Tuần 23. Phân xử tài tình

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lý Ngọc Trâm
Ngày gửi: 18h:27' 07-02-2023
Dung lượng: 129.5 KB
Số lượt tải: 55
Nguồn:
Người gửi: Lý Ngọc Trâm
Ngày gửi: 18h:27' 07-02-2023
Dung lượng: 129.5 KB
Số lượt tải: 55
Số lượt thích:
0 người
Tập đọc
Phân xử tài tình
PHÂN XỬ TÀI TÌNH
Xưa, có một vị quan án rất tài. Vụ án nào, ông cũng tìm ra
manh mối và phân xử công bằng.
Một hôm, có hai người đàn bà đến công đường. Một
người mếu máo:
- Bẩm quan, con mang vải đi chợ, bà này hỏi mua, rồi
cướp tấm vải, bảo là của mình.
Người kia cũng rưng rưng nước mắt:
- Tấm vải là của con. Bà này lấy trộm.
Đòi người làm chứng nhưng không có, quan cho lính về
nhà họ xem. Cả hai đều có khung cửi như nhau, cùng
mang vải ra chợ bán hôm ấy. Ngẫm một lát, quan ôn tồn
bảo:
- Hai người đều có lí nên ta xử thế này: tấm vải xé đôi,
mỗi người một nửa.
Thừa lệnh, lính đo vải xé ngay. Một người đàn bà bật
khóc. Lập tức, quan đưa cả tấm vải cho người này rồi thét
trói người kia lại. Sau một hồi tra hỏi, kẻ kia phải cúi đầu
nhận tội.
Lần khác, quan tới vãn cảnh một ngôi chùa. Sư cụ đón
tiếp kính cẩn, rồi nhờ tìm hộ số tiền của nhà chùa bị mất.
Quan nói sư cụ biện lễ cúng Phật, rồi gọi hết sư vãi, kẻ
ăn người ở trong chùa ra, giao cho mỗi người cầm một
nắm thóc và bảo:
- Chùa ta mất tiền, chưa rõ thủ phạm. Mỗi người hãy
cầm một nắm thóc đã ngâm nước rồi vừa chạy đàn, vừa
niệm Phật. Đức Phật rất thiêng. Ai gian, Phật sẽ làm cho
thóc trong tay kẻ đó nảy mầm. Như vậy, ngay gian sẽ rõ.
Mới vài vòng chạy, đã thấy một chú tiểu
thỉnh thoảng hé bàn tay cầm thóc ra xem.
Quan lập tức cho bắt chú tiểu vì chỉ kẻ có tật
mới hay giật mình. Chú tiểu kia đành nhận
tội.
Theo NGUYỄN ĐỔNG CHI
- Quan án: Chức quan thời xưa chuyện lo việc
điều tra và xét xử
- Vãn cảnh: Đến ngắm cảnh đẹp
- Biện lễ: Lo liệu, sắm sửa lễ vật
- Sư sãi: Những người tu hành ở chùa nói chung
- Đàn: Nền đất đắp cao hoặc đài dựng cao để tế
lễ
- Chạy đàn: Nghi lễ chạy quanh đàn cúng
Bài văn Phân xử tài tình được chia
làm 2 phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “...cúi đầu nhận
lỗi”: Quan án phân xử vụ hai người
đàn bà tranh nhau tấm vải
- Phần 2: Đoạn còn lại: Quan án phân
xử vụ mất trộm tiền trong chùa.
Câu 1: Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan
phân xử việc gì ?
Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan phân xử
việc mình bị mất cắp vải. Người nọ tố cáo người kia
lấy trộm vải của mình và nhờ quan phân xử.
Câu 2
Quan án đã dùng những biện pháp nào để tìm ra
người lấy cắp tấm vải ? Vì sao quan cho rằng người
không khóc chính là người lấy cắp ?
Câu 2: Quan án đã dùng những biện pháp nào để tìm ra
người lấy cắp tấm vải ? Vì sao quan cho rằng người không
khóc chính là người lấy cắp ?
Để tìm ra người lấy cắp, quan án dùng nhiều cách khác
nhau:
- Cho đòi người làm chứng nhưng không có ai làm
chứng
- Cho lính về nhà họ xem nhưng cũng không tìm được
chứng cứ gì.
Sai lính xé tấm vải làm hai cho mỗi người một mảnh.
Thấy một trong hai bật khóc, quan sai lính trả tấm vải
cho người ấy rồi thét trói người kia.
Quan cho rằng người không khóc chính là người lấy
cắp vì quan hiểu người tự tay làm ra tấm vải vất vả, cực
nhọc mới đau xót, bật khóc khi tấm vải bị xé. Còn
người dửng dưng khi tấm vải bị xé không phải là người
đã đổ mồ hôi công sức dệt nên tấm vải.
Câu 3: Kể lại cách quan án tìm kẻ lấy trộm tiền nhà chùa.
Để tìm kẻ lấy trộm tiền nhà chùa, quan án đã làm các việc
như sau:
- Cho gọi hết sư vãi, kẻ ăn người ở trong chùa ra, giao cho
mỗi người một nắm thóc đã ngâm nước, bảo họ cầm nắm
thóc đó vừa chạy đàn vừa niệm Phật.
- Tiến hành dùng đòn tấn công tâm lí: Đức Phật rất thiêng.
Ai gian Phật sẻ làm cho thóc trong tay người đó nảy mầm.
- Đứng quan sát những người chạy đàn, thấy một chú tiểu
thỉnh thoảng hé bàn tay cầm thóc ra xem thì lập tức cho bắt
ngay vì chỉ có kẻ có tật mới hay giật mình.
Câu 4: Vì sao quan án dùng cách trên ? Chọn ý trả lời đúng:
a) Vì tin là thóc trong tay kẻ gian sẽ nảy mầm.
b) Vì biết kẻ gian thường lo lắng nên sẽ lộ mặt.
c) Vì cần có thời gian để thu thập chứng cứ.
Ca ngợi trí
thông minh,
tài xử kiện của
vị quan án.
Phân xử tài tình
PHÂN XỬ TÀI TÌNH
Xưa, có một vị quan án rất tài. Vụ án nào, ông cũng tìm ra
manh mối và phân xử công bằng.
Một hôm, có hai người đàn bà đến công đường. Một
người mếu máo:
- Bẩm quan, con mang vải đi chợ, bà này hỏi mua, rồi
cướp tấm vải, bảo là của mình.
Người kia cũng rưng rưng nước mắt:
- Tấm vải là của con. Bà này lấy trộm.
Đòi người làm chứng nhưng không có, quan cho lính về
nhà họ xem. Cả hai đều có khung cửi như nhau, cùng
mang vải ra chợ bán hôm ấy. Ngẫm một lát, quan ôn tồn
bảo:
- Hai người đều có lí nên ta xử thế này: tấm vải xé đôi,
mỗi người một nửa.
Thừa lệnh, lính đo vải xé ngay. Một người đàn bà bật
khóc. Lập tức, quan đưa cả tấm vải cho người này rồi thét
trói người kia lại. Sau một hồi tra hỏi, kẻ kia phải cúi đầu
nhận tội.
Lần khác, quan tới vãn cảnh một ngôi chùa. Sư cụ đón
tiếp kính cẩn, rồi nhờ tìm hộ số tiền của nhà chùa bị mất.
Quan nói sư cụ biện lễ cúng Phật, rồi gọi hết sư vãi, kẻ
ăn người ở trong chùa ra, giao cho mỗi người cầm một
nắm thóc và bảo:
- Chùa ta mất tiền, chưa rõ thủ phạm. Mỗi người hãy
cầm một nắm thóc đã ngâm nước rồi vừa chạy đàn, vừa
niệm Phật. Đức Phật rất thiêng. Ai gian, Phật sẽ làm cho
thóc trong tay kẻ đó nảy mầm. Như vậy, ngay gian sẽ rõ.
Mới vài vòng chạy, đã thấy một chú tiểu
thỉnh thoảng hé bàn tay cầm thóc ra xem.
Quan lập tức cho bắt chú tiểu vì chỉ kẻ có tật
mới hay giật mình. Chú tiểu kia đành nhận
tội.
Theo NGUYỄN ĐỔNG CHI
- Quan án: Chức quan thời xưa chuyện lo việc
điều tra và xét xử
- Vãn cảnh: Đến ngắm cảnh đẹp
- Biện lễ: Lo liệu, sắm sửa lễ vật
- Sư sãi: Những người tu hành ở chùa nói chung
- Đàn: Nền đất đắp cao hoặc đài dựng cao để tế
lễ
- Chạy đàn: Nghi lễ chạy quanh đàn cúng
Bài văn Phân xử tài tình được chia
làm 2 phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “...cúi đầu nhận
lỗi”: Quan án phân xử vụ hai người
đàn bà tranh nhau tấm vải
- Phần 2: Đoạn còn lại: Quan án phân
xử vụ mất trộm tiền trong chùa.
Câu 1: Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan
phân xử việc gì ?
Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan phân xử
việc mình bị mất cắp vải. Người nọ tố cáo người kia
lấy trộm vải của mình và nhờ quan phân xử.
Câu 2
Quan án đã dùng những biện pháp nào để tìm ra
người lấy cắp tấm vải ? Vì sao quan cho rằng người
không khóc chính là người lấy cắp ?
Câu 2: Quan án đã dùng những biện pháp nào để tìm ra
người lấy cắp tấm vải ? Vì sao quan cho rằng người không
khóc chính là người lấy cắp ?
Để tìm ra người lấy cắp, quan án dùng nhiều cách khác
nhau:
- Cho đòi người làm chứng nhưng không có ai làm
chứng
- Cho lính về nhà họ xem nhưng cũng không tìm được
chứng cứ gì.
Sai lính xé tấm vải làm hai cho mỗi người một mảnh.
Thấy một trong hai bật khóc, quan sai lính trả tấm vải
cho người ấy rồi thét trói người kia.
Quan cho rằng người không khóc chính là người lấy
cắp vì quan hiểu người tự tay làm ra tấm vải vất vả, cực
nhọc mới đau xót, bật khóc khi tấm vải bị xé. Còn
người dửng dưng khi tấm vải bị xé không phải là người
đã đổ mồ hôi công sức dệt nên tấm vải.
Câu 3: Kể lại cách quan án tìm kẻ lấy trộm tiền nhà chùa.
Để tìm kẻ lấy trộm tiền nhà chùa, quan án đã làm các việc
như sau:
- Cho gọi hết sư vãi, kẻ ăn người ở trong chùa ra, giao cho
mỗi người một nắm thóc đã ngâm nước, bảo họ cầm nắm
thóc đó vừa chạy đàn vừa niệm Phật.
- Tiến hành dùng đòn tấn công tâm lí: Đức Phật rất thiêng.
Ai gian Phật sẻ làm cho thóc trong tay người đó nảy mầm.
- Đứng quan sát những người chạy đàn, thấy một chú tiểu
thỉnh thoảng hé bàn tay cầm thóc ra xem thì lập tức cho bắt
ngay vì chỉ có kẻ có tật mới hay giật mình.
Câu 4: Vì sao quan án dùng cách trên ? Chọn ý trả lời đúng:
a) Vì tin là thóc trong tay kẻ gian sẽ nảy mầm.
b) Vì biết kẻ gian thường lo lắng nên sẽ lộ mặt.
c) Vì cần có thời gian để thu thập chứng cứ.
Ca ngợi trí
thông minh,
tài xử kiện của
vị quan án.
 







Các ý kiến mới nhất