúng: tay ghế, tay áo, đầu bút, đầu
sóng, mặt bàn, tai mũ, tai chén, cổ áo, cổ chai, cánh
quạt lưng áo, lưng quần, lưng ghế, chân bàn, chân
mây, ruột bút, ruột máy…
•
Từ có thể chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về
vị trí hoặc hình thức của các sự vật như: lòng sông,
đầu làng, ngọn núi. Từ cũng có thể chuyển nghĩa dựa
trên sự giống nhau về chức năng của sự vật như: bến
trong bến xe, bến tàu điện giống với bến đò, bến sông
vì cùng chỉ chức năng đầu mối giao thông.
• Có khi người ta dùng tên gọi của những giác
quan này để gọi tên những cảm giác của những
giác quan khác hay những cảm giác trí tuệ, tình
cảm như: “chua”, “nhạt”, “mặn”, “chát” là những
cảm giác vị giác được dùng để gọi tên các cảm
giác thính giác : “nói chua loét”, “lời nói ngọt
ngào”, “pha trò nhạt quá”, “nói cay quá”…
•
Cũng có nhiều khi từ chuyển nghĩa bằng
cách lấy tên gọi bộ phận cơ thể thay cho cả cơ
thể, cho cả người hay cả toàn thể . Ví dụ: chân,
tay, miệng là tên gọi bộ phận cơ thể nhưng trong
các tập hợp sau: “có chân trong đội bóng đá”, “
một tay cờ xuất sắc”, “ gia đình bảy tám miệng
ăn” chúng chỉ cả người hay cả cơ thể trọn vẹn.
• Cũng có khi lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi
tên đơn vị thời gian. Ví dụ xuân là tên gọi một mùa
nhưng nó có thể để chỉ năm “ bảy mươi xuân”.
• Trong Tiếng Việt lại có hiện tượng đồng âm, đó là
những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau
về nghĩa. Ví dụ từ chín trong “lúa chín” và trong
“suy nghĩ chín chắn” là từ nhiều nghĩa và nó đồng
âm với chín trong “số chín”.
•
Như vậy dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học rất
phức tạp. Là giáo viên giảng dạy lớp 5 giáo viên cần
phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa, các cách
thức chuyển nghĩa của từ để từ đó có thể lựa chọn
phương pháp hướng dẫn học sinh học tập phù hợp.
• Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu
cầu học sinh nắm vững các thành phần ý nghĩa
của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song
yêu cầu học sinh phải giải nghĩa một số từ
thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác
định được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ,
phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm
được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ,
đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa.
• NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ KHI DẠY CÁC BÀI VỀ TỪ NHIỀU
NGHĨA:
• 1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa:
•
Phương pháp dạy học mới không cho phép giáo
viên cung cấp kiến thức cho học sinh theo kiểu truyền
thụ một chiều song lại yêu cầu giáo viên phải nắm vững
kiến thức sâu sắc để hướng dẫn, làm trọng tài khoa học
cho học sinh. Đối với các tiết luyện từ và câu về từ
nhiều nghĩa vốn kiến thức của giáo viên lại đặc biệt
quan trọng. Muốn có điều này giáo viên phải bồi
dưỡng, nghiên cứu tài liệu kĩ, đặc biệt phải nắm rõ các
nghĩa của từ một cách chính xác.
• VD: Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa” SGK đưa ra hai nghĩa
của từ: tai, răng, mũi thì giáo viên còn phải nắm thêm
một số nét nghĩa nữa.
• Ví dụ : Từ “ mũi” có một số nét nghĩa sau:
• 1. Bộ phận của cơ quan hô hấp.
• 2. Phần trước của tàu thuyền.
• 3. Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng.
• 4. Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi cà
Mau.
• 5. Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có mũi thính.
• 6. Đơn vị quân đội : mũi quân bên trái.
• 2. Thiết kế hệ thống bài tập:
•
Phiếu học tập cho nhóm hoặc cá nhân là
một trong những hình thức học tập rất hữu
hiệu giúp học sinh có thể tích cực, chủ động
trong học tập. Mặt khác nó còn giúp giáo viên
nắm được kết quả ngược từ học sinh một cách
chính xác, từ đó giáo viên có thể linh hoạt trong
việc giảng dạy, học sinh nắm vững nội dung bài
học. Phiếu học tập cần được thiết kế bằng hệ
thống các bài tập trắc nghiệm khách quan như:
nối, đúng- sai, nhiều lựa chọn…
• 3. Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới:
•
Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên
cần đưa các phương pháp dạy học mới như phương
pháp thảo luận nhóm, phương pháp đặt và giải quyết
vấn đề, phương pháp trò chơi… để phát triển năng lực
và phẩm chất cho học sinh đạt được kết quả tốt trong
học tập, đặt trưng môn học.
• - Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm giúp học sinh
tham gia tính cực chủ động vào quá trình học tập, học
sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để cùng giải
quyết một vấn đề khó khăn nào đó.
• - Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Nhằm mục đích
đưa học sinh và tình huống có vấn đề, từ đó kích thích
sự hứng thú học tập của học sinh vào việc giải quyết vấn
đề đưa ra.
• VD: Bài “ Luyện tập về từ nhiều nghĩa” trang
73.
* Đặt một câu có từ chạy .
- Học sinh đặt câu.
* Từ chạy trong câu trên có nghĩa là gì?
- Học sinh không giải thích được. Giáo viên cho
học sinh làm bài tập 1 SGK.
• 4. Cần chuẩn bị tốt tâm thế học tập cho học
sinh
• Giáo viên cần phải giao nhiệm vụ cho học sinh
rõ ràng, kích thích hứng thú học tập của các
em bằng các hình thức thi đua, khen thưởng.
ngoài ra giáo viên cần kiểm tra bài vở học sinh
kể cả học sinh yếu lẫn học sinh khá, giỏi để tất
cả các em cùng học tập, tránh tình trạng vì
kiến thức quá khó nên một vài học sinh không
học tập hoặc học tập không hiệu quả.
• 5. Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa”:
•
Mục tiêu của bài học này là giúp học sinh nắm ®îc khái niệm về
từ nhiều nghĩa, phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ. Xác định
được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa. Tìm được nghĩa
chuyển của một số danh từ chỉ bộ phận cơ thể người , động vật.
•
Để giúp học sinh hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa, giáo viên
hướng dẫn học sinh từ nhận xét 1, học sinh có thể nêu ra một số ví
dụ về nghĩa của từ đó.
• Ví dụ: răng em bé, răng sữa, răng mèo…Để đến nhận xét 2, học sinh
tìm thêm được từ chứa tiếng mới: răng cào, từ đó giúp học sinh hiểu
được răng của chiếc cào không nhai được như răng người hay động
vật nhưng vẫn gọi là răng vì chúng chỉ vật nhọn, sắc, sắp đều nhau
thành hàng. Sau đó yêu cầu học sinh tìm thêm các từ chứa tiếng răng
có nghĩa như răng cào: răng lược, răng bừa…Tiếp theo đó yêu cầu học
sinh nhận xét được từ răng qua nhận xét 1 và 2 có 2 nghĩa:
• - Nghĩa ở nhận xét 1 là nghĩa gốc.
• - Nghĩa ở nhận xét 2 là nghĩa chuyển.
• Hai nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
• Sau khi học sinh nắm vững nhận xét 1 và 2 cần đặt câu hỏi vấn
đáp để giúp học sinh nhớ khái niệm từ nhiều nghĩa, yêu cầu học
sinh lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa. Giáo viên cùng học sinh phân
tích từ vừa tím được. Nếu học sinh còn lúng túng, giáo viên có
thể lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa trong các kết hợp từ khác nhau.
• Ví dụ: Đi
• - Nó chạy còn tôi đi.
• - Chân nó không đi giày.
• - Ca nô đi nhanh hơn thuyền.
• Đối với ví dụ này giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét được từ
đi trong câu 1 có nghĩa là di chuyển từ nơi này sang này sang nơi
khác bằng những bước chân. Từ đi trong câu thứ 2 có nghĩa là
mang hay đeo vào. Từ đi trong câu thứ 3 có nghĩa là chuyển
động của các phương tiện giao thông. Để rút ra kết luận đi trong
câu 1 là nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt động của cơ thể người, từ đi
trong câu 2, câu 3 là nghĩa chuyển vì nghĩa của nó được suy ra từ
nghĩa gốc và nó có mối liên hệ về nghĩa với từ đi trong câu 1.
• -Với bài tập có dạng tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ
trong các câu văn giáo viên nên cho học sinh thảo luận, phát
biểu ý kiến của mình sau khi học sinh đã rút ra được kết quả
đúng. Giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm thêm một số câu
hay từ chứa tiếng đó mang nghĩa chuyển.
• Ví dụ với từ: - Mắt: mắt kính, mắt tre, mắt lưới,mắt xích…
•
- Chân: chân bàn, chân lưới, chân núi,
chân mây…
•
- Đầu: chải đầu, đầu tàu hỏa, đầu đũa,
đầu người( thành viên trong một gia đình)…
• - Với bài tập 2 của phần luyện tập của tiết học yêu cầu học
sinh tìm sự chuyển nghĩa của từ cổ, tay, lưng, lưỡi, miệng.
Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ được nhận xét các từ chỉ bộ
phận cơ thể người và động vật là những từ nhiều nghĩa và nó
luôn là nghĩa gốc của từ.
• 6. Khi dạy các tiết “Luyện tập về từ nhiều nghĩa”:
•
Trong SGK Tiếng Việt 5, sau khi học bài khái niệm từ nhiều
nghĩa có 3 tiết dành để luyện tập về từ nhiều nghĩa. Ở các tiết
luyện tập này giáo viên cần củng cố cho học sinh về khái niệm về
từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển. mối liên hệ về nghĩa
của từ nhiều nghĩa.
•
* Để tránh sự nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh, đối
với các bài tập tìm nghĩa ở cột A ứng với nghĩa ở cột B giáo viên
nên tổ chức các trò chơi học tập như trò chơi: “Nhà giải nghĩa
giỏi”, “ Ai nhanh hơn”, “Ai giỏi hơn”. Đồng thời sau khi học sinh
chơi phải yêu cầu học sinh nêu lí do vì sao em làm như vậy.
• * Đối với các bài tập yêu cầu học sinh đặt câu để phân biệt từ
nhiều nghĩa là động từ hay tính từ, giáo viên nên hướng dẫn học
sinh tìm từ ứng với từng nghĩa rồi đặt câu với những từ vừa tìm
được. Nên khuyến khích học sinh tìm được nhiều từ, có khi đó là
những từ có nghĩa khác với yêu cầu nhưng như vậy cũng tốt vì
như thế học sinh sẽ nắm vững nghĩa hơn sau khi được giải thích
từ giáo viên .
• Ví dụ : Đi Nghĩa 1: Tự di chuyển bằng hai chân: đi bộ, tập đi
- Nghĩa 2: Mang, xỏ vào chân hoặc tay để che, giữ.
- Học sinh có thể đặt câu:
- Nghĩa 1:
- Em đi bộ đến trường.
- Bé Hoa đang tập đi.
Nghĩa 2: - Em đi dép quai hậu đến trường
Mùa đông phải đi tất để giữ ấm đôi chân.
•
Nhận xét: Đi nghĩa 1 mang nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt
động di chuyển bằng hai chân của con người. Còn đi nghĩa 2
là nghĩa chuyển, mặc dù nó không chỉ hoạt động di chuyển
bằng hai chân của con người nhưng đều chỉ hoạt động
mang, xỏ cái gì đó vào chân, tay.
• Song song với biện pháp trên đối với dạng bài tập này để
giúp học sinh phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, giáo viên
nên sử dụng một số câu hỏi để giúp học sinh hình dung ra
nghĩa ban đầu của nó.
•
•
•
•
•
•
Ví dụ:
- Nhắc đến ngọt ta có cảm giác thế nào? (ngọt của
đường, mật)
- Từ ăn gợi cho ta hoạt động gì của bộ phận nào? (hoạt
động đưa thức ăn vào miệng)
- Từ đi gợi cho ta hoạt động của cái gì? (sự di chuyển
của hai chân)
Nhờ thế học sinh sẽ dễ dàng nhận ra nghĩa gốc và nghĩa
chuyển của từ trong dạng bài tập này và cũng nhờ thế nên
chắc chắn học sinh sẽ dễ dàng đặt câu theo yêu cầu bài tập
hơn rất nhiều.
* Dạng bài tập yêu cầu phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa là một dạng bài tập khó đối với học sinh vì học sinh rất
khó khăn trong việc gọi ra nét nghĩa của từng từ trong các kết
hợp khác nhau. So sánh nó với các kết hợp bên cạnh để xác
đÞnh nó là đồng âm hay nhiều nghĩa.
• Trước khi làm bài tập giáo viên phải yêu cầu học
sinh nêu khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa. Mối quan hệ về ý nghĩa của từ đồng âm
(khác nhau hoàn toàn), nghĩa của từ nhiều nghĩa
( bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau).
• Để giúp học sinh làm tốt dạng bài tập này giáo viên
nên sử dụng phiếu học tập cho nhóm, cá nhân hoặc
cả lớp để học sinh tìm nghĩa của nó cho phù hợp rồi
nêu nhân xét đó là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa.
Ví dụ: a) Chín
Chín…. với chín … là từ nhiều nghĩa, đồng âm với chín….
Câu có từ chín
Nghĩa của từ chín trong câu
- Lúa ngoài đồng 1. Suy nghĩ kĩ càng.
chín vàng.
- Tổ em có chín 2. Hoa, quả, hạt phát triển đến
học sinh.
mức thu hoạch được.
- Nghĩ cho chín 3. Số 9.
rồi hãy nói.
b) Đường
Đường ….. với đường ….. là từ nhiều nghĩa, đồng âm với
đường …
Câu có từ đường
Nghĩa của từ đường
trong câu
- Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt. 1. Chất kết tinh vị ngọt.
-Các chú công nhân đang chữa đường 2. Vật nối liền hai đầu.
dây điện thoại.
- Ngoài đường, mọi người đã đi lại 3.Chỉ lối đi lại.
nhộn nhịp.
• * Sau mỗi tiết luyện tập để củng cố kiến thức cho học sinh, giáo
viên có thể đưa ra thêm một số dạng bài tập mới. Mục đích của
các bài tập này là củng cố, mở rộng kiến thức từ nhiều nghĩa.
• Dạng bài tập 1: Tìm từ đồng nghĩa có thể thay thế từ nhiều
nghĩa trong các câu văn.
• Ví dụ : Tìm từ có thể thay thế từ ăn trong câu sau:
•
- Cả nhà ăn tối chưa?
(dùng bữa)
•
- Loại ô tô này ăn xăng lắm.
(tốn, hao)
•
- Tàu ăn hàng ở cảng.
(tiếp nhận)
•
- Bà Đào ăn lương rất cao
(hưởng)
•
- Cậu làm như vậy dễ ăn đòn lắm. (chịu)
•
- Da cậu ăn nắng quá.
(bắt)
•
- Hồ dán không ăn.
(dính)
•
- Hai màu này rất ăn với nhau.
(hợp)
•
- Rễ tre ăn ra tới ruộng.
(lan)
• Dạng bài tập 2: Cho từ trong các kết hợp từ, tìm nghĩa của nó tương ứng.
• Ví dụ: Trong thành ngữ: “ Chạy thầy chạy thuốc” dòng nào dưới đây nêu
đúng nét nghĩa của từ chạy? Chọn câu trả lời đúng:
a) Di chuyển nhanh bằng chân.
b) Hoạt động của máy móc.
c) Lo liệu khẩn trương để được cái mình cần.
d) Khẩn trương tránh những điều không may xảy đến.
• Dạng bài tập 3: Cho nghĩa của từ trong kết hợp từ, câu văn tìm câu có từ
dùng với nghĩa đó.
• Ví dụ : Câu nào dưới đây từ đánh được dùng với nghĩa “ xoa hoặc xát lên
bề mặt của vật để vật sạch , đẹp”
a) Bọn trẻ chơi trò đánh trận giả.
b) Các bác nông dân đang đánh trâu ra đồng.
c) Sau bữa tối, ông và bố thường đánh cờ.
d) Hàng tuần vào ngày nghỉ, bố thường đánh giày.
• Dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học là một vấn đề rất
khó và phức tạp. Việc nắm vững các kiến thức về từ
nhiều nghĩa góp phần quan trọng nâng cao kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt cho học sinh để từ đó học sinh có thể
giao tiếp tèt trong môi trường hoạt động lứa tuổi. Thực
tế hiện nay chất lượng các tiết học về từ nhiều nghĩa
chưa cao, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng
túng trong những tiết học. Giáo viên chưa lôi cuốn thu
hút được học sinh vào hoạt động học tập tích cực.
Nguyên nhân của vấn đề này có từ hai phía: giáo viên
và học sinh. Qua nghiên cứu tôi cũng nhận thấy rằng
nếu trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng khéo léo
các phương pháp dạy học, các hình thức dạy học khác
nhau có thể phát huy được tính tích cực của học sinh và
kích thích, lôi kéo các em vào quá trình học tập, từ đó
nâng cao hiệu quả dạy học.
7. KIẾN NGHỊ
* Qua nhiều năm nghiên cứu thử nghiệm tôi nhận thấy để dạy các tiết học
về từ nhiều nghĩa có kết quả cao, hạn chế được những khó khăn của học
sinh khi học từ nhiều nghĩa đồng thời kích thích hứng thú học tập, nâng
cao chất lượng học tập của học sinh, tôi xin đề xuất một số biện pháp sau:
a.Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ SGK chuẩn về kiến thức, kĩ năng, tài liệu
tham khảo về hiện tượng nhiều nghĩa của từ để từ đó nắm vững, giải nghĩa
từ một cách chính xác.
b. Giáo viên cần phải nghiên cứu tình hình học tập của học sinh, xác định
những khó khăn mà học sinh lớp mình gặp phải để từ đó có biện pháp
khắc phục, nâng cao hiệu quả các tiết học.
c. Với mỗi tiết học giáo viên cần phải phân loại các dạng bài tập, lựa chọn
các phương pháp dạy học khác nhau để kích thích hứng thú học tập của
học sinh.
d. Sau mỗi bài học giáo viên nên đưa ra một số dạng bài tập khác nhau để
củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh.
Là một giáo viên đã nhiều năm giảng dạy ở khối lớp 5, cũng đã có một số
kinh nghiệm bản thân song chưa nhiều, thời gian và điều kiện nghiên cứu
hạn chế nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong hội đồng sư
Vang Quới Đông, ngày 10 tháng 10 năm 2022.
Người viết chuyên đề
• NỘI DUNG ĐÓNG GÓP Ý KIẾN
1- Đặt vấn đề
2 - Biện pháp
3 - Kết quả tiết dạy theo chuyên đề
4 - Tính khoa học
5 - Tính sáng tạo, phát triển năng lực phẩm chất của học sinh
TỔ KHỐI 4+5
CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ DỰ CHUYÊN ĐỀ
MÔN: LUYỆN TỪ VÀ CÂU-LỚP 5
BÀI: TỪ NHIỀU NGHĨA
• Theo SGK Tiếng Việt 5: Từ nhiều nghĩa là từ có
một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa
chuyển . Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ
còng có mối liên hệ với nhau.
• Theo cách phân chia này nghĩa của từ được
chia làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa chuyển.
Nghĩa gốc là cái nghĩa chỉ vật, khái niệm mà
những người trong một cộng đồng ngôn ngữ
thường hiểu đối víi một từ nào đó khi nó
đứng một mình, ít bị phụ thuộc vào những từ
đi trước hoặc sau nó. Nghĩa chuyển là nghĩa
chuyển được suy ra từ nghĩa gốc .
• Ví dụ: Đối với từ chân nghĩa “chi dưới của
động vật”, đối với từ nhà nghĩa “công trình kiến
trúc để ở”, đối với từ chạy nghĩa :“dời chổ bằng
chân với tốc độ cao”, đối với chín nghĩa “chỉ
trạng thái của quả cây” là nghĩa gốc thì các
nghĩa còn lại của mỗi từ đều là nghĩa chuyển.
• Mặt khác các từ trong cùng một phạm vi biểu
vật thường chuyển nghĩa theo một hướng nên
nghĩa gốc và nghĩa chuyển có tính chất giống
nhau.
• Ví dụ: Nếu xem nghĩa “ bộ phận cơ thể người, động
vật” là nghĩa gốc của từ tay thì đó cũng là nghĩa gốc
của từ: đầu, mặt, cổ, chân, cánh, lưng, bụng….và các
nghĩa của các từ trên trong các tổ hợp sau đây là
nghĩa chuyển của chúng: tay ghế, tay áo, đầu bút, đầu
sóng, mặt bàn, tai mũ, tai chén, cổ áo, cổ chai, cánh
quạt lưng áo, lưng quần, lưng ghế, chân bàn, chân
mây, ruột bút, ruột máy…
•
Từ có thể chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về
vị trí hoặc hình thức của các sự vật như: lòng sông,
đầu làng, ngọn núi. Từ cũng có thể chuyển nghĩa dựa
trên sự giống nhau về chức năng của sự vật như: bến
trong bến xe, bến tàu điện giống với bến đò, bến sông
vì cùng chỉ chức năng đầu mối giao thông.
• Có khi người ta dùng tên gọi của những giác
quan này để gọi tên những cảm giác của những
giác quan khác hay những cảm giác trí tuệ, tình
cảm như: “chua”, “nhạt”, “mặn”, “chát” là những
cảm giác vị giác được dùng để gọi tên các cảm
giác thính giác : “nói chua loét”, “lời nói ngọt
ngào”, “pha trò nhạt quá”, “nói cay quá”…
•
Cũng có nhiều khi từ chuyển nghĩa bằng
cách lấy tên gọi bộ phận cơ thể thay cho cả cơ
thể, cho cả người hay cả toàn thể . Ví dụ: chân,
tay, miệng là tên gọi bộ phận cơ thể nhưng trong
các tập hợp sau: “có chân trong đội bóng đá”, “
một tay cờ xuất sắc”, “ gia đình bảy tám miệng
ăn” chúng chỉ cả người hay cả cơ thể trọn vẹn.
• Cũng có khi lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi
tên đơn vị thời gian. Ví dụ xuân là tên gọi một mùa
nhưng nó có thể để chỉ năm “ bảy mươi xuân”.
• Trong Tiếng Việt lại có hiện tượng đồng âm, đó là
những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau
về nghĩa. Ví dụ từ chín trong “lúa chín” và trong
“suy nghĩ chín chắn” là từ nhiều nghĩa và nó đồng
âm với chín trong “số chín”.
•
Như vậy dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học rất
phức tạp. Là giáo viên giảng dạy lớp 5 giáo viên cần
phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa, các cách
thức chuyển nghĩa của từ để từ đó có thể lựa chọn
phương pháp hướng dẫn học sinh học tập phù hợp.
• Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu
cầu học sinh nắm vững các thành phần ý nghĩa
của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song
yêu cầu học sinh phải giải nghĩa một số từ
thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác
định được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ,
phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm
được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ,
đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa.
• NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ KHI DẠY CÁC BÀI VỀ TỪ NHIỀU
NGHĨA:
• 1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa:
•
Phương pháp dạy học mới không cho phép giáo
viên cung cấp kiến thức cho học sinh theo kiểu truyền
thụ một chiều song lại yêu cầu giáo viên phải nắm vững
kiến thức sâu sắc để hướng dẫn, làm trọng tài khoa học
cho học sinh. Đối với các tiết luyện từ và câu về từ
nhiều nghĩa vốn kiến thức của giáo viên lại đặc biệt
quan trọng. Muốn có điều này giáo viên phải bồi
dưỡng, nghiên cứu tài liệu kĩ, đặc biệt phải nắm rõ các
nghĩa của từ một cách chính xác.
• VD: Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa” SGK đưa ra hai nghĩa
của từ: tai, răng, mũi thì giáo viên còn phải nắm thêm
một số nét nghĩa nữa.
• Ví dụ : Từ “ mũi” có một số nét nghĩa sau:
• 1. Bộ phận của cơ quan hô hấp.
• 2. Phần trước của tàu thuyền.
• 3. Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng.
• 4. Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi cà
Mau.
• 5. Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có mũi thính.
• 6. Đơn vị quân đội : mũi quân bên trái.
• 2. Thiết kế hệ thống bài tập:
•
Phiếu học tập cho nhóm hoặc cá nhân là
một trong những hình thức học tập rất hữu
hiệu giúp học sinh có thể tích cực, chủ động
trong học tập. Mặt khác nó còn giúp giáo viên
nắm được kết quả ngược từ học sinh một cách
chính xác, từ đó giáo viên có thể linh hoạt trong
việc giảng dạy, học sinh nắm vững nội dung bài
học. Phiếu học tập cần được thiết kế bằng hệ
thống các bài tập trắc nghiệm khách quan như:
nối, đúng- sai, nhiều lựa chọn…
• 3. Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới:
•
Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên
cần đưa các phương pháp dạy học mới như phương
pháp thảo luận nhóm, phương pháp đặt và giải quyết
vấn đề, phương pháp trò chơi… để phát triển năng lực
và phẩm chất cho học sinh đạt được kết quả tốt trong
học tập, đặt trưng môn học.
• - Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm giúp học sinh
tham gia tính cực chủ động vào quá trình học tập, học
sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để cùng giải
quyết một vấn đề khó khăn nào đó.
• - Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Nhằm mục đích
đưa học sinh và tình huống có vấn đề, từ đó kích thích
sự hứng thú học tập của học sinh vào việc giải quyết vấn
đề đưa ra.
• VD: Bài “ Luyện tập về từ nhiều nghĩa” trang
73.
* Đặt một câu có từ chạy .
- Học sinh đặt câu.
* Từ chạy trong câu trên có nghĩa là gì?
- Học sinh không giải thích được. Giáo viên cho
học sinh làm bài tập 1 SGK.
• 4. Cần chuẩn bị tốt tâm thế học tập cho học
sinh
• Giáo viên cần phải giao nhiệm vụ cho học sinh
rõ ràng, kích thích hứng thú học tập của các
em bằng các hình thức thi đua, khen thưởng.
ngoài ra giáo viên cần kiểm tra bài vở học sinh
kể cả học sinh yếu lẫn học sinh khá, giỏi để tất
cả các em cùng học tập, tránh tình trạng vì
kiến thức quá khó nên một vài học sinh không
học tập hoặc học tập không hiệu quả.
• 5. Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa”:
•
Mục tiêu của bài học này là giúp học sinh nắm ®îc khái niệm về
từ nhiều nghĩa, phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ. Xác định
được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa. Tìm được nghĩa
chuyển của một số danh từ chỉ bộ phận cơ thể người , động vật.
•
Để giúp học sinh hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa, giáo viên
hướng dẫn học sinh từ nhận xét 1, học sinh có thể nêu ra một số ví
dụ về nghĩa của từ đó.
• Ví dụ: răng em bé, răng sữa, răng mèo…Để đến nhận xét 2, học sinh
tìm thêm được từ chứa tiếng mới: răng cào, từ đó giúp học sinh hiểu
được răng của chiếc cào không nhai được như răng người hay động
vật nhưng vẫn gọi là răng vì chúng chỉ vật nhọn, sắc, sắp đều nhau
thành hàng. Sau đó yêu cầu học sinh tìm thêm các từ chứa tiếng răng
có nghĩa như răng cào: răng lược, răng bừa…Tiếp theo đó yêu cầu học
sinh nhận xét được từ răng qua nhận xét 1 và 2 có 2 nghĩa:
• - Nghĩa ở nhận xét 1 là nghĩa gốc.
• - Nghĩa ở nhận xét 2 là nghĩa chuyển.
• Hai nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
• Sau khi học sinh nắm vững nhận xét 1 và 2 cần đặt câu hỏi vấn
đáp để giúp học sinh nhớ khái niệm từ nhiều nghĩa, yêu cầu học
sinh lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa. Giáo viên cùng học sinh phân
tích từ vừa tím được. Nếu học sinh còn lúng túng, giáo viên có
thể lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa trong các kết hợp từ khác nhau.
• Ví dụ: Đi
• - Nó chạy còn tôi đi.
• - Chân nó không đi giày.
• - Ca nô đi nhanh hơn thuyền.
• Đối với ví dụ này giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét được từ
đi trong câu 1 có nghĩa là di chuyển từ nơi này sang này sang nơi
khác bằng những bước chân. Từ đi trong câu thứ 2 có nghĩa là
mang hay đeo vào. Từ đi trong câu thứ 3 có nghĩa là chuyển
động của các phương tiện giao thông. Để rút ra kết luận đi trong
câu 1 là nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt động của cơ thể người, từ đi
trong câu 2, câu 3 là nghĩa chuyển vì nghĩa của nó được suy ra từ
nghĩa gốc và nó có mối liên hệ về nghĩa với từ đi trong câu 1.
• -Với bài tập có dạng tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ
trong các câu văn giáo viên nên cho học sinh thảo luận, phát
biểu ý kiến của mình sau khi học sinh đã rút ra được kết quả
đúng. Giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm thêm một số câu
hay từ chứa tiếng đó mang nghĩa chuyển.
• Ví dụ với từ: - Mắt: mắt kính, mắt tre, mắt lưới,mắt xích…
•
- Chân: chân bàn, chân lưới, chân núi,
chân mây…
•
- Đầu: chải đầu, đầu tàu hỏa, đầu đũa,
đầu người( thành viên trong một gia đình)…
• - Với bài tập 2 của phần luyện tập của tiết học yêu cầu học
sinh tìm sự chuyển nghĩa của từ cổ, tay, lưng, lưỡi, miệng.
Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ được nhận xét các từ chỉ bộ
phận cơ thể người và động vật là những từ nhiều nghĩa và nó
luôn là nghĩa gốc của từ.
• 6. Khi dạy các tiết “Luyện tập về từ nhiều nghĩa”:
•
Trong SGK Tiếng Việt 5, sau khi học bài khái niệm từ nhiều
nghĩa có 3 tiết dành để luyện tập về từ nhiều nghĩa. Ở các tiết
luyện tập này giáo viên cần củng cố cho học sinh về khái niệm về
từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển. mối liên hệ về nghĩa
của từ nhiều nghĩa.
•
* Để tránh sự nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh, đối
với các bài tập tìm nghĩa ở cột A ứng với nghĩa ở cột B giáo viên
nên tổ chức các trò chơi học tập như trò chơi: “Nhà giải nghĩa
giỏi”, “ Ai nhanh hơn”, “Ai giỏi hơn”. Đồng thời sau khi học sinh
chơi phải yêu cầu học sinh nêu lí do vì sao em làm như vậy.
• * Đối với các bài tập yêu cầu học sinh đặt câu để phân biệt từ
nhiều nghĩa là động từ hay tính từ, giáo viên nên hướng dẫn học
sinh tìm từ ứng với từng nghĩa rồi đặt câu với những từ vừa tìm
được. Nên khuyến khích học sinh tìm được nhiều từ, có khi đó là
những từ có nghĩa khác với yêu cầu nhưng như vậy cũng tốt vì
như thế học sinh sẽ nắm vững nghĩa hơn sau khi được giải thích
từ giáo viên .
• Ví dụ : Đi Nghĩa 1: Tự di chuyển bằng hai chân: đi bộ, tập đi
- Nghĩa 2: Mang, xỏ vào chân hoặc tay để che, giữ.
- Học sinh có thể đặt câu:
- Nghĩa 1:
- Em đi bộ đến trường.
- Bé Hoa đang tập đi.
Nghĩa 2: - Em đi dép quai hậu đến trường
Mùa đông phải đi tất để giữ ấm đôi chân.
•
Nhận xét: Đi nghĩa 1 mang nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt
động di chuyển bằng hai chân của con người. Còn đi nghĩa 2
là nghĩa chuyển, mặc dù nó không chỉ hoạt động di chuyển
bằng hai chân của con người nhưng đều chỉ hoạt động
mang, xỏ cái gì đó vào chân, tay.
• Song song với biện pháp trên đối với dạng bài tập này để
giúp học sinh phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, giáo viên
nên sử dụng một số câu hỏi để giúp học sinh hình dung ra
nghĩa ban đầu của nó.
•
•
•
•
•
•
Ví dụ:
- Nhắc đến ngọt ta có cảm giác thế nào? (ngọt của
đường, mật)
- Từ ăn gợi cho ta hoạt động gì của bộ phận nào? (hoạt
động đưa thức ăn vào miệng)
- Từ đi gợi cho ta hoạt động của cái gì? (sự di chuyển
của hai chân)
Nhờ thế học sinh sẽ dễ dàng nhận ra nghĩa gốc và nghĩa
chuyển của từ trong dạng bài tập này và cũng nhờ thế nên
chắc chắn học sinh sẽ dễ dàng đặt câu theo yêu cầu bài tập
hơn rất nhiều.
* Dạng bài tập yêu cầu phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa là một dạng bài tập khó đối với học sinh vì học sinh rất
khó khăn trong việc gọi ra nét nghĩa của từng từ trong các kết
hợp khác nhau. So sánh nó với các kết hợp bên cạnh để xác
đÞnh nó là đồng âm hay nhiều nghĩa.
• Trước khi làm bài tập giáo viên phải yêu cầu học
sinh nêu khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa. Mối quan hệ về ý nghĩa của từ đồng âm
(khác nhau hoàn toàn), nghĩa của từ nhiều nghĩa
( bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau).
• Để giúp học sinh làm tốt dạng bài tập này giáo viên
nên sử dụng phiếu học tập cho nhóm, cá nhân hoặc
cả lớp để học sinh tìm nghĩa của nó cho phù hợp rồi
nêu nhân xét đó là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa.
Ví dụ: a) Chín
Chín…. với chín … là từ nhiều nghĩa, đồng âm với chín….
Câu có từ chín
Nghĩa của từ chín trong câu
- Lúa ngoài đồng 1. Suy nghĩ kĩ càng.
chín vàng.
- Tổ em có chín 2. Hoa, quả, hạt phát triển đến
học sinh.
mức thu hoạch được.
- Nghĩ cho chín 3. Số 9.
rồi hãy nói.
b) Đường
Đường ….. với đường ….. là từ nhiều nghĩa, đồng âm với
đường …
Câu có từ đường
Nghĩa của từ đường
trong câu
- Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt. 1. Chất kết tinh vị ngọt.
-Các chú công nhân đang chữa đường 2. Vật nối liền hai đầu.
dây điện thoại.
- Ngoài đường, mọi người đã đi lại 3.Chỉ lối đi lại.
nhộn nhịp.
• * Sau mỗi tiết luyện tập để củng cố kiến thức cho học sinh, giáo
viên có thể đưa ra thêm một số dạng bài tập mới. Mục đích của
các bài tập này là củng cố, mở rộng kiến thức từ nhiều nghĩa.
• Dạng bài tập 1: Tìm từ đồng nghĩa có thể thay thế từ nhiều
nghĩa trong các câu văn.
• Ví dụ : Tìm từ có thể thay thế từ ăn trong câu sau:
•
- Cả nhà ăn tối chưa?
(dùng bữa)
•
- Loại ô tô này ăn xăng lắm.
(tốn, hao)
•
- Tàu ăn hàng ở cảng.
(tiếp nhận)
•
- Bà Đào ăn lương rất cao
(hưởng)
•
- Cậu làm như vậy dễ ăn đòn lắm. (chịu)
•
- Da cậu ăn nắng quá.
(bắt)
•
- Hồ dán không ăn.
(dính)
•
- Hai màu này rất ăn với nhau.
(hợp)
•
- Rễ tre ăn ra tới ruộng.
(lan)
• Dạng bài tập 2: Cho từ trong các kết hợp từ, tìm nghĩa của nó tương ứng.
• Ví dụ: Trong thành ngữ: “ Chạy thầy chạy thuốc” dòng nào dưới đây nêu
đúng nét nghĩa của từ chạy? Chọn câu trả lời đúng:
a) Di chuyển nhanh bằng chân.
b) Hoạt động của máy móc.
c) Lo liệu khẩn trương để được cái mình cần.
d) Khẩn trương tránh những điều không may xảy đến.
• Dạng bài tập 3: Cho nghĩa của từ trong kết hợp từ, câu văn tìm câu có từ
dùng với nghĩa đó.
• Ví dụ : Câu nào dưới đây từ đánh được dùng với nghĩa “ xoa hoặc xát lên
bề mặt của vật để vật sạch , đẹp”
a) Bọn trẻ chơi trò đánh trận giả.
b) Các bác nông dân đang đánh trâu ra đồng.
c) Sau bữa tối, ông và bố thường đánh cờ.
d) Hàng tuần vào ngày nghỉ, bố thường đánh giày.
• Dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học là một vấn đề rất
khó và phức tạp. Việc nắm vững các kiến thức về từ
nhiều nghĩa góp phần quan trọng nâng cao kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt cho học sinh để từ đó học sinh có thể
giao tiếp tèt trong môi trường hoạt động lứa tuổi. Thực
tế hiện nay chất lượng các tiết học về từ nhiều nghĩa
chưa cao, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng
túng trong những tiết học. Giáo viên chưa lôi cuốn thu
hút được học sinh vào hoạt động học tập tích cực.
Nguyên nhân của vấn đề này có từ hai phía: giáo viên
và học sinh. Qua nghiên cứu tôi cũng nhận thấy rằng
nếu trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng khéo léo
các phương pháp dạy học, các hình thức dạy học khác
nhau có thể phát huy được tính tích cực của học sinh và
kích thích, lôi kéo các em vào quá trình học tập, từ đó
nâng cao hiệu quả dạy học.
7. KIẾN NGHỊ
* Qua nhiều năm nghiên cứu thử nghiệm tôi nhận thấy để dạy các tiết học
về từ nhiều nghĩa có kết quả cao, hạn chế được những khó khăn của học
sinh khi học từ nhiều nghĩa đồng thời kích thích hứng thú học tập, nâng
cao chất lượng học tập của học sinh, tôi xin đề xuất một số biện pháp sau:
a.Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ SGK chuẩn về kiến thức, kĩ năng, tài liệu
tham khảo về hiện tượng nhiều nghĩa của từ để từ đó nắm vững, giải nghĩa
từ một cách chính xác.
b. Giáo viên cần phải nghiên cứu tình hình học tập của học sinh, xác định
những khó khăn mà học sinh lớp mình gặp phải để từ đó có biện pháp
khắc phục, nâng cao hiệu quả các tiết học.
c. Với mỗi tiết học giáo viên cần phải phân loại các dạng bài tập, lựa chọn
các phương pháp dạy học khác nhau để kích thích hứng thú học tập của
học sinh.
d. Sau mỗi bài học giáo viên nên đưa ra một số dạng bài tập khác nhau để
củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh.
Là một giáo viên đã nhiều năm giảng dạy ở khối lớp 5, cũng đã có một số
kinh nghiệm bản thân song chưa nhiều, thời gian và điều kiện nghiên cứu
hạn chế nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong hội đồng sư
Vang Quới Đông, ngày 10 tháng 10 năm 2022.
Người viết chuyên đề
• NỘI DUNG ĐÓNG GÓP Ý KIẾN
1- Đặt vấn đề
2 - Biện pháp
3 - Kết quả tiết dạy theo chuyên đề
4 - Tính khoa học
5 - Tính sáng tạo, phát triển năng lực phẩm chất của học sinh
 







Các ý kiến mới nhất