Bài 8. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thế anh
Người gửi: Anh Tuấn
Ngày gửi: 18h:46' 19-10-2022
Dung lượng: 370.0 KB
Số lượt tải: 14
Nguồn: thế anh
Người gửi: Anh Tuấn
Ngày gửi: 18h:46' 19-10-2022
Dung lượng: 370.0 KB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
Tiết 21-22
ÔN TẬP
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
I. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả:
- Ngô gia văn phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả
Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác
giả chính là Ngô Thì Chí (1753-1788), làm quan thời Lê Chiêu Thống,
và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới chiều nhà Nguyễn.
- Họ là những nhà Nho mang nặng tư tưởng trung quân, ái quốc.
Ngô Thì Chí từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ
kéo quân ra Bắc lần thứ hai. Ông cũng chính là người dâng «
Trung hưng sách » bàn kế để khôi phục nhà Lê và chống lại nhà
Tây Sơn.
- Họ là những cây bút trung thực và có tư tưởng tiến bộ. Họ đã
phản ánh được một cách chân thực, sống động những sự kiện lịch
sử dân tộc trong khoảng ba mươi năm cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ
XIX.
2. Tác phẩm:
a. Xuất xứ:
- Tác phẩm viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào
thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. Nó không chỉ dừng lại ở sự
thống nhất của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai đoạn lịch
sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và
mấy năm đầu thế kỷ XIX. Cuốn tiểu thuyết có tất cả 17 hồi.
- Tác phẩm được viết ở nhiều thời điểm nối tiếp nhau, từ giai đoan cuối triều Lê đến
đầu triều Nguyễn và do mộtsố tác giả kế tục nhau viết.
-Tác phẩm được viết bởi hai tác giả chính : Ngô Thì Chí viết bảy hồi đầu, Ngô Thì
Du viết bảy hồi tiếp sau, còn ba hồi cuối có thể do một người khác viết vào khoảng
cuối hoặc đầu triều Nguyễn.
-Đoạn trích thuộc hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.
b.Thể loại:
Viết theo thể Chí
- là một thể văn ghi chép sự vật, sự việc. Một thể loại văn vừa có tính văn học,
vừa có tính lịch sử lại vừa mang tính triết lí( hiện tượng văn- sử- triết bất phân).
Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết
theo lối chương hồi.
g. Bố cục
- Đoạn 1: (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng cháp năm
Mậu Thân (1788)”): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long,
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm
quân dẹp giặc.
- Đoạn 2: (“Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh… vua Quang
Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân
thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
- Đoạn 3: (“Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê… cũng lấy làm xấu hổ”):
Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và tình trạng thảm bại của vua
tôi Lê Chiêu Thống.
h.Nhan đề.
“Hoàng Lê nhất thống chí”: ghi chép về sự thống nhất của vương triều
nhà Lê.
i. Tóm tắt văn bản:
Tóm tắt hồi 14 “Hoàng Lê nhất thống chí”
- Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và
cho người vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.
- Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai
đạo thuỷ - bộ.
- Ngày 25 tháng Chạp, làm lễ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, trực tiếp chỉ đạo hai
đạo quân tiến ra Bắc.
- Ngày 29 tháng Chạp, quân Tây Sơn ra đến Nghệ An, Quang Trung cho dừng lại
một ngày, tuyển thêm hơn 1 vạn tinh binh, mở một cuộc duyệt binh lớn.
- Ngày 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân. Quang
Trung đã khẳng định : "Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh". Cũng
trong ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây
dựng đất nước mười năm sau chiến tranh. Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn
mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn. Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp
tục lên đường. Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của
quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên.
- Rạng sáng ngày 3 Tết, nghĩa quân bí mật bao vây đồn Hạ Hồi và dùng mưu để
quân Thanh đầu hàng ngay, hạ đồn dễ dàng.
- Rạng sáng ngày mùng 5 Tết, nghĩa quân tấn công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống
trả quyết liệt, dùng ống phun khói lửa ra nhằm làm ta rối loạn, nhưng gió lại đổi chiều
thành ra chúng tự hại mình. Cuối cùng, quân Thanh phải chịu đầu hàng, thái thú Điền
châu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử.
- Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung đã dẫn đầu đoàn quân thắng trận tiến vào Thăng
Long. Đám tàn quân của giặc tìm về phía đê Yên Duyên gặp phục binh của ta, trốn
theo đường Vịnh Kiều lại bị quân voi ở Đại áng dồn xuống đầm Mực giày xáo, chết
hàng vạn tên. Một số chạy lên cầu phao, cầu phao đứt, xác người ngựa chết làm tắc cả
khúc sông Nhị Hà. Mùng 4 Tết nghe tin quân Tây Sơn tấn công, Tôn Sỹ Nghị và Lê
Chiêu Thống đã vội vã bỏ lên biên giới phía bắc. Khi gặp lại nhau, Nghị có vẻ xấu hổ
nhưng vẫn huyênh hoang. Cả hai thu nhặt tàn quân, kéo về đất Bắc.
II. Luyện tập
1. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:
LĐ1: hành động mạnh mẽ quyết đoán:
- hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết.
- Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long “định thân chinh cầm
quân đi ngay”.
- Rồi chỉ trong vòng hơn 1 tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “tế
cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc...
viết đoạn văn diễn dịch, làm rõ luận điểm 1
1. Hình thức : ĐV diễn dịch
2. Nội dung: Làm rõ LĐ1
1. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:
Trước hết Quang Trung là một con
người hành động mạnh mẽ quyết đoán. Từ đầu
đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là
con người hành động một cách xông xáo, nhanh
gọn có chủ đích và rất quả quyết. Nghe tin giặc
đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một
vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao
núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”. Rồi
chỉ trong vòng hơn 1 tháng, Nguyễn Huệ đã làm
được bao nhiêu việc lớn: “tế cáo trời đất”, lên
ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc...
LĐ2: trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:
Sáng suốt trong việc lên ngôi:
- Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là
Quang Trung.
- Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và
quan trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:
-
Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An,
Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền
Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một
số người phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính
vừa chí tình, vừa nghiêm khắc
* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi
viết đoạn văn diễn dịch, làm rõ luận điểm 2
LĐ2: trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:
Sáng suốt trong việc lên ngôi:
Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế
giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”,
Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là
Quang Trung.
- Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và
quan trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:
- Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào
sao ấy”, “người phương Bắc khôngphải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác” . Ông còn
vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy
phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể
chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.
- Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu
dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông từ ngàn xưa như:
Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành...
- Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số
người phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính vừa chí
tình, vừa nghiêm khắc: “các ngươi đều là những kẻ có lương tri, hãy nên cùng ta đồng
tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc
phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.
* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi:
- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta
thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ta thì “quân
thua tại tướng” nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân
hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp
để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi
khen.
- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư “đa
mưu túc trí”. Việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ
mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến
việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi:
- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta
thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ta thì “quân
thua tại tướng” nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân
hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp
để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi
khen.
- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư “đa
mưu túc trí”. Việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ
mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến
việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
c) Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:
- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung
đã nói chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
- Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại
giao và kế hoạch 10 tới ta hoà bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh
đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó. Nếu “chờ 10 năm
nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta
có sợ gì chúng”.
d) Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người:
- Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta
kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế
hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long,
trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.
- Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ
chức của người cầm quân.
e) Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận:
- Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm
tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.
- Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh
những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù.
- Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được
khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh “khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì”, nổi
bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen
khói súng.
-> Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí
tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của
2. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của
vua tôi Lê Chiêu Thống:
a) Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh:
- Tướng thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo
giáp... chuồn trước qua cầu phao”.
- Quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời sợ hãi” xin ra hàng hoặc “bỏ chạy tán
loạn, giày xéo lên nhau mà chết” “đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn
không chảy được nữa”.
b) Số phận thảm bại của bọn vua tôi phản nước hại dân:
- Lê Chiêu Thống phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh van xin, không
còn đâu tư cách bậc quân vương.
- Kết cục phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vong quốc: Vội vã cùng mấy bề
tôi thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, “luôn mấy ngày
không ăn”. Đuổi kịp được Tôn Sĩ Nghị chỉ còn biết “nhìn nhau than thở, oán giận
chảy nước mắt”.
-> Nghệ thuât: Lối kể chuyện xen kẽ miêu tả sinh động, cụ thể, gây ấn tượng mạnh.
Với ý thức tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc, những người trí thức – các tác
giả Ngô Gia Văn Phái đã phản ánh chiến công lừng lẫy của nghĩa quân Tây Sơn, làm
nổi bật hình ảnh vua Quang Trung – người anh hùng áo vải, niềm tự hào lớn lao của
III. Gía trị nội dung và nghệ thuật
1. Nội dung:.
Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả
“Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người
anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá
quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi
đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.
2. Nghệ thuật:
Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ thể, gây được ấn
tượng mạnh.
ĐỀ 1:Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính, truyền
cho tất cả đều ngồi mà nghe lệnh, rồi dụ họ rằng:
- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất
nào sao ấy, đều phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau ra mà cai trị. Người phương Bắc
không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán tới nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước
ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán
có Trưng Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có
Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng ta làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa
quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng
phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi
nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy dều là chuyện cũ rành rành của triều đại trước. Nay
người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quân huyện, không biết trông gương mấy đời Tống,
Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương
tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn…
Câu 1: Nêu phương thức biểu dạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2: Câu “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng phương Nam, phương Bắc
chia nhau mà cai trị” nhắc em nhớ tới tác phẩm nào đã học trong chương trình Ngữ văn THCS. Vua Quang
Trung muốn khẳng định điều gì qua câu nói trên.
Câu 3: Em hãy giải thích nghĩa của từ “lương tri, lương năng”
Câu 4: Trong đoạn “ Đời Hán có Trưng Nữ Vương… các vua truyền ngôi lâu dài” giống với những câu thơ
nào của Nguyễn Trãi. Từ đó, em hãy chỉ ra nét tương đồng về tư tưởng, thái độ của Nguyễn Trãi và vua
Quang Trung.
Câu 5: Qua đoạn trích em thấy vua Quang Trung hiện lên là người như thế nào?
Câu 1: Phương thức biểu dạt chính trong đoạn trích trên:
nghị luận.
Câu 2: Câu “ Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã
phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà
cai trị” gợi nhắc tới hai câu thơ trong bài Sông núi nước Nam
tương truyền của Lý Thường Kiệt.
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời”
- Câu nói của vua Quang Trung có ý nghĩa khẳng định nền
độc lập, tự cường của nước ta, đất nước có ranh giới lãnh thổ
rõ ràng, có vua cai trị. Đồng thời đây cũng là câu nói nhằm
bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ
thù xâm lược.
Câu 3: Nghĩa của từ “lương tri” và “lương năng”.
Lương tri: Người có lương tấm, biết nhận thức đúng đắn, soi xét
đúng sai.
Lương năng: người có tài năng, phẩm cách tốt.
Ý của vua Quang Trung: tất cả các tướng lĩnh, quân sĩ đều là những
người biết phải trái, đúng sai, đều là những người có lương tâm, biết
yêu nước thương dân.
Vua Quang Trung dùng cách nói này để khích lệ lòng tự tôn dân tộc
của quân sĩ.
Câu 4: Trong bài Bình Ngô đại cáo, tác giả Nguyễn Trãi có viết.
“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Xong hào kiệt đời nào cũng có”
- Điểm tương đồng trong tư tưởng của Nguyễn Trãi với Quang Trung:
+ Khẳng định sự tồn tại độc lập, bình đẳng của nước Nam với
phương Bắc.
+ Nước ta đời nào cũng có anh hùng hào kiệt.
+ Tác giả nêu tấm gương sáng, ngợi ca anh hùng hào kiệt trong
lịch sử và lên án hành động cướp nước, xâm lược của phương Bắc.
Câu 5:
Vua Quang Trung trong đoạn trích trên:
- Trước hết, vua Quang Trung là người mạnh mẽ, quyết đoán:
+ Nghe tin giặc tới Thăng Long ông vội vã đốc xuất đại binh ra
Bắc.
+ Là người sáng suốt, nhạy bén:
Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị kéo vào nước ta,
thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, ông đã lên ngôi hoàng đế để
chính danh ra dẹp giặc.
- Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch, ta.
+ Quang Trung khích lệ tướng lính bằng những những lời nói chân
thành, những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm
giành lại độc lập.
- Tầm nhìn chiến lược, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập của vua
Quang Trung đã góp phần làm nên chiến thắng thần tốc đại phá quân
Thanh.
ĐỀ2: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“… Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính, truyền cho
tất cả đều ngồi mà nghe lệnh, rồi dụ họ rằng :
- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã
biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ
ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị.(….). Đời Hán có
Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời
Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ
ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa
quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương
Bắc (…). Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên
cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn.”
Câu 1: Xác định PTBĐ được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Xác định lời dẫn trong đoạn trích trên và cho biết đó là lời dẫn
trực tiếp hay gián tiếp?
Câu 3: Từ đoạn trích trên, em hãy viết một văn bản ngắn ( khoảng một
trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của bản thân về lòng yêu nước của
con người Việt Nam.
Câu 3:
I.Mở bài
Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận.
Bản đồ thế giới ghi tên Việt Nam, cả thế giới công nhận một đất nước
bé nhỏ mà hùng cường với lòng yêu nước luôn cồn cào trong huyết
quản mỗi con người Việt Nam. Chính lòng yêu nước ấy đã trở thành
niềm tự hào của cả dân tộc.
II. Thân bài:
1. Giải thích về lòng yêu nước
- Lòng yêu nước là tình yêu đối với quê hương, đất nước, là hành
động, là không ngừng nỗ lực để xây dựng và phát triển đất nước.
- Lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng, cao quý của mỗi người
dành cho đất nước mình.
2. Biểu hiện của lòng yêu nước
* Thời kỳ chiến tranh
– Đứng lên, cầm súng ra chiến trường để chiến đấu chống lại kẻ thù.
Không ngại khó khăn, gian khổ mà xông lên giành độc lập cho dân
tộc.
– Lòng yêu nước ở giai đoạn này là một tình cảm quyết liệt mà mạnh
mẽ
– Lấy ví dụ, lòng yêu nước thể hiện qua một số câu nói nổi tiếng như:
“Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh” hay “quyết tử cho tổ quốc quyết
sinh”.
– Các tấm gương hy sinh anh dũng cho độc lập dân tộc: Võ Thị Sáu,
Kim Đồng, Nguyễn Văn Thạc…
– Sức mạnh của lòng yêu nước vô cùng lớn, như Bác Hồ đã nói:
“Lòng yêu nước có thể nhấn chìm bè lũ bán nước và cướp nước”
* Thời kỳ hòa bình
– Thể hiện ở nhưng hoạt động nhằm hướng tới con đường Xã hội chủ
nghĩa . Với mong muốn mang lại cuộc sống no đủ, đầm ấm cho nhân
dân và sự phát triển bền vững.
– Thể hiện trong công việc và trong cuộc sống. Là không ngừng nỗ lực
để góp phần đưa đất nước sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
- Ngoài ra, lòng yêu nước còn thể hiện qua những tình cảm giản dị,
gần gũi: tình yêu gia đình, tình yêu thiên nhiên, tình yêu thương giữa
con người với con người…
- Lòng yêu nước còn là niềm trăn trở trước những vấn đề của đất
nước, dùng hành động thực tế để giải quyết những vấn đề đó.
- Lòng yêu nước còn được thể hiện ở lòng tự hào dân tộc: biểu hiện
cụ thể qua các áng thơ văn ngợi ca tinh thần ngoan cường của dân
tộc; các bảo tàng lưu giữ những kỷ vật khắc ghi chiến công của các
anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc.
3. Vai trò của lòng yêu nước
- Là bệ đỡ tinh thần cho con người: là nguồn cảm hứng bất tận cho các
nghệ sĩ; giúp đồng bào luôn vững tâm tiến bước (Kiều bào luôn hướng
về tổ quốc; Con người khi về già đều muốn trở về nơi chôn rau cắt
rốn). Chính lòng yêu nước đã bồi dưỡng tâm hồn những con người
nước Việt trở nên vững vàng, mạnh mẽ trong hành trình sống khắc
nghiệt.
- Là động lực giúp con người sống có trách nhiệm hơn với gia đình,
quê hương, đất nước, cộng đồng hay đơn giản nhất là đối với chính
bản thân mình.
4. Mở rộng
Tuy nhiên đáng buồn là hiện nay vẫn còn những thanh niên sống với
thứ tình cảm và tư tưởng sai lệch. Họ quên đi đất nước, chỉ nghĩ đến
bản thân. Họ phán xét, chê trách, thậm chí là phá hoại đất nước nguồn
cội của mình.
III. Kết bài:
- Khẳng định lòng yêu nước của mỗi công dân Việt Nam
- Kêu gọi mọi người hãy quên đi sự ích kỷ bản thân, “cái tôi” cá nhân
để cùng hướng về tổ quốc.
ÔN TẬP
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
I. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả:
- Ngô gia văn phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả
Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác
giả chính là Ngô Thì Chí (1753-1788), làm quan thời Lê Chiêu Thống,
và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới chiều nhà Nguyễn.
- Họ là những nhà Nho mang nặng tư tưởng trung quân, ái quốc.
Ngô Thì Chí từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ
kéo quân ra Bắc lần thứ hai. Ông cũng chính là người dâng «
Trung hưng sách » bàn kế để khôi phục nhà Lê và chống lại nhà
Tây Sơn.
- Họ là những cây bút trung thực và có tư tưởng tiến bộ. Họ đã
phản ánh được một cách chân thực, sống động những sự kiện lịch
sử dân tộc trong khoảng ba mươi năm cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ
XIX.
2. Tác phẩm:
a. Xuất xứ:
- Tác phẩm viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào
thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. Nó không chỉ dừng lại ở sự
thống nhất của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai đoạn lịch
sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và
mấy năm đầu thế kỷ XIX. Cuốn tiểu thuyết có tất cả 17 hồi.
- Tác phẩm được viết ở nhiều thời điểm nối tiếp nhau, từ giai đoan cuối triều Lê đến
đầu triều Nguyễn và do mộtsố tác giả kế tục nhau viết.
-Tác phẩm được viết bởi hai tác giả chính : Ngô Thì Chí viết bảy hồi đầu, Ngô Thì
Du viết bảy hồi tiếp sau, còn ba hồi cuối có thể do một người khác viết vào khoảng
cuối hoặc đầu triều Nguyễn.
-Đoạn trích thuộc hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.
b.Thể loại:
Viết theo thể Chí
- là một thể văn ghi chép sự vật, sự việc. Một thể loại văn vừa có tính văn học,
vừa có tính lịch sử lại vừa mang tính triết lí( hiện tượng văn- sử- triết bất phân).
Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết
theo lối chương hồi.
g. Bố cục
- Đoạn 1: (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng cháp năm
Mậu Thân (1788)”): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long,
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm
quân dẹp giặc.
- Đoạn 2: (“Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh… vua Quang
Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân
thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
- Đoạn 3: (“Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê… cũng lấy làm xấu hổ”):
Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và tình trạng thảm bại của vua
tôi Lê Chiêu Thống.
h.Nhan đề.
“Hoàng Lê nhất thống chí”: ghi chép về sự thống nhất của vương triều
nhà Lê.
i. Tóm tắt văn bản:
Tóm tắt hồi 14 “Hoàng Lê nhất thống chí”
- Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và
cho người vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.
- Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai
đạo thuỷ - bộ.
- Ngày 25 tháng Chạp, làm lễ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, trực tiếp chỉ đạo hai
đạo quân tiến ra Bắc.
- Ngày 29 tháng Chạp, quân Tây Sơn ra đến Nghệ An, Quang Trung cho dừng lại
một ngày, tuyển thêm hơn 1 vạn tinh binh, mở một cuộc duyệt binh lớn.
- Ngày 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân. Quang
Trung đã khẳng định : "Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh". Cũng
trong ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây
dựng đất nước mười năm sau chiến tranh. Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn
mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn. Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp
tục lên đường. Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của
quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên.
- Rạng sáng ngày 3 Tết, nghĩa quân bí mật bao vây đồn Hạ Hồi và dùng mưu để
quân Thanh đầu hàng ngay, hạ đồn dễ dàng.
- Rạng sáng ngày mùng 5 Tết, nghĩa quân tấn công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống
trả quyết liệt, dùng ống phun khói lửa ra nhằm làm ta rối loạn, nhưng gió lại đổi chiều
thành ra chúng tự hại mình. Cuối cùng, quân Thanh phải chịu đầu hàng, thái thú Điền
châu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử.
- Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung đã dẫn đầu đoàn quân thắng trận tiến vào Thăng
Long. Đám tàn quân của giặc tìm về phía đê Yên Duyên gặp phục binh của ta, trốn
theo đường Vịnh Kiều lại bị quân voi ở Đại áng dồn xuống đầm Mực giày xáo, chết
hàng vạn tên. Một số chạy lên cầu phao, cầu phao đứt, xác người ngựa chết làm tắc cả
khúc sông Nhị Hà. Mùng 4 Tết nghe tin quân Tây Sơn tấn công, Tôn Sỹ Nghị và Lê
Chiêu Thống đã vội vã bỏ lên biên giới phía bắc. Khi gặp lại nhau, Nghị có vẻ xấu hổ
nhưng vẫn huyênh hoang. Cả hai thu nhặt tàn quân, kéo về đất Bắc.
II. Luyện tập
1. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:
LĐ1: hành động mạnh mẽ quyết đoán:
- hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết.
- Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long “định thân chinh cầm
quân đi ngay”.
- Rồi chỉ trong vòng hơn 1 tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “tế
cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc...
viết đoạn văn diễn dịch, làm rõ luận điểm 1
1. Hình thức : ĐV diễn dịch
2. Nội dung: Làm rõ LĐ1
1. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:
Trước hết Quang Trung là một con
người hành động mạnh mẽ quyết đoán. Từ đầu
đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là
con người hành động một cách xông xáo, nhanh
gọn có chủ đích và rất quả quyết. Nghe tin giặc
đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một
vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao
núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”. Rồi
chỉ trong vòng hơn 1 tháng, Nguyễn Huệ đã làm
được bao nhiêu việc lớn: “tế cáo trời đất”, lên
ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc...
LĐ2: trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:
Sáng suốt trong việc lên ngôi:
- Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là
Quang Trung.
- Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và
quan trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:
-
Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An,
Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền
Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một
số người phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính
vừa chí tình, vừa nghiêm khắc
* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi
viết đoạn văn diễn dịch, làm rõ luận điểm 2
LĐ2: trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:
Sáng suốt trong việc lên ngôi:
Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế
giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”,
Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là
Quang Trung.
- Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và
quan trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:
- Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào
sao ấy”, “người phương Bắc khôngphải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác” . Ông còn
vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy
phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể
chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.
- Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu
dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông từ ngàn xưa như:
Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành...
- Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số
người phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính vừa chí
tình, vừa nghiêm khắc: “các ngươi đều là những kẻ có lương tri, hãy nên cùng ta đồng
tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc
phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.
* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi:
- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta
thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ta thì “quân
thua tại tướng” nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân
hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp
để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi
khen.
- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư “đa
mưu túc trí”. Việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ
mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến
việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi:
- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta
thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ta thì “quân
thua tại tướng” nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân
hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp
để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi
khen.
- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư “đa
mưu túc trí”. Việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ
mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến
việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
c) Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:
- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung
đã nói chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
- Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại
giao và kế hoạch 10 tới ta hoà bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh
đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó. Nếu “chờ 10 năm
nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta
có sợ gì chúng”.
d) Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người:
- Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta
kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế
hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long,
trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.
- Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ
chức của người cầm quân.
e) Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận:
- Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm
tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.
- Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh
những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù.
- Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được
khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh “khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì”, nổi
bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen
khói súng.
-> Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí
tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của
2. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của
vua tôi Lê Chiêu Thống:
a) Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh:
- Tướng thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo
giáp... chuồn trước qua cầu phao”.
- Quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời sợ hãi” xin ra hàng hoặc “bỏ chạy tán
loạn, giày xéo lên nhau mà chết” “đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn
không chảy được nữa”.
b) Số phận thảm bại của bọn vua tôi phản nước hại dân:
- Lê Chiêu Thống phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh van xin, không
còn đâu tư cách bậc quân vương.
- Kết cục phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vong quốc: Vội vã cùng mấy bề
tôi thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, “luôn mấy ngày
không ăn”. Đuổi kịp được Tôn Sĩ Nghị chỉ còn biết “nhìn nhau than thở, oán giận
chảy nước mắt”.
-> Nghệ thuât: Lối kể chuyện xen kẽ miêu tả sinh động, cụ thể, gây ấn tượng mạnh.
Với ý thức tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc, những người trí thức – các tác
giả Ngô Gia Văn Phái đã phản ánh chiến công lừng lẫy của nghĩa quân Tây Sơn, làm
nổi bật hình ảnh vua Quang Trung – người anh hùng áo vải, niềm tự hào lớn lao của
III. Gía trị nội dung và nghệ thuật
1. Nội dung:.
Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả
“Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người
anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá
quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi
đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.
2. Nghệ thuật:
Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ thể, gây được ấn
tượng mạnh.
ĐỀ 1:Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính, truyền
cho tất cả đều ngồi mà nghe lệnh, rồi dụ họ rằng:
- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất
nào sao ấy, đều phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau ra mà cai trị. Người phương Bắc
không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán tới nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước
ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán
có Trưng Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có
Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng ta làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa
quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng
phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi
nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy dều là chuyện cũ rành rành của triều đại trước. Nay
người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quân huyện, không biết trông gương mấy đời Tống,
Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương
tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn…
Câu 1: Nêu phương thức biểu dạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2: Câu “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng phương Nam, phương Bắc
chia nhau mà cai trị” nhắc em nhớ tới tác phẩm nào đã học trong chương trình Ngữ văn THCS. Vua Quang
Trung muốn khẳng định điều gì qua câu nói trên.
Câu 3: Em hãy giải thích nghĩa của từ “lương tri, lương năng”
Câu 4: Trong đoạn “ Đời Hán có Trưng Nữ Vương… các vua truyền ngôi lâu dài” giống với những câu thơ
nào của Nguyễn Trãi. Từ đó, em hãy chỉ ra nét tương đồng về tư tưởng, thái độ của Nguyễn Trãi và vua
Quang Trung.
Câu 5: Qua đoạn trích em thấy vua Quang Trung hiện lên là người như thế nào?
Câu 1: Phương thức biểu dạt chính trong đoạn trích trên:
nghị luận.
Câu 2: Câu “ Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã
phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà
cai trị” gợi nhắc tới hai câu thơ trong bài Sông núi nước Nam
tương truyền của Lý Thường Kiệt.
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời”
- Câu nói của vua Quang Trung có ý nghĩa khẳng định nền
độc lập, tự cường của nước ta, đất nước có ranh giới lãnh thổ
rõ ràng, có vua cai trị. Đồng thời đây cũng là câu nói nhằm
bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ
thù xâm lược.
Câu 3: Nghĩa của từ “lương tri” và “lương năng”.
Lương tri: Người có lương tấm, biết nhận thức đúng đắn, soi xét
đúng sai.
Lương năng: người có tài năng, phẩm cách tốt.
Ý của vua Quang Trung: tất cả các tướng lĩnh, quân sĩ đều là những
người biết phải trái, đúng sai, đều là những người có lương tâm, biết
yêu nước thương dân.
Vua Quang Trung dùng cách nói này để khích lệ lòng tự tôn dân tộc
của quân sĩ.
Câu 4: Trong bài Bình Ngô đại cáo, tác giả Nguyễn Trãi có viết.
“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Xong hào kiệt đời nào cũng có”
- Điểm tương đồng trong tư tưởng của Nguyễn Trãi với Quang Trung:
+ Khẳng định sự tồn tại độc lập, bình đẳng của nước Nam với
phương Bắc.
+ Nước ta đời nào cũng có anh hùng hào kiệt.
+ Tác giả nêu tấm gương sáng, ngợi ca anh hùng hào kiệt trong
lịch sử và lên án hành động cướp nước, xâm lược của phương Bắc.
Câu 5:
Vua Quang Trung trong đoạn trích trên:
- Trước hết, vua Quang Trung là người mạnh mẽ, quyết đoán:
+ Nghe tin giặc tới Thăng Long ông vội vã đốc xuất đại binh ra
Bắc.
+ Là người sáng suốt, nhạy bén:
Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị kéo vào nước ta,
thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, ông đã lên ngôi hoàng đế để
chính danh ra dẹp giặc.
- Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch, ta.
+ Quang Trung khích lệ tướng lính bằng những những lời nói chân
thành, những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm
giành lại độc lập.
- Tầm nhìn chiến lược, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập của vua
Quang Trung đã góp phần làm nên chiến thắng thần tốc đại phá quân
Thanh.
ĐỀ2: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“… Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính, truyền cho
tất cả đều ngồi mà nghe lệnh, rồi dụ họ rằng :
- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã
biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ
ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị.(….). Đời Hán có
Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời
Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ
ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa
quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương
Bắc (…). Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên
cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn.”
Câu 1: Xác định PTBĐ được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Xác định lời dẫn trong đoạn trích trên và cho biết đó là lời dẫn
trực tiếp hay gián tiếp?
Câu 3: Từ đoạn trích trên, em hãy viết một văn bản ngắn ( khoảng một
trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của bản thân về lòng yêu nước của
con người Việt Nam.
Câu 3:
I.Mở bài
Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận.
Bản đồ thế giới ghi tên Việt Nam, cả thế giới công nhận một đất nước
bé nhỏ mà hùng cường với lòng yêu nước luôn cồn cào trong huyết
quản mỗi con người Việt Nam. Chính lòng yêu nước ấy đã trở thành
niềm tự hào của cả dân tộc.
II. Thân bài:
1. Giải thích về lòng yêu nước
- Lòng yêu nước là tình yêu đối với quê hương, đất nước, là hành
động, là không ngừng nỗ lực để xây dựng và phát triển đất nước.
- Lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng, cao quý của mỗi người
dành cho đất nước mình.
2. Biểu hiện của lòng yêu nước
* Thời kỳ chiến tranh
– Đứng lên, cầm súng ra chiến trường để chiến đấu chống lại kẻ thù.
Không ngại khó khăn, gian khổ mà xông lên giành độc lập cho dân
tộc.
– Lòng yêu nước ở giai đoạn này là một tình cảm quyết liệt mà mạnh
mẽ
– Lấy ví dụ, lòng yêu nước thể hiện qua một số câu nói nổi tiếng như:
“Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh” hay “quyết tử cho tổ quốc quyết
sinh”.
– Các tấm gương hy sinh anh dũng cho độc lập dân tộc: Võ Thị Sáu,
Kim Đồng, Nguyễn Văn Thạc…
– Sức mạnh của lòng yêu nước vô cùng lớn, như Bác Hồ đã nói:
“Lòng yêu nước có thể nhấn chìm bè lũ bán nước và cướp nước”
* Thời kỳ hòa bình
– Thể hiện ở nhưng hoạt động nhằm hướng tới con đường Xã hội chủ
nghĩa . Với mong muốn mang lại cuộc sống no đủ, đầm ấm cho nhân
dân và sự phát triển bền vững.
– Thể hiện trong công việc và trong cuộc sống. Là không ngừng nỗ lực
để góp phần đưa đất nước sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
- Ngoài ra, lòng yêu nước còn thể hiện qua những tình cảm giản dị,
gần gũi: tình yêu gia đình, tình yêu thiên nhiên, tình yêu thương giữa
con người với con người…
- Lòng yêu nước còn là niềm trăn trở trước những vấn đề của đất
nước, dùng hành động thực tế để giải quyết những vấn đề đó.
- Lòng yêu nước còn được thể hiện ở lòng tự hào dân tộc: biểu hiện
cụ thể qua các áng thơ văn ngợi ca tinh thần ngoan cường của dân
tộc; các bảo tàng lưu giữ những kỷ vật khắc ghi chiến công của các
anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc.
3. Vai trò của lòng yêu nước
- Là bệ đỡ tinh thần cho con người: là nguồn cảm hứng bất tận cho các
nghệ sĩ; giúp đồng bào luôn vững tâm tiến bước (Kiều bào luôn hướng
về tổ quốc; Con người khi về già đều muốn trở về nơi chôn rau cắt
rốn). Chính lòng yêu nước đã bồi dưỡng tâm hồn những con người
nước Việt trở nên vững vàng, mạnh mẽ trong hành trình sống khắc
nghiệt.
- Là động lực giúp con người sống có trách nhiệm hơn với gia đình,
quê hương, đất nước, cộng đồng hay đơn giản nhất là đối với chính
bản thân mình.
4. Mở rộng
Tuy nhiên đáng buồn là hiện nay vẫn còn những thanh niên sống với
thứ tình cảm và tư tưởng sai lệch. Họ quên đi đất nước, chỉ nghĩ đến
bản thân. Họ phán xét, chê trách, thậm chí là phá hoại đất nước nguồn
cội của mình.
III. Kết bài:
- Khẳng định lòng yêu nước của mỗi công dân Việt Nam
- Kêu gọi mọi người hãy quên đi sự ích kỷ bản thân, “cái tôi” cá nhân
để cùng hướng về tổ quốc.
 







Các ý kiến mới nhất