Ngữ văn 7 bài Mùa phơi sân trước -chân trời sáng tạo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Tài
Ngày gửi: 20h:02' 08-12-2022
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 745
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Tài
Ngày gửi: 20h:02' 08-12-2022
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 745
Số lượt thích:
0 người
CHÀO MỪNG CÁC EM ĐẾN VỚI TIẾT HỌC
NGỮ VĂN 7 (Tiết 53)
GIÁO VIÊN: NGUYỄN THỊ THẮM
TRƯỜNG THCS XÃ LÂM HẢI
Đọc mở rộng theo thể loại:
MÙA PHƠI SÂN TRƯỚC
(Nguyễn Ngọc Tư)
Giáo viên: Nguyễn Thị Thắm
Trường: THCS xã Lâm Hải
I. TRẢI NGHIỆM
CÙNG VĂN BẢN
MÙA PHƠI SÂN TRƯỚC
-Nguyễn Ngọc TưI. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN
1. Tác giả
- Tên: Nguyễn Ngọc Tư;
- Năm sinh: sinh năm 1976;
- Quê quán: xã Tân Duyệt, huyện Đầm
Dơi, tỉnh Cà Mau, trong một gia đình nông
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
dân;
- Nguyễn Ngọc Tư chuyên viết truyện
ngắn, tiểu thuyết, viết tùy bút và làm thơ.
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ: Văn bản nằm ở phần
6 trong truyện ngắn “Bánh trái
mùa xưa”, NXB Văn học, Hà
Nội, 2015
Vài nét về tác phẩm Bánh trái mùa xưa:
Nguyễn Ngọc Tư trải lòng trong cái góc nhỏ
miền Tây đã nuôi dưỡng tâm hồn chị. Góc nhỏ
ấy có tấm lưng ông ngoại, có căn nhà chất đầy
những món đồ hoài cổ, có mái hiên của bà cụ
hiền như bà nội, có những chiếc bánh thảo
thơm đồng bãi,… Cứ thế miền Tây hiện ra gần
gũi tưởng như có thể chạm tới để cảm nhận
cách sống, con người phóng khoáng nơi sông
nước chứa chan tình cảm. Bánh Trái Mùa Xưa
rất buồn. Buồn vì những gì đã mất đi không
bao giờ còn có thể lấy lại. Buồn vì cuộc sống
hiện đại chà mòn những vẻ đẹp đơn sơ thấm
đẫm tình người. Buồn vì giá trị vật chất đang
lấy đi những hoài niệm.
2. Tác phẩm
b. Đọc
Mùa phơi sân trước
(Nguyễn Ngọc Tư)
Hồi con nít thích đi xe đạp về nhà ngoại bằng con đường xóm cặp mé sông Rạch Rập. Đường đất dầm dãi suốt
một mùa mưa, chừng gió chướng thổi về mới ráo tạnh bùn lầy. Đến Chạp thì những chân trâu cũng bị bôi xóa hết,
có thể đạp xe thong dong mà đã đời nghiêng ngó.
Mùa Chạp đi bảy cây số không nghe mỏi. Gió chướng khoác lên làng mạc một vẻ mơ màng, đường uốn lượn theo
sông, và dòng chảy đó thẳm suốt thoắt ẩn thoắt hiện sau những lùm cây hoang dại. Dọc đường thấy Tết lấp ló khắp
nơi, trên sân nhà người, trên những giàn phơi.
Người nhà quê hồi mình con nít toàn người nghèo, sân nhà quê hồi ấy cũng rặt sân đất, nên nhà nào cũng cặm cái
giàn trước nhà, suốt sáu tháng mưa sân chìm trong nước cũng có chỗ mà đem phơi củi, hay gối, chiếu. Những ngày
hửng nắng trên giàn luôn có thứ gì đó ngóng nắng, khi cám mốc, khi thì mớ bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì
mớ cơm nguội hay mớ lá dừa khô dùng để nhen lửa, mấy trái đậu bắp già làm giống cho mùa sau… Phơi trên giàn
mọi thứ khô mau, vì nắng ngun ngút trên mặt, gió lộng phía lưng. Những nhà có sân rộng người ta còn phơi lúa trên
giàn, lúa khô đem vô bồ được mấy hôm đã thấy trên mặt sân xăm xấp nước lúa rày đã lấm tấm xanh. Qua nhà nào
có trẻ nhỏ gặp những tấm chiếu manh con con nằm uống nắng.
Càng gần về cuối năm giàn phơi càng bận rộn. Dầu dãi oằn mình suốt năm, giờ trên giàn bày ra những món ngon
chuẩn bị cho cuộc hội hè. Bánh phồng vừa quết xong, củ kiệu mới trộn đường xong, mứt gừng mới ngào nửa lửa…
thứ nào cũng ưa nắng. Nhưng cá khô mới là ưa nắng nhứt hạng, mới cần thứ nắng ròng ròng như thắp lửa, thứ nắng
như cháy trên đầu. Mùa Chạp cá làm đìa người ta lớp rọng lớp làm mắm để ăn dần dần cho tới mùa lúa sau, mớ xẻ
làm khô ăn Tết. Mùa đìa kéo dài cả tháng nghĩa là lúc nào giàn phơi cũng những con cá nằm nhuộm nắng cho đỏ au
Mùa Chạp thể nào cũng gặp người ta ép chuối khô. Chuối xiêm chín cây sẵn ngoài vườn, lột vỏ phơi một nắng, rồi đem ép mỏng.
Không như cá khô rủ rê bọn ruồi nhặng đến mức phải đốt nắm nhang cắm nơi đầu gió để xua đuổi chúng, mật chuối tươm ướt rượt
chỉ mê dụ quyến rũ lũ ong. Kéo tới dập dìu, lảo đảo bay đậu như say, những con ong sa đà ở giàn phơi cho đến khi những miếng
chuối ép mỏng bắt đầu khô quắt, vàng óng như vừa nướng trên than hồng. Chuối phơi đủ nắng có thể ăn tới ra Giêng, mật lặn vào
trong vừa ăn vừa tợp miếng trà, hoặc ngào qua với khóm, me… đem dầm nước đá uống cũng ngon thấu trời.
Vậy là nước miếng mình ứa ra, trên từng mét đường về nhà ngoại. Tâm hồn mệt nhoài với những món ăn cực kỳ mời gọi trong sân
thiên hạ. Đang thèm tô cơm nguội chan nước dừa ăn với khô lóc nướng thì bỗng nghĩ giờ phải có thịt kho Tàu để ăn với dưa kiệu
nhà kia, rồi cái hủ mắm tép dầm nắng sát hàng rào làm mình nhớ nhung chuối chát, khế chua cùng với gừng xắt mịn thì mâm mứt
tắc đỏ au đằng kia làm mình lịm chết một cách lim dim như tụi kiến.
Chân rõ ràng không mỏi, nhưng tâm rã rời, cứ chạy theo đeo đuổi miết trên những giàn phơi. Hụt hơi, chới với. Có lần về nhà kêu
má Tết này làm những món này này, những món mà mình nhìn thấy mang theo trên suốt chặng đường từ nhà ngoại về. Má cười,
người ta có đâu có nghĩa là mình phải có.
Mình dại hơn cả tuổi mười ba, không hiểu câu đó mấy, nên vẫn muốn má bày thật nhiều thứ trên giàn phơi nhà mình, chớ không
phải còm nhom chút dưa kiệu, dưa hành, chút chuối khô… Nên Chạp sau mình vẫn nhắc, má lại nói ta đâu cần phải có cái mà
người ta có.
Cũng may qua mỗi Chạp mỗi mùa phơi mình mỗi lớn, bài học của người của ta má không nhắc nữa, mình bỗng bâng quơ nhớ.
Nhận ra trên giàn cũng phơi những thân phận người. Ngó qua khoảng sân đã rợp những cây mồng gà, vạn thọ biết ai ăn Tết lớn ai
chịu đìu hiu, như ngó qua cái sào phơi quần áo biết nhà ai đông nhà ai đơn chiếc, ai khá giả ai nghèo. Nắng gió khiến mọi niềm vui
nỗi buồn bày ra như một cuộc diễu hành, không che giấu khách qua đường. Căn chòi của bà già chèo đò hay chở mình qua sông
trống mãi, cho đến ngày cuối Chạp bỗng trên đống củi có phơi vài tàu lá chuối, biết tối nay trên sân nhỏ bà sẽ ngồi canh nồi bánh
tét đến giao thừa. Mình bỗng nghe nhẹ nhõm khi nhìn theo bóng nhỏ đưa chiếc đò về bên kia sông.
Chật vật mấy, cuối Chạp cũng có cái đem phơi, đem nhuộm nắng, cũng có bụi bông vạn thọ, và bông trang bông lồng đèn nở rực
rỡ trên rào…
(In trong Bánh trái mùa xưa, NXB Hội Nhà văn, 2015)
2. Tác phẩm
c. Thể loại
d. Phương thức biểu đạt: Tự sự,
miêu tả, biểu cảm
e. Bố cục: 2 phần
- Phần 1: Từ đầu đến: “người ta có”: Tác giả nhớ về
những kỉ niệm mùa phơi sân trước.
- Phần 2: Còn lại: Tình cảm của tác giả thể hiện qua
văn bản.
II. SUY NGẪM
VÀ PHẢN HỒI
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI
1. Kỉ niệm về mùa phơi sân trước.
THẢO LUẬN NHÓM (4p)
+ Tác giả giới thiệu về kỉ niệm gì trong phần đầu văn bản.
+ Những hình ảnh nào gợi nhắc tác giả nhớ về tuổi thơ?
+ Người dân phơi gì trên những giàn phơi? Tác giả sử dụng biện
pháp nghệ thuật gì trong phần này.
+ Hãy nhận xét những hình ảnh miêu tả về mùa phơi trước sân của
tác giả?
PHIẾU HỌC TẬP
Kỉ niệm, Hình ảnh:
Những đồ vật được phơi trên giàn phơi:
Nghệ thuật:
Nhận xét:
+ Tác giả giới thiệu về kỉ niệm gì trong phần đầu văn
bản.
+ Những hình ảnh nào gợi nhắc tác giả nhớ về tuổi thơ?
+ Người dân phơi gì trên những giàn phơi? Tác giả sử
dụng biện pháp nghệ thuật gì trong phần này.
+ Hãy nhận xét những hình ảnh miêu tả về mùa phơi
trước sân của tác giả?
Mùa phơi sân trước
(Nguyễn Ngọc Tư)
Hồi con nít thích đi xe đạp về nhà ngoại bằng con đường xóm cặp mé sông Rạch Rập. Đường đất dầm dãi suốt
một mùa mưa, chừng gió chướng thổi về mới ráo tạnh bùn lầy. Đến Chạp thì những chân trâu cũng bị bôi xóa hết,
có thể đạp xe thong dong mà thỏa thuê nghiêng ngó.
Mùa Chạp đi bảy cây số không nghe mỏi. Gió chướng khoác lên làng mạc một vẻ mơ màng, đường uốn lượn theo
sông, và dòng chảy đó thẳm suốt thoắt ẩn thoắt hiện sau những lùm cây hoang dại. Dọc đường thấy Tết lấp ló khắp
nơi, trên sân nhà người, trên những giàn phơi.
Người nhà quê hồi mình con nít toàn người nghèo, sân nhà quê hồi ấy cũng rặt sân đất, nên nhà nào cũng cặm cái
giàn trước nhà, suốt sáu tháng mưa sân chìm trong nước cũng có chỗ mà đem phơi củi, hay gối, chiếu. Những ngày
hửng nắng trên giàn luôn có thứ gì đó ngóng nắng, khi cám mốc, khi thì mớ bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì
mớ cơm nguội hay mớ lá dừa khô dùng để nhen lửa, mấy trái đậu bắp già làm giống cho mùa sau… Phơi trên giàn
mọi thứ khô mau, vì nắng ngun ngút trên mặt, gió lộng phía lưng. Những nhà có sân rộng người ta còn phơi lúa trên
giàn, lúa khô đem vô bồ được mấy hôm đã thấy trên mặt sân săm sắp nước lúa rày đã lấm tấm xanh. Qua nhà nào
có trẻ nhỏ gặp những tấm chiếu manh con con nằm uống nắng.
Càng gần về cuối năm giàn phơi càng bận rộn. Dầu dãi oằn mình suốt năm, giờ trên giàn bày ra những món ngon
chuẩn bị cho cuộc hội hè. Bánh phồng vừa quết xong, củ kiệu mới trộn đường xong, mứt gừng mới ngào nửa lửa…
thứ nào cũng ưa nắng. Nhưng cá khô mới là ưa nắng nhứt hạng, mới cần thứ nắng ròng ròng như thắp lửa, thứ nắng
như cháy trên đầu. Mùa Chạp cá làm đìa người ta lớp rọng lớp làm mắm để ăn dần dần cho tới mùa lúa sau, mớ xẻ
làm khô ăn Tết. Mùa đìa kéo dài cả tháng nghĩa là lúc nào giàn phơi cũng những con cá nằm nhuộm nắng cho đỏ au
1. Ki niệm về mùa phơi sân trước
- Kỉ niệm: Ngày còn nhỏ đạp xe về nhà ngoại.
- Gió chướng về vào tháng Chạp là báo hiệu Tết về.
- Giàn phơi trước sân là hình ảnh quen thuộc trong kí ức của tác giả về một thời tuổi thơ của
mình:
+ Họ phơi trên giàn khi thì “củi”, “gối”, “chiếu” hay “cám mốc”, “mớ bột gạo, mớ cơm nguội
thừa”, …
+ Càng về cuối năm, người ta càng phơi nhiều thứ lên: “bánh phồng”, “củ kiệu”, mứt “gừng”.
* Nghệ thuật: Liệt kê nhằm thể hiện sự độc đáo, đa dạng những hình ảnh, câu chuyện thân
thuộc, gắn bó trong suốt quãng thời gian tuổi thơ cùng với cảm xúc bâng khuâng, hoài niệm.
Þ Hình ảnh miêu tả chân thực, bình dị nhưng đầy chất thơ, là những kí ức đẹp
trong lòng tác giả về quê hương yêu dấu thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê
hương.
1. Ki niệm về mùa phơi sân trước
- Kỉ niệm: Ngày còn nhỏ đạp xe về nhà ngoại.
- Gió chướng về vào tháng Chạp à báo hiệu Tết về.
- Giàn phơi trước sân là hình ảnh quen thuộc trong kí ức của tác giả về một thời
tuổi thơ của mình:
+ Họ phơi trên giàn khi thì “củi”, “gối”, “chiếu” hay “cám mốc”, “mớ bột gạo,
mớ cơm nguội thừa”, …
+ Càng về cuối năm, người ta càng phơi nhiều thứ lên: “bánh gừng”, “củ kiệu”,
mứt “gừng”.
* Nghệ thuật: Liệt kê nhằm thể hiện sự độc đáo, đa dạng và trí nhớ, tình cảm
của tác giả khi nhớ về kỉ niệm ở quê mình.
Þ Hình ảnh miêu tả chân thực, bình dị nhưng đầy chất thơ, là những kí ức đẹp
trong lòng tác giả về quê hương yêu dấu thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê
hương.
HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
Trình bày cảm nhận của em về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sau khi tiếp xúc
với văn bản Mùa phơi sân trước ?
Đặc điểm của tản văn được thể hiện trong phần 1 của văn bản?
+ Đoạn văn xuôi ngắn gọn, mang tính trữ tình, tự sự, miêu tả sâu sắc về những
kỉ niệm đẹp đẽ của tác giả trước mùa phơi sân trước. Qua đoạn văn, tác giả bộc
lộ trực tiếp tình cảm yêu mến, suy nghĩ vấn vương về những kỉ niệm nơi đây.
+ Dùng ngôi kể thứ nhất.
+ Ngôn từ đơn giản, mang hơi thở đời sống và đầy chất trữ tình.
NGỮ VĂN 7 (Tiết 53)
GIÁO VIÊN: NGUYỄN THỊ THẮM
TRƯỜNG THCS XÃ LÂM HẢI
Đọc mở rộng theo thể loại:
MÙA PHƠI SÂN TRƯỚC
(Nguyễn Ngọc Tư)
Giáo viên: Nguyễn Thị Thắm
Trường: THCS xã Lâm Hải
I. TRẢI NGHIỆM
CÙNG VĂN BẢN
MÙA PHƠI SÂN TRƯỚC
-Nguyễn Ngọc TưI. TRẢI NGHIỆM CÙNG VĂN BẢN
1. Tác giả
- Tên: Nguyễn Ngọc Tư;
- Năm sinh: sinh năm 1976;
- Quê quán: xã Tân Duyệt, huyện Đầm
Dơi, tỉnh Cà Mau, trong một gia đình nông
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
dân;
- Nguyễn Ngọc Tư chuyên viết truyện
ngắn, tiểu thuyết, viết tùy bút và làm thơ.
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ: Văn bản nằm ở phần
6 trong truyện ngắn “Bánh trái
mùa xưa”, NXB Văn học, Hà
Nội, 2015
Vài nét về tác phẩm Bánh trái mùa xưa:
Nguyễn Ngọc Tư trải lòng trong cái góc nhỏ
miền Tây đã nuôi dưỡng tâm hồn chị. Góc nhỏ
ấy có tấm lưng ông ngoại, có căn nhà chất đầy
những món đồ hoài cổ, có mái hiên của bà cụ
hiền như bà nội, có những chiếc bánh thảo
thơm đồng bãi,… Cứ thế miền Tây hiện ra gần
gũi tưởng như có thể chạm tới để cảm nhận
cách sống, con người phóng khoáng nơi sông
nước chứa chan tình cảm. Bánh Trái Mùa Xưa
rất buồn. Buồn vì những gì đã mất đi không
bao giờ còn có thể lấy lại. Buồn vì cuộc sống
hiện đại chà mòn những vẻ đẹp đơn sơ thấm
đẫm tình người. Buồn vì giá trị vật chất đang
lấy đi những hoài niệm.
2. Tác phẩm
b. Đọc
Mùa phơi sân trước
(Nguyễn Ngọc Tư)
Hồi con nít thích đi xe đạp về nhà ngoại bằng con đường xóm cặp mé sông Rạch Rập. Đường đất dầm dãi suốt
một mùa mưa, chừng gió chướng thổi về mới ráo tạnh bùn lầy. Đến Chạp thì những chân trâu cũng bị bôi xóa hết,
có thể đạp xe thong dong mà đã đời nghiêng ngó.
Mùa Chạp đi bảy cây số không nghe mỏi. Gió chướng khoác lên làng mạc một vẻ mơ màng, đường uốn lượn theo
sông, và dòng chảy đó thẳm suốt thoắt ẩn thoắt hiện sau những lùm cây hoang dại. Dọc đường thấy Tết lấp ló khắp
nơi, trên sân nhà người, trên những giàn phơi.
Người nhà quê hồi mình con nít toàn người nghèo, sân nhà quê hồi ấy cũng rặt sân đất, nên nhà nào cũng cặm cái
giàn trước nhà, suốt sáu tháng mưa sân chìm trong nước cũng có chỗ mà đem phơi củi, hay gối, chiếu. Những ngày
hửng nắng trên giàn luôn có thứ gì đó ngóng nắng, khi cám mốc, khi thì mớ bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì
mớ cơm nguội hay mớ lá dừa khô dùng để nhen lửa, mấy trái đậu bắp già làm giống cho mùa sau… Phơi trên giàn
mọi thứ khô mau, vì nắng ngun ngút trên mặt, gió lộng phía lưng. Những nhà có sân rộng người ta còn phơi lúa trên
giàn, lúa khô đem vô bồ được mấy hôm đã thấy trên mặt sân xăm xấp nước lúa rày đã lấm tấm xanh. Qua nhà nào
có trẻ nhỏ gặp những tấm chiếu manh con con nằm uống nắng.
Càng gần về cuối năm giàn phơi càng bận rộn. Dầu dãi oằn mình suốt năm, giờ trên giàn bày ra những món ngon
chuẩn bị cho cuộc hội hè. Bánh phồng vừa quết xong, củ kiệu mới trộn đường xong, mứt gừng mới ngào nửa lửa…
thứ nào cũng ưa nắng. Nhưng cá khô mới là ưa nắng nhứt hạng, mới cần thứ nắng ròng ròng như thắp lửa, thứ nắng
như cháy trên đầu. Mùa Chạp cá làm đìa người ta lớp rọng lớp làm mắm để ăn dần dần cho tới mùa lúa sau, mớ xẻ
làm khô ăn Tết. Mùa đìa kéo dài cả tháng nghĩa là lúc nào giàn phơi cũng những con cá nằm nhuộm nắng cho đỏ au
Mùa Chạp thể nào cũng gặp người ta ép chuối khô. Chuối xiêm chín cây sẵn ngoài vườn, lột vỏ phơi một nắng, rồi đem ép mỏng.
Không như cá khô rủ rê bọn ruồi nhặng đến mức phải đốt nắm nhang cắm nơi đầu gió để xua đuổi chúng, mật chuối tươm ướt rượt
chỉ mê dụ quyến rũ lũ ong. Kéo tới dập dìu, lảo đảo bay đậu như say, những con ong sa đà ở giàn phơi cho đến khi những miếng
chuối ép mỏng bắt đầu khô quắt, vàng óng như vừa nướng trên than hồng. Chuối phơi đủ nắng có thể ăn tới ra Giêng, mật lặn vào
trong vừa ăn vừa tợp miếng trà, hoặc ngào qua với khóm, me… đem dầm nước đá uống cũng ngon thấu trời.
Vậy là nước miếng mình ứa ra, trên từng mét đường về nhà ngoại. Tâm hồn mệt nhoài với những món ăn cực kỳ mời gọi trong sân
thiên hạ. Đang thèm tô cơm nguội chan nước dừa ăn với khô lóc nướng thì bỗng nghĩ giờ phải có thịt kho Tàu để ăn với dưa kiệu
nhà kia, rồi cái hủ mắm tép dầm nắng sát hàng rào làm mình nhớ nhung chuối chát, khế chua cùng với gừng xắt mịn thì mâm mứt
tắc đỏ au đằng kia làm mình lịm chết một cách lim dim như tụi kiến.
Chân rõ ràng không mỏi, nhưng tâm rã rời, cứ chạy theo đeo đuổi miết trên những giàn phơi. Hụt hơi, chới với. Có lần về nhà kêu
má Tết này làm những món này này, những món mà mình nhìn thấy mang theo trên suốt chặng đường từ nhà ngoại về. Má cười,
người ta có đâu có nghĩa là mình phải có.
Mình dại hơn cả tuổi mười ba, không hiểu câu đó mấy, nên vẫn muốn má bày thật nhiều thứ trên giàn phơi nhà mình, chớ không
phải còm nhom chút dưa kiệu, dưa hành, chút chuối khô… Nên Chạp sau mình vẫn nhắc, má lại nói ta đâu cần phải có cái mà
người ta có.
Cũng may qua mỗi Chạp mỗi mùa phơi mình mỗi lớn, bài học của người của ta má không nhắc nữa, mình bỗng bâng quơ nhớ.
Nhận ra trên giàn cũng phơi những thân phận người. Ngó qua khoảng sân đã rợp những cây mồng gà, vạn thọ biết ai ăn Tết lớn ai
chịu đìu hiu, như ngó qua cái sào phơi quần áo biết nhà ai đông nhà ai đơn chiếc, ai khá giả ai nghèo. Nắng gió khiến mọi niềm vui
nỗi buồn bày ra như một cuộc diễu hành, không che giấu khách qua đường. Căn chòi của bà già chèo đò hay chở mình qua sông
trống mãi, cho đến ngày cuối Chạp bỗng trên đống củi có phơi vài tàu lá chuối, biết tối nay trên sân nhỏ bà sẽ ngồi canh nồi bánh
tét đến giao thừa. Mình bỗng nghe nhẹ nhõm khi nhìn theo bóng nhỏ đưa chiếc đò về bên kia sông.
Chật vật mấy, cuối Chạp cũng có cái đem phơi, đem nhuộm nắng, cũng có bụi bông vạn thọ, và bông trang bông lồng đèn nở rực
rỡ trên rào…
(In trong Bánh trái mùa xưa, NXB Hội Nhà văn, 2015)
2. Tác phẩm
c. Thể loại
d. Phương thức biểu đạt: Tự sự,
miêu tả, biểu cảm
e. Bố cục: 2 phần
- Phần 1: Từ đầu đến: “người ta có”: Tác giả nhớ về
những kỉ niệm mùa phơi sân trước.
- Phần 2: Còn lại: Tình cảm của tác giả thể hiện qua
văn bản.
II. SUY NGẪM
VÀ PHẢN HỒI
II. SUY NGẪM VÀ PHẢN HỒI
1. Kỉ niệm về mùa phơi sân trước.
THẢO LUẬN NHÓM (4p)
+ Tác giả giới thiệu về kỉ niệm gì trong phần đầu văn bản.
+ Những hình ảnh nào gợi nhắc tác giả nhớ về tuổi thơ?
+ Người dân phơi gì trên những giàn phơi? Tác giả sử dụng biện
pháp nghệ thuật gì trong phần này.
+ Hãy nhận xét những hình ảnh miêu tả về mùa phơi trước sân của
tác giả?
PHIẾU HỌC TẬP
Kỉ niệm, Hình ảnh:
Những đồ vật được phơi trên giàn phơi:
Nghệ thuật:
Nhận xét:
+ Tác giả giới thiệu về kỉ niệm gì trong phần đầu văn
bản.
+ Những hình ảnh nào gợi nhắc tác giả nhớ về tuổi thơ?
+ Người dân phơi gì trên những giàn phơi? Tác giả sử
dụng biện pháp nghệ thuật gì trong phần này.
+ Hãy nhận xét những hình ảnh miêu tả về mùa phơi
trước sân của tác giả?
Mùa phơi sân trước
(Nguyễn Ngọc Tư)
Hồi con nít thích đi xe đạp về nhà ngoại bằng con đường xóm cặp mé sông Rạch Rập. Đường đất dầm dãi suốt
một mùa mưa, chừng gió chướng thổi về mới ráo tạnh bùn lầy. Đến Chạp thì những chân trâu cũng bị bôi xóa hết,
có thể đạp xe thong dong mà thỏa thuê nghiêng ngó.
Mùa Chạp đi bảy cây số không nghe mỏi. Gió chướng khoác lên làng mạc một vẻ mơ màng, đường uốn lượn theo
sông, và dòng chảy đó thẳm suốt thoắt ẩn thoắt hiện sau những lùm cây hoang dại. Dọc đường thấy Tết lấp ló khắp
nơi, trên sân nhà người, trên những giàn phơi.
Người nhà quê hồi mình con nít toàn người nghèo, sân nhà quê hồi ấy cũng rặt sân đất, nên nhà nào cũng cặm cái
giàn trước nhà, suốt sáu tháng mưa sân chìm trong nước cũng có chỗ mà đem phơi củi, hay gối, chiếu. Những ngày
hửng nắng trên giàn luôn có thứ gì đó ngóng nắng, khi cám mốc, khi thì mớ bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì
mớ cơm nguội hay mớ lá dừa khô dùng để nhen lửa, mấy trái đậu bắp già làm giống cho mùa sau… Phơi trên giàn
mọi thứ khô mau, vì nắng ngun ngút trên mặt, gió lộng phía lưng. Những nhà có sân rộng người ta còn phơi lúa trên
giàn, lúa khô đem vô bồ được mấy hôm đã thấy trên mặt sân săm sắp nước lúa rày đã lấm tấm xanh. Qua nhà nào
có trẻ nhỏ gặp những tấm chiếu manh con con nằm uống nắng.
Càng gần về cuối năm giàn phơi càng bận rộn. Dầu dãi oằn mình suốt năm, giờ trên giàn bày ra những món ngon
chuẩn bị cho cuộc hội hè. Bánh phồng vừa quết xong, củ kiệu mới trộn đường xong, mứt gừng mới ngào nửa lửa…
thứ nào cũng ưa nắng. Nhưng cá khô mới là ưa nắng nhứt hạng, mới cần thứ nắng ròng ròng như thắp lửa, thứ nắng
như cháy trên đầu. Mùa Chạp cá làm đìa người ta lớp rọng lớp làm mắm để ăn dần dần cho tới mùa lúa sau, mớ xẻ
làm khô ăn Tết. Mùa đìa kéo dài cả tháng nghĩa là lúc nào giàn phơi cũng những con cá nằm nhuộm nắng cho đỏ au
1. Ki niệm về mùa phơi sân trước
- Kỉ niệm: Ngày còn nhỏ đạp xe về nhà ngoại.
- Gió chướng về vào tháng Chạp là báo hiệu Tết về.
- Giàn phơi trước sân là hình ảnh quen thuộc trong kí ức của tác giả về một thời tuổi thơ của
mình:
+ Họ phơi trên giàn khi thì “củi”, “gối”, “chiếu” hay “cám mốc”, “mớ bột gạo, mớ cơm nguội
thừa”, …
+ Càng về cuối năm, người ta càng phơi nhiều thứ lên: “bánh phồng”, “củ kiệu”, mứt “gừng”.
* Nghệ thuật: Liệt kê nhằm thể hiện sự độc đáo, đa dạng những hình ảnh, câu chuyện thân
thuộc, gắn bó trong suốt quãng thời gian tuổi thơ cùng với cảm xúc bâng khuâng, hoài niệm.
Þ Hình ảnh miêu tả chân thực, bình dị nhưng đầy chất thơ, là những kí ức đẹp
trong lòng tác giả về quê hương yêu dấu thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê
hương.
1. Ki niệm về mùa phơi sân trước
- Kỉ niệm: Ngày còn nhỏ đạp xe về nhà ngoại.
- Gió chướng về vào tháng Chạp à báo hiệu Tết về.
- Giàn phơi trước sân là hình ảnh quen thuộc trong kí ức của tác giả về một thời
tuổi thơ của mình:
+ Họ phơi trên giàn khi thì “củi”, “gối”, “chiếu” hay “cám mốc”, “mớ bột gạo,
mớ cơm nguội thừa”, …
+ Càng về cuối năm, người ta càng phơi nhiều thứ lên: “bánh gừng”, “củ kiệu”,
mứt “gừng”.
* Nghệ thuật: Liệt kê nhằm thể hiện sự độc đáo, đa dạng và trí nhớ, tình cảm
của tác giả khi nhớ về kỉ niệm ở quê mình.
Þ Hình ảnh miêu tả chân thực, bình dị nhưng đầy chất thơ, là những kí ức đẹp
trong lòng tác giả về quê hương yêu dấu thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê
hương.
HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
Trình bày cảm nhận của em về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sau khi tiếp xúc
với văn bản Mùa phơi sân trước ?
Đặc điểm của tản văn được thể hiện trong phần 1 của văn bản?
+ Đoạn văn xuôi ngắn gọn, mang tính trữ tình, tự sự, miêu tả sâu sắc về những
kỉ niệm đẹp đẽ của tác giả trước mùa phơi sân trước. Qua đoạn văn, tác giả bộc
lộ trực tiếp tình cảm yêu mến, suy nghĩ vấn vương về những kỉ niệm nơi đây.
+ Dùng ngôi kể thứ nhất.
+ Ngôn từ đơn giản, mang hơi thở đời sống và đầy chất trữ tình.







Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển. Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực thì vẫn còn mãi mãi với thời gian. “Bánh trái mùa xưa” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là một trong số những tác phẩm nghệ thuật như thế. Và đoạn trích “Mùa phơi sân trước” đã để lại nhiều dấu ấn trong trái tim nhiều độc giả...(Xem thêm: https://ongvespa.com/phan-tich-mua-phoi-san-truoc)
Đoạn trích “Mùa phơi sân trước” là một tác phẩm rất giản dị, mộc mạc, ngôn từ quen thuộc với đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân. Những kỉ niệm của nhà văn được kể lại một cách chân thật và đầy xúc cảm. Ở nơi ấy có những món đồ hoài niệm, có mái hiên của cụ bà, có những cái bánh thơm thảo đồng bãi, có những con người phóng khoáng nơi sông nước chứa chan tình thương. Hơn cả, trích đoạn được tắm đầy nỗi nhớ của Nguyễn Ngọc Tư dành cho mùa phơi trước sân tại một vùng quê, chỉ là phơi những đồ ăn bình thường nhưng lại dựng lên khung cảnh hết sức yên bình.
Giàn phơi trước sân là hình ảnh quen thuộc trong kí ức tác giả về tuổi thơ của mình. Người dân phơi trên giàn, khi thì “củi”, “gối”, “chiếu” hay “cám mốc”, “mớ bột gạo”, “mớ cơm nguội thừa”… Càng về cuối năm người ta phơi càng nhiều thứ như “bánh gừng”, “củ kiệu”, “mứt gừng”… Tất cả được hòa quyện trong chất thơ, nỗi nhớ , kí ức đẹp của tác giả về quê hương yêu dấu. Việc sử dụng từ ngữ địa phương không chỉ mang lại một màu sắc riêng cho tác phẩm mà còn tạo nên cảm giác chân thực, gần gũi, sinh động qua lăng kính kí ức của nhà văn. Trong kí ức nhà văn hiện lên với những món ngon quen thuộc của miền Tây sông nước : cơm chan nước dừa với cá lóc khô nướng, thịt kho tàu với dưa kiệu, hũ mắm tép với chuối chát,… Qua những kỉ niệm về sân phơi, những món ăn ngày tết đã thể hiện tình cảm yêu mến quê hương, cảm xúc nhớ nhung , thèm thuồng đối với những món ăn mang hương vị quê nhà, đồng thời là niềm thương đối với những mảnh đời nghèo khổ.
Tác phẩm Mùa phơi trước sân đã đưa đến hình ảnh dàn phơi đặc biệt phong phú vào tháng Chạp của một miền quê nghèo Nam Bộ, qua đó Nguyễn Ngọc Tư thể hiện tình yêu thương sâu sắc đối với cảnh vật quê hương và thân phận con người.