Tuần 24. Chiếc thuyền ngoài xa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lụa
Ngày gửi: 21h:57' 07-04-2023
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 597
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lụa
Ngày gửi: 21h:57' 07-04-2023
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 597
Số lượt thích:
0 người
Chiếc thuyền ngoài xa
Châu
Nguyễn Minh
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
- NGUYỄN MINH CHÂU-
I, Khái quát chung :
1, Tác giả:
- Nguyễn Minh Châu (1930-1989) quê tỉnh
Nghệ An.
- Ông là nhà văn tiên phong trong thời kì
đổi mới. Năm 2000 được tặng giải thưởng
HCM về văn học nghệ thuật.
- “Ông thuộc trong số những người mở
đường tinh anh và tài năng nhất của văn học
ta hiện nay” ( Nguyên Ngọc).
- Sáng tác tiêu biểu:
+ Trước 1975 viết về đề tài chủ nghĩa anh
hùng trong chiến đấu: Cửa sông, Những vùng
trời khác nhau, Dấu chân người lính...
+ Sau 1975: Chuyển sang cảm hứng nhân sinh
thế sự với ngôn ngữ đời thường, bình dị: Người
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê,
Chiếc thuyền ngoài xa…
2. Tác
phẩm:
Cửa
sông
2, Tác phẩm:
a, Hoàn cảnh ra đời
- Chiếc thuyền ngoài xa, sáng tác tháng 8 năm
1983; khi cuộc chiến tranh chống Mĩ kết thúc
thắng lợi, cả dân tộc đang bước vào giai
đoạn mới In trong tập truyện ngắn cùng tên.Tác
phẩm thể hiện phong cách của tác giả:Tự sự- triết
lí, ngôn ngữ dung dị đời thường.
- Tác phẩm là một trong những sáng tác tiêu biểu
của VHVN giai đoạn 1975- cuối thế kỉ XX
b, Tóm tắt truyện
+ Nghệ sĩ Phùng đến vùng ven biển chụp ảnh lịch...
+ Chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong buổi sớm có sương mù
rất đẹp: mũi thuyền in một nét mơ hồ... ,bóng trẻ con lẫn người lớn...,y
hệt cánh một con dơi...
+ Chiếc thuyền vào bờ, cảnh tượng kinh ngạc đã diễn ra: người chồng
đánh vợ dã man, người vợ cam chịu, đứa con vì bảo vệ mẹ đã đánh lại
bố...
+ Phùng xông vào can thiệp...
+ Người đàn bà được mời đến toà án huyện, chánh án Đẩu khuyên bà ta
bỏ chồng, chị ta xin không bỏ người chồng đó, chị kể về đời mình...
+ Đẩu gặp người đàn ông giáo dục...
+ Trong rất nhiều tấm ảnh về cảnh biển, tấm ảnh về chiếc thuyền ngoài
xa được trưởng phòng chọn làm bộ lịch cho tháng 7 năm sau.
Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một
vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh đã từng chiến đấu) để
chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục
kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời
cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển
sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc
hết mức khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh một gã chồng
vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ
mẹ đã đánh trả lại cha mình. Những ngày sau, cảnh tượng đó lại
tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp... Theo lời mời
của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng), người đàn
bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người phụ nữ ấy đã từ
chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng
vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải
thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ
sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền
và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ
đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn
lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam
c. Tình huống truyện
- Tình huống: một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng ven
biển miền Trung để chụp một tấm ảnh về cảnh biển buổi
sớm có sương. Tại đây, anh đã phát hiện và chụp được
một cảnh tượng “trời cho” - đó là cảnh một chiếc thuyền
ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương.
Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, người nghệ sĩ đã chứng
kiến cảnh một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết
sức dã man. Ba hôm sau, cảnh tượng ấy lại diễn ra,
người đàn bà được mời đến tòa án huyện, tại đây,
người nghệ sĩ lắng nghe câu chuyện về cuộc đời của
người đàn bà hàng chài kể lại và đó như một lời giải
thích vì sao chị ta không bỏ chồng dù người chồng tàn
bạo.
Nhận xét:
-Đây là một “tình huống nhận thức”, có ý nghĩa khám phá, phát
hiện về chân lí đời sống, chân lí nghệ thuật. Nghệ sĩ Phùng
choáng ngợp trước vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh.Người nghệ sĩ
kinh ngạc khi chứng kiến người đàn ông đánh vợ dã man trên bãi
biển. Phùng đã phát hiện sau cảnh đẹp như mơ kia là những
ngang trái, nghịch lí của đời thường
Tình huống nhận thức, khám phá trước một hiện tượng đầy
nghịch lí của cuộc sống.
Tình huống truyện, thể hiện cái nhìn đa chiều về cuộc sống.
Chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng đã hiểu ra nhiều điều về con
người, cuộc sống khi chứng kiến câu chuyện và tiếp xúc với
người đàn bà hàng chài.Từ tình huống truyện, tác giả đã đặt ra
vấn đề “đôi mắt”, cách nhìn đời, nhìn người trong cuộc sống.
II, ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1, Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Câu hỏi thảo luận:
Nhóm 1: Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là
gì? Tìm các chi tiết tiêu biểu miêu tả phát hiện ấy?
Nhóm 2: Những cảm nhận, suy nghĩ và tâm trạng của nghệ sĩ
nhiếp ảnh Phùng trước phát hiện đó như thế nào?
Nhóm 3: Phát hiện thứ hai của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là
gì? Anh đã chứng kiến điều gì đang xảy ra ở gia đình hàng
chài?
Nhóm 4: Anh có thái độ như thế nào trước những gì diễn ra ở
gia đình hàng chài?
1, Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
a, Phát hiện thứ nhất đầy thơ mộng của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh.
- Cảnh chiếc thuyền ngoài xa trên biển trong buổi sớm mờ sương:
+ “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng
như sữa…
+Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng…
+ Tất cả khung cảnh ấy…y hệt cánh một con dơi…
- Cảm nhận: Một bức tranh nghệ thuật đẹp tuyệt đỉnh, thơ mộng:
+ “Một
cảnh đắt trời cho”.
+ Một vẻ đẹp đơn giản, toàn bích từ đường nét đến màu sắc đều hài
hoà.
+ Nó như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ.
- Tâm trạng: Người nghệ sĩ bối rối ,xúc động, sung sướng, trái tim
như có cái gì bóp thắt vào, tâm hồn trở nên trong trẻo, tinh khôi, hạnh
phúc, khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, toàn mĩ, tâm hồn
thăng hoa→ Cái đẹp chính là đạo đức.
-Ý nghĩa của phát hiện thứ nhất:
→ Thể hiện quan niệm của người nghệ sĩ về nghệ thuật:
+ Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh” chính là sự giản dị, tự
nhiên.
+ “Cái đẹp là đạo đức”, có tác dụng “thanh lọc”, khiến
con người trở nên cao khiết, thánh thiện.
b, Phát hiện thứ hai đầy nghịch lí
- Chứng kiến: Bạo lực trong gia đình hàng chài:
+ Người đàn ông đánh đập vợ một cách tàn bạo: dùng chiếc thắt
lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc,
nguyền rủa…
+ Người đàn bà cam chịu “ không hề kêu một tiếng, không chống
trả, cũng không tìm cách chạy trốn”.
+ Thằng Phác: lao tới, nhảy xổ vào lão đàn ông, bị hai cái tát, ngã
dúi xuống đất.
- Thái độ : Kinh ngạc, sững sờ, đau đớn, xót xa, không ngờ đằng
sau cái vẻ đẹp diệu kì của tạo hoá lại là bi kịch của cuộc đời, là biểu
hiện của cái xấu, cái ác.
Nghệ thuật thơ mộng, đẹp đẽ
><
Cuộc đời trần trụi
Ý nghĩa của phát hiện thứ hai:
→ Thể hiện quan niệm về cuộc đời: hiện thực đầy gai góc,
gồ ghề, ngang trái và đối lập hoàn toàn với vẻ đẹp tuyệt
bích, bình yên của bức ảnh nghệ thuật.
*Đánh giá:
Qua hai phát hiện, tác giả đã gửi gắm:
-Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng
nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập,
những mâu thuẫn: đẹp- xấu, thiện- ác.
-Người nghệ sĩ phải tìm hiểu cuộc đời trong mối quan hệ
đa chiều.
-Hai phát hiện mang tính khám phá, nhận thức về
nghệ thuật và cuộc sống của nghệ sĩ Phùng. Đó là
mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
- Cách nhìn nhận, đánh giá về cuộc đời: Chỉ khi có
cái nhìn sâu sắc, đa chiều, chúng ta mới phát hiện
được những nghịch lí cùng sự khuất lấp của cuộc
sống phức tạp.
- Quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính
không phải là nghệ thuật tô hồng cuộc sống.
Luyện tập: Dựa vào bài học, hoàn thành phát biểu sau
đây của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “ Nhà văn không có
quyền nhìn sự vật một cách đơn giản và nhà văn cần phấn
đấu để…….vào các tầng sâu lịch sử”
a, đưa vẻ đẹp của cuộc đời
b, đào xới bản chất của con người
c, đưa cái xấu, cái ác
d, đưa cái chân, cái thiện
3. Người đàn bà hàng chài
a.Số phận bất hạnh:
- Không có tên riêng: Tác giả không đặt cho chị một tên riêng
nào mà gọi chị một cách phiếm định là “người đàn bà”. Nhà văn
cố tình mờ hoá tên tuổi của chị để tô đậm một số phận.
- Ngoại hình xấu xí: trạc 40 tuổi, mặt rỗ…→ những vất vả, lam lũ in
lên hình dáng, .
- Nỗi bất hạnh của chị
+ Vì xấu xí nên không ai thèm lấy chị lỡ lầm và có mang với một
anh hàng chài.
+ Cuộc sống vất vả, nghèo khổ,thuyền chật, lại đông con, những
khi biển động, hàng tháng “cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây
xương rồng chấm muối luộc”.
+ Sống cam chịu, nhẫn nhục: thường xuyên bị chồng đánh đập,
hành hạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng
chị không hề chống trả hay trốn chạy.
+(Lí do chị được mời đến toà án huyện ) Quen sống với môi
trường sông nước nên khi đến toà án chị cảm thấy lạ lẫm và “sợ
sệt”, “lúng túng”, “tìm đến một góc tường để ngồi”, “cố thu người
lại”, “cúi mặt xuống”…thay đổi cách xưng hô. (con-quý toà, chị - các
chú)
Tác giả khắc hoạ thật ấn tượng về người đàn bà một đời nhọc
nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng.
b. Vẻ đẹp tâm hồn của chị:
- Yêu thương con tha thiết:
+ Ban đầu chị bị chồng đánh ở dưới thuyền, sau đó, chị xin với
lão đưa chị lên bờ mà đánh; trước khi bị chồng đánh, chị
ngước mắt về phía chỗ chiếc thuyền đậu… chị không sợ đòn mà
chỉ sợ các con thấy cảnh tượng đau xót sẽ làm thương tổn
những trái tim ngây thơ.
+ Khi thằng Phác bênh chị đánh trả lại người cha, hình như lúc
ấy chị mới cảm thấy đau đớn, gọi “Phác, con ơi” rồi “chắp tay vái
lấy vái để” nó, rồi “ôm chầm lấy” nó “Thằng nhỏ … như một viên
đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ xuyên qua tâm hồn người
-> Bà cảm thấy đau đớn vì rốt cuộc đã không sao tránh được cho
con cái khỏi bị tổn thương .Đằng sau cái vái lạy đó là chị muốn
đứa con đừng làm những điều đáng tiếc với cha mình, là cái lẽ
đời mà chị muốn cho con hiểu.
+ Không muốn ly hôn, chấp nhận bị đánh đập, hành hạ để nuôi
con khôn lớn: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi
con cho đến khi khôn lớn (…) Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải
sống cho con chứ không thể sống cho mình (…) được!”
- Hiểu nguyên nhân làm nên sự tha hoá nhân cách của người
chồng (thấu hiểu lẽ đời), giàu lòng vị tha, đức hi sinh
+ Khi Đẩu khuyên chị ly hôn, “chị chắp tay vái lia lịa” và nói “Con
lạy quý toà… quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng
được, đừng bắt con bỏ nó…”. Bởi chị hiểu chính nghèo khổ, con
cái nheo nhóc, không gian sống tù đọng là nguyên nhân biến
một anh cục tính hiền lành thành gã đàn ông thô bạo, dã man.
+ Chị thấm thía, thấu hiểu nguyên căn những trận đòn vũ phu
của người chồng. Chị nhận mọi lỗi lầm về mình với tấm lòng vị
tha, bao dung
“ giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc
thuyền rộng hơn…” , “… cái lỗi chính là đám đàn bà ở
thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”
+Chị sống vì những đứa con, sống cho con, sống vì
người khác, chị đâu sống cho riêng mình
->Chị nhìn người chồng của mình bằng cái nhìn đa diện,
nhiều chiều. Đó vừa là thủ phạm, nguyên nhân gây ra
mọi nỗi đau khổ, vừa là nạn nhân đáng thương cần
được thông cảm.Người đàn bà nhìn nhận chồng mình toàn
diện sâu sắc hơn. Người đàn bà thô vụng, xấu xí và khốn
khổ ấy luôn tìm cách lí giải hành vi của chồng mình để
giữ gìn, để che chắn cái gia đình khốn cùng của mình
trước sự chỉ trích rất đúng của những người khác.
-Trong đau khổ, chị vẫn chắt lọc niềm vui để sống:
+Chị nói về những lần vui vẻ hiếm hoi của gia đình: “ở trên
thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận,
vui vẻ” hay “vui nhất là ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn
no”. Nói về những điều đó “mặt chị ửng sáng lên như một nụ
cười”…
+Chị đánh đổi mọi giá để không phải bỏ lão chồng vũ phu bởi gã
chồng là chỗ dựa quan trọng trong cuộc đời người đàn bà hàng chài nhất
là khi biển động. Chị cần hắn để nuôi con, chị đâu sống cho riêng mình,
còn phải sống vì chúng nữa. Vả lại cũng có lúc sống hoà thuận, vui vẻ…
Khi nghe chánh án Đẩu chủ trương hoà thuận, chị thay đổi cách xưng hô,
khuôn mặt chị chợt ửng sáng lên như một nụ cười”
=> Hạnh phúc của người đàn bà khốn khổ này cũng chính là niềm
hạnh phúc thật lạ lùng và khó hiểu với những người như Phùng,
như Đẩu. Trong vất vả, nhọc nhằn, đau đớn, người đàn bà vẫn
tìm thấy, vẫn chắt chiu được những niềm vui ít ỏi, niềm vui lấp
lánh trong âm thầm, nhẫn nhịn, chịu đựng, hi sinh - Đó là bản
chất tốt đẹp của “NHỮNG BÀ MẸ”
Tóm lại
- Cuộc đời bất hạnh nhưng là người mẹ thương con sâu sắc, hi
sinh chịu đựng, nhẫn nhục vì đàn con; cảm thông thấu hiểu sự
bế tắc của chồng; là người biết chắt chiu hạnh phúc nhỏ nhoi
của đời thường
-Thấu hiểu lẽ đời, cảm thông cho chồng. Bóng dáng của người
phụ nữ VN nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi
sinh. Dù trong hoàn cảnh đói nghèo, lạc hậu, con người vẫn khát
khao hạnh phúc bình dị.
-Không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự việc,
hiện tượng của đời sống. Phải tìm hiểu những nguyên nhân
sâu xa dẫn đến những hành vi của con người trước khi kết luận
về tính cách hay phán xét họ.
→ Phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều
4. Nghệ sĩ Phùng
Khái quát: Nhân vật tư tưởng, hình bóng của tác giả, trước kia là người
lính trong chiến tranh, nay là nghệ sĩ nhiếp ảnh
a. Phùng là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề
- Anh đã phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào.
- Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh
ưng ý.
-> Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì
công việc.
b. Phùng là một nghệ sĩ tài năng, là người nghệ sĩ thật sự rung cảm
trước cái đẹp::
- Anh đã phát hiện bức tranh thiên nhiên giàu giá trị nghệ thuật:
+ Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như “bức tranh mực
tàu của một danh hoạ thời cổ”.
+ “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như
sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”.
+ “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên
chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.
+ Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai
chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh
sáng.
-> Phùng là người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp. Anh thực sự biết quan sát
bằng đôi mắt tinh tường, "nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà
-Cái đẹp đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn
mình.
+ Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo
đức” .
+ Và tưởng chính mình vừa khám phá “cái chân lí của sự hoàn thiện,
khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn".
-> Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm
nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời. Trong hình
ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm
nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên
trong trẻo, tinh khôi.
Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang
cái đẹp đến cho đời.
c.Phùng là người có tấm lòng nhân hậu:
- Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ
đẹp như mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông
thô kệch, dữ dằn, đánh vợ như một phương cách để giải tỏa
những uất ức, khổ đau... Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn
bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất
ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
- Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm
ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy
nhào tới”. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão
đàn ông) đã kịp tới để che chở cho người mẹ .
- Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể
hiện. Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc
ác…Hành động của Phùng cho thấy anh không thể làm ngơ
trước sự bạo hành của cái ác. Anh căm ghét mọi sự áp bức, bất
công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ công bằng
-> Hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp
trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn
thiện” mà nó là những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại
trong cuộc sống.
d. Phùng luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:
- Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh
người đàn ông đánh vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà ở
toà án (vì tình thương con, vì ý thức phải sống cho con, vì mong nuôi
con cho đến khi khôn lớn mà chị chấp nhận gánh lấy cái khổ), Phùng
nhận thức rất nhiều điều qua các cảnh ấy.
+ Đằng sau bức ảnh như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời
cổ” là những điều nghịch lý trong cuộc sống đời thường với biết bao
số phận, bao mảnh đời éo le.
+ Để Phùng chứng kiến hành động vũ phu của người chồng, Nguyễn
Minh Châu muốn phê phán tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng
tối của xã hội đương đại.
+ Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự
xấu xí, nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao
hạnh phúc bình dị đời thường của người phụ nữ còn đói nghèo,
lạc hậu.
+ Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người
đàn bà hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh
“chiếc thuyền ngoài xa” chính là quá trình tự ý thức của Phùng để
hoàn thiện nhân cách của mình.
Truyện không chỉ giàu giá trị nhân đạo mà còn mang đến một
bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:
phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều mới phát hiện ra bản chất
thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
e.Nhân vật Phùng thể hiện quan niệm về nghệ thuật của nhà văn
Nguyễn Minh Châu:
Qua việc khám phá bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” của Phùng, tác giả
muốn đề ra một quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính bao giờ
cũng bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống; người nghệ sĩ
phải có tài năng, có sự lao động miệt mài và phải có sự xúc động trước
cái đẹp thì mới sáng tạo được những tác phẩm có giá trị.
5, Người đàn ông độc ác
a.Khái quát về sự xuất hiện của nhân vật: Trong tác phẩm, người đàn
ông hàng chài chỉ xuất hiện hai lần: lần thứ nhất, dưới đôi mắt của Phùng
khi chứng kiến cảnh đánh vợ tàn bạo của hắn và lần thứ hai là qua lời kể
của người đàn bà (vợ hắn) ở tòa án huyện mà ta biết về lai lịch và
nguyên nhân của sự bạo hành kia.
b. Lai lịch và ngoại hình nhân vật: Trước 1975, người đàn ông này
không đi lính ngụy mà trốn quân dịch cho nên cuộc sống của hắn nghèo
khổ, túng quẫn và gặp người đàn bà hàng chài nên vợ nên chồng.
Lúc bấy giờ, anh ta “là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành
lắm”,
-Ngoại hình: Ngoại hình thô kệch bộc lộ nét dữ dằn: lưng cong và
rộng như một chiếc thuyền, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, hai mắt
độc dữ…→ cuộc sống đói nghèo, lam lũ đã hằn in lên dáng vẻ khắc
khổ của người đàn ông
-Trước kia là anh con trai hiền lành, cục tính, không bao giờ đánh vợ
con. Chính hoàn cảnh sống đó đã làm cho ông ta thay đổi tâm tính trở
thành kẻ vũ phu và coi cái việc đánh vợ như một sự giải tỏa nỗi ẩn ức,
bế tắc trong lòng mình
c.Lời nói và hành động bạo hành của người đàn ông hàng chài:
- Lời nói cộc cằn, hung dữ như quát đối với vợ: “Cứ ngồi yên đấy.
Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”. Đó là lời nói của một kẻ gia
trưởng tự cho mình cái quyền được hành hạ người khác, cứ mở miệng
ra là đòi giết, là muốn người ta chết…Đó đâu phải là lời của một con
người với một con người mà hình như đó là âm thanh của một loài dã
thú
- Hành động đánh vợ của gã đàn ông diễn ra một cách thô bạo “lão rút
trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa….chẳng
nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy…quật tới tấp vào lưng
người đàn bà”. Hành động đánh vợ của gã đàn ông này quá tàn
nhẫn,hành động hung ác, thú tính như đối với một kẻ thù của thời
trung cổ…
- Đi đôi với hành động trên là những lời chửi mắng độc địa của ông ta
về người vợ “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken
két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ
đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông
nhờ!”. Đó là lời của kẻ thất học, vô văn hóa đang khốn cùng vì gánh
nặng của vợ “mày chết đi”, vì gánh nặng của con “chúng mày chết hết
đi” đè lên đôi vai, biến ông ta trở thành kẻ độc ác, ích kỉ, tàn nhẫn
ngay cả đối với những người thân yêu nhất của mình.
- Sự tàn độc của gã đàn ông thuyền diễn như cơm bữa: “ Ba ngày một
trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng
nào như hắn”.
Hành động bạo hành của ông ta đâu phải chỉ có đối với người
đàn bà khốn khổ (vợ hắn) mà còn đối với những đứa trẻ tội
nghiệp (con hắn): “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng
nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai
cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát”. Đó đâu phải
là hành động của một người cha có văn hóa biết giáo dục con cái
mà là hành động man rợ của một con thú không có tính người.
Chính vì thế, nhà văn đã có một so sánh rất hay về gã đàn ông
thuyền chài này: “nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn
nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu
trên bãi cát hoang vắng”.
Tóm lại
-Nhân vật người đàn ông thuyền chài vừa tàn nhẫn nhưng cũng
vừa đau đớn, xót xa của một phận người khốn khổ. Ông ta cũng
là một kẻ đáng thương!
-Người đàn ông là nạn nhân của đói nghèo, lam lũ nên trở thành
kẻ độc ác, hành hạ, thô bạo với vợ con để giải toả tâm lý và nỗi khổ
đời thường. Nhân vật này trở thành điển hình cho bạo lực gia đình
cần lên án. Qua đó tác giả thể hiện cái nhìn của mình về đời sống:
đói nghèo góp phần làm tha hoá nhân cách của con người.
6, Chánh án Đẩu
- Đẩu khuyên người đàn bà nên từ bỏ chồng→ Là người tốt, đầy
thiện chí nhưng lại đơn giản trong cách nghĩ. Anh khuyên người
đàn bà bỏ chồng là xong, mà không biết bà cần một chỗ dựa kiếm
sống để nuôi con khôn lớn.
- Vị “bao công” cứng nhắc, sau đó ngộ ra nhiều điều. Nếu luật
pháp dựa trên sách vở không thể giải quyết được nghịch lí của cuộc
sống. Công lí phải bắt nguồn từ nguyện vọng của quần chúng, phải
có giải pháp thiết thực nâng cao đời sống người dân, giải quyết tận
gốc bi kịch.
7. Các nhân vật khác
a. Chị thằng Phác:
Một cô gái yếu ớt mà can đảm (….). Cô bé là điểm tựa
vững chắc của người mẹ đáng thương, biết chăm sóc, lo toan
khi mẹ phải đến tòa án huyện.
b. Thằng Phác:
Rất thương mẹ. Phác thương mẹ theo kiểu một đứa con
còn nhỏ, theo cái cách một đứa con trai vùng biển: nó “lặng lẽ
đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như
muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ
chằng chịt”, “nó tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền
rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”.
8.Nhan đề văn bản
- Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là biểu tượng của nghệ thụât, đó
là thứ nghệ thụât đạt tới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức mà
chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình được thanh
lọc.
- Chiếc thuyền khi về gần đó lại là hiện thân của cuộc đời lam lũ,
khó nhọc, thậm chí của những éo le, trái ngang và nghịch lí trong
cuộc sống.
- Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng cuộc đời
thì lại rất gần. Người nghệ sĩ cần có một khoảng cách nhất định để
khám phá và thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thụât nhưng
lại cũng cần bám sát cuộc đời để phát hiện ra những sự thật của
cuộc sống.
-Nhan đề là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật !
9.Tấm ảnh trong “bộ lịch năm ấy”.
-Mỗi lần nhìn kĩ vào bức ảnh đen trắng, người nghệ sĩ thấy “hiện
lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai
” (đó là chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời, cũng là biểu
tượng của nghệ thuật). Và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng
thấy “người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh” (đó là hiện
thân của những lam lũ, khốn khó, là sự thật cuộc đời).
-Ý nghĩa: Vẻ đẹp nghệ thuật hài hoà trong vẻ đẹp cuộc đời qua bóng
dáng người đàn bà;Nghệ thuật chân chính không thể tách rời, thoát
li cuộc sống;Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời
III, Tổng kết
1, Nghệ thuật
- Tình huống truyện được xây dựng trên tinh thần của sự mâu thuẫn,
tương phản .Tạo tình huống mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời
sống:
+ Phùng phát hiện ra vẻ đẹp của “chiếc thuyền ngoài xa” trên biển mờ
sương.
+ Phùng lại phát hiện ra tiếp theo sau đó là sự thật tàn nhẫn bên trong
chiếc thuyền.
+ Phùng lại phát hiện ra tiếp theo sau đó là sự thật tàn nhẫn bên trong
chiếc thuyền.
+ Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã nói rõ nguyên
nhân của “ nghịch lí” đó.
Các tình huống truyện cứ thế, nối tiếp nhau trong mạch truyện
và được Nguyễn Minh Châu đẩy lên cao trào, ngày càng xoáy
sâu hơn nữa để phát hiện tính cách con người, phát hiện sự thật
cuộc đời.
- Hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng
- Giọng văn nhỏ nhẹ, thấm thía
- Nhân vật người kể chuyện
- Vẻ đẹp văn xuôi toát ra từ tình yêu thương con người…
- Ngôn ngữ của người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật Phùng,
sự hóa thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra
một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá
đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết
2, Nội dung
- Một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con
người: một cách nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản
chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
- Trái tim nhân hậu của nhà văn
3.Giá trị nhân đạo của tác phẩm:
- Qua hình ảnh người đàn bà, tác giả thể hiện sự quan tâm đến
những con người bất hạnh và khẳng định những phẩm chất tốt
đẹp của họ: Dù khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn khát khao
hạnh phúc bình dị, khát khao cuộc sống no đủ, bình yên.
-Tác giả phê phán nạn bạo hành trong gia đình – một mảng tối
của xã hội đương đại.
4.Chủ đề
Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc
của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật chân chính
phải luôn gắn với cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận
cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc. Tác phẩm
cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia
đình và hậu quả khôn lường của nó.
5. Kêt luận
Từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật về sự thật cuộc đời
đằng sau bức ảnh, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa mang
đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và:
một cách nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật
sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Cách khắc họa nhân vật,
xây dựng cốt truyện, sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo
đã góp phần làm nổi bật chủ đề - tư tưởng của tác phẩm.
Luyện tập:
Quan niệm nghệ thuật của nhà văn nào dưới đây có điểm khác
cơ bản so với quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh
Châu trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa:
A. Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật
không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau
khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than ( Nam Cao)
B.Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những
người cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết phải là sự thực ở
đời ( Vũ Trọng Phụng)
C. Nghệ thuật không phải là sự mô tả thực tại có thực mà là sự
tìm tòi chân lí, lý tưởng. ( G.Xăng)
D. Văn học là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không
vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát , cũng là đích đi tới
của văn học. ( Tố Hữu)
PHÙNG – NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH
Bức ảnh được chọn
Chánh
án
Phát hiện cuả Phùng
Cảnh đẹp
đầy thơ mộng
Cảnh bạo lực
trong gia đình
thuyền chài
Đẩu
Câu chuyện
của người
đàn bà
ở toà án huyện
Cái nhìn đa diện nhiều chiều về cuộc sống và con người
Giờ học đã hết, xin trân trọng cảm ơn
các thầy cô giáo và các em học sinh!
Châu
Nguyễn Minh
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
- NGUYỄN MINH CHÂU-
I, Khái quát chung :
1, Tác giả:
- Nguyễn Minh Châu (1930-1989) quê tỉnh
Nghệ An.
- Ông là nhà văn tiên phong trong thời kì
đổi mới. Năm 2000 được tặng giải thưởng
HCM về văn học nghệ thuật.
- “Ông thuộc trong số những người mở
đường tinh anh và tài năng nhất của văn học
ta hiện nay” ( Nguyên Ngọc).
- Sáng tác tiêu biểu:
+ Trước 1975 viết về đề tài chủ nghĩa anh
hùng trong chiến đấu: Cửa sông, Những vùng
trời khác nhau, Dấu chân người lính...
+ Sau 1975: Chuyển sang cảm hứng nhân sinh
thế sự với ngôn ngữ đời thường, bình dị: Người
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê,
Chiếc thuyền ngoài xa…
2. Tác
phẩm:
Cửa
sông
2, Tác phẩm:
a, Hoàn cảnh ra đời
- Chiếc thuyền ngoài xa, sáng tác tháng 8 năm
1983; khi cuộc chiến tranh chống Mĩ kết thúc
thắng lợi, cả dân tộc đang bước vào giai
đoạn mới In trong tập truyện ngắn cùng tên.Tác
phẩm thể hiện phong cách của tác giả:Tự sự- triết
lí, ngôn ngữ dung dị đời thường.
- Tác phẩm là một trong những sáng tác tiêu biểu
của VHVN giai đoạn 1975- cuối thế kỉ XX
b, Tóm tắt truyện
+ Nghệ sĩ Phùng đến vùng ven biển chụp ảnh lịch...
+ Chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong buổi sớm có sương mù
rất đẹp: mũi thuyền in một nét mơ hồ... ,bóng trẻ con lẫn người lớn...,y
hệt cánh một con dơi...
+ Chiếc thuyền vào bờ, cảnh tượng kinh ngạc đã diễn ra: người chồng
đánh vợ dã man, người vợ cam chịu, đứa con vì bảo vệ mẹ đã đánh lại
bố...
+ Phùng xông vào can thiệp...
+ Người đàn bà được mời đến toà án huyện, chánh án Đẩu khuyên bà ta
bỏ chồng, chị ta xin không bỏ người chồng đó, chị kể về đời mình...
+ Đẩu gặp người đàn ông giáo dục...
+ Trong rất nhiều tấm ảnh về cảnh biển, tấm ảnh về chiếc thuyền ngoài
xa được trưởng phòng chọn làm bộ lịch cho tháng 7 năm sau.
Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một
vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh đã từng chiến đấu) để
chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục
kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời
cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển
sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc
hết mức khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh một gã chồng
vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ
mẹ đã đánh trả lại cha mình. Những ngày sau, cảnh tượng đó lại
tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp... Theo lời mời
của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng), người đàn
bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người phụ nữ ấy đã từ
chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng
vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải
thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ
sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền
và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ
đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn
lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam
c. Tình huống truyện
- Tình huống: một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng ven
biển miền Trung để chụp một tấm ảnh về cảnh biển buổi
sớm có sương. Tại đây, anh đã phát hiện và chụp được
một cảnh tượng “trời cho” - đó là cảnh một chiếc thuyền
ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương.
Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, người nghệ sĩ đã chứng
kiến cảnh một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết
sức dã man. Ba hôm sau, cảnh tượng ấy lại diễn ra,
người đàn bà được mời đến tòa án huyện, tại đây,
người nghệ sĩ lắng nghe câu chuyện về cuộc đời của
người đàn bà hàng chài kể lại và đó như một lời giải
thích vì sao chị ta không bỏ chồng dù người chồng tàn
bạo.
Nhận xét:
-Đây là một “tình huống nhận thức”, có ý nghĩa khám phá, phát
hiện về chân lí đời sống, chân lí nghệ thuật. Nghệ sĩ Phùng
choáng ngợp trước vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh.Người nghệ sĩ
kinh ngạc khi chứng kiến người đàn ông đánh vợ dã man trên bãi
biển. Phùng đã phát hiện sau cảnh đẹp như mơ kia là những
ngang trái, nghịch lí của đời thường
Tình huống nhận thức, khám phá trước một hiện tượng đầy
nghịch lí của cuộc sống.
Tình huống truyện, thể hiện cái nhìn đa chiều về cuộc sống.
Chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng đã hiểu ra nhiều điều về con
người, cuộc sống khi chứng kiến câu chuyện và tiếp xúc với
người đàn bà hàng chài.Từ tình huống truyện, tác giả đã đặt ra
vấn đề “đôi mắt”, cách nhìn đời, nhìn người trong cuộc sống.
II, ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1, Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Câu hỏi thảo luận:
Nhóm 1: Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là
gì? Tìm các chi tiết tiêu biểu miêu tả phát hiện ấy?
Nhóm 2: Những cảm nhận, suy nghĩ và tâm trạng của nghệ sĩ
nhiếp ảnh Phùng trước phát hiện đó như thế nào?
Nhóm 3: Phát hiện thứ hai của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là
gì? Anh đã chứng kiến điều gì đang xảy ra ở gia đình hàng
chài?
Nhóm 4: Anh có thái độ như thế nào trước những gì diễn ra ở
gia đình hàng chài?
1, Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
a, Phát hiện thứ nhất đầy thơ mộng của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh.
- Cảnh chiếc thuyền ngoài xa trên biển trong buổi sớm mờ sương:
+ “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng
như sữa…
+Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng…
+ Tất cả khung cảnh ấy…y hệt cánh một con dơi…
- Cảm nhận: Một bức tranh nghệ thuật đẹp tuyệt đỉnh, thơ mộng:
+ “Một
cảnh đắt trời cho”.
+ Một vẻ đẹp đơn giản, toàn bích từ đường nét đến màu sắc đều hài
hoà.
+ Nó như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ.
- Tâm trạng: Người nghệ sĩ bối rối ,xúc động, sung sướng, trái tim
như có cái gì bóp thắt vào, tâm hồn trở nên trong trẻo, tinh khôi, hạnh
phúc, khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, toàn mĩ, tâm hồn
thăng hoa→ Cái đẹp chính là đạo đức.
-Ý nghĩa của phát hiện thứ nhất:
→ Thể hiện quan niệm của người nghệ sĩ về nghệ thuật:
+ Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh” chính là sự giản dị, tự
nhiên.
+ “Cái đẹp là đạo đức”, có tác dụng “thanh lọc”, khiến
con người trở nên cao khiết, thánh thiện.
b, Phát hiện thứ hai đầy nghịch lí
- Chứng kiến: Bạo lực trong gia đình hàng chài:
+ Người đàn ông đánh đập vợ một cách tàn bạo: dùng chiếc thắt
lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc,
nguyền rủa…
+ Người đàn bà cam chịu “ không hề kêu một tiếng, không chống
trả, cũng không tìm cách chạy trốn”.
+ Thằng Phác: lao tới, nhảy xổ vào lão đàn ông, bị hai cái tát, ngã
dúi xuống đất.
- Thái độ : Kinh ngạc, sững sờ, đau đớn, xót xa, không ngờ đằng
sau cái vẻ đẹp diệu kì của tạo hoá lại là bi kịch của cuộc đời, là biểu
hiện của cái xấu, cái ác.
Nghệ thuật thơ mộng, đẹp đẽ
><
Cuộc đời trần trụi
Ý nghĩa của phát hiện thứ hai:
→ Thể hiện quan niệm về cuộc đời: hiện thực đầy gai góc,
gồ ghề, ngang trái và đối lập hoàn toàn với vẻ đẹp tuyệt
bích, bình yên của bức ảnh nghệ thuật.
*Đánh giá:
Qua hai phát hiện, tác giả đã gửi gắm:
-Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng
nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập,
những mâu thuẫn: đẹp- xấu, thiện- ác.
-Người nghệ sĩ phải tìm hiểu cuộc đời trong mối quan hệ
đa chiều.
-Hai phát hiện mang tính khám phá, nhận thức về
nghệ thuật và cuộc sống của nghệ sĩ Phùng. Đó là
mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
- Cách nhìn nhận, đánh giá về cuộc đời: Chỉ khi có
cái nhìn sâu sắc, đa chiều, chúng ta mới phát hiện
được những nghịch lí cùng sự khuất lấp của cuộc
sống phức tạp.
- Quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính
không phải là nghệ thuật tô hồng cuộc sống.
Luyện tập: Dựa vào bài học, hoàn thành phát biểu sau
đây của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “ Nhà văn không có
quyền nhìn sự vật một cách đơn giản và nhà văn cần phấn
đấu để…….vào các tầng sâu lịch sử”
a, đưa vẻ đẹp của cuộc đời
b, đào xới bản chất của con người
c, đưa cái xấu, cái ác
d, đưa cái chân, cái thiện
3. Người đàn bà hàng chài
a.Số phận bất hạnh:
- Không có tên riêng: Tác giả không đặt cho chị một tên riêng
nào mà gọi chị một cách phiếm định là “người đàn bà”. Nhà văn
cố tình mờ hoá tên tuổi của chị để tô đậm một số phận.
- Ngoại hình xấu xí: trạc 40 tuổi, mặt rỗ…→ những vất vả, lam lũ in
lên hình dáng, .
- Nỗi bất hạnh của chị
+ Vì xấu xí nên không ai thèm lấy chị lỡ lầm và có mang với một
anh hàng chài.
+ Cuộc sống vất vả, nghèo khổ,thuyền chật, lại đông con, những
khi biển động, hàng tháng “cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây
xương rồng chấm muối luộc”.
+ Sống cam chịu, nhẫn nhục: thường xuyên bị chồng đánh đập,
hành hạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng
chị không hề chống trả hay trốn chạy.
+(Lí do chị được mời đến toà án huyện ) Quen sống với môi
trường sông nước nên khi đến toà án chị cảm thấy lạ lẫm và “sợ
sệt”, “lúng túng”, “tìm đến một góc tường để ngồi”, “cố thu người
lại”, “cúi mặt xuống”…thay đổi cách xưng hô. (con-quý toà, chị - các
chú)
Tác giả khắc hoạ thật ấn tượng về người đàn bà một đời nhọc
nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng.
b. Vẻ đẹp tâm hồn của chị:
- Yêu thương con tha thiết:
+ Ban đầu chị bị chồng đánh ở dưới thuyền, sau đó, chị xin với
lão đưa chị lên bờ mà đánh; trước khi bị chồng đánh, chị
ngước mắt về phía chỗ chiếc thuyền đậu… chị không sợ đòn mà
chỉ sợ các con thấy cảnh tượng đau xót sẽ làm thương tổn
những trái tim ngây thơ.
+ Khi thằng Phác bênh chị đánh trả lại người cha, hình như lúc
ấy chị mới cảm thấy đau đớn, gọi “Phác, con ơi” rồi “chắp tay vái
lấy vái để” nó, rồi “ôm chầm lấy” nó “Thằng nhỏ … như một viên
đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ xuyên qua tâm hồn người
-> Bà cảm thấy đau đớn vì rốt cuộc đã không sao tránh được cho
con cái khỏi bị tổn thương .Đằng sau cái vái lạy đó là chị muốn
đứa con đừng làm những điều đáng tiếc với cha mình, là cái lẽ
đời mà chị muốn cho con hiểu.
+ Không muốn ly hôn, chấp nhận bị đánh đập, hành hạ để nuôi
con khôn lớn: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi
con cho đến khi khôn lớn (…) Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải
sống cho con chứ không thể sống cho mình (…) được!”
- Hiểu nguyên nhân làm nên sự tha hoá nhân cách của người
chồng (thấu hiểu lẽ đời), giàu lòng vị tha, đức hi sinh
+ Khi Đẩu khuyên chị ly hôn, “chị chắp tay vái lia lịa” và nói “Con
lạy quý toà… quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng
được, đừng bắt con bỏ nó…”. Bởi chị hiểu chính nghèo khổ, con
cái nheo nhóc, không gian sống tù đọng là nguyên nhân biến
một anh cục tính hiền lành thành gã đàn ông thô bạo, dã man.
+ Chị thấm thía, thấu hiểu nguyên căn những trận đòn vũ phu
của người chồng. Chị nhận mọi lỗi lầm về mình với tấm lòng vị
tha, bao dung
“ giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc
thuyền rộng hơn…” , “… cái lỗi chính là đám đàn bà ở
thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”
+Chị sống vì những đứa con, sống cho con, sống vì
người khác, chị đâu sống cho riêng mình
->Chị nhìn người chồng của mình bằng cái nhìn đa diện,
nhiều chiều. Đó vừa là thủ phạm, nguyên nhân gây ra
mọi nỗi đau khổ, vừa là nạn nhân đáng thương cần
được thông cảm.Người đàn bà nhìn nhận chồng mình toàn
diện sâu sắc hơn. Người đàn bà thô vụng, xấu xí và khốn
khổ ấy luôn tìm cách lí giải hành vi của chồng mình để
giữ gìn, để che chắn cái gia đình khốn cùng của mình
trước sự chỉ trích rất đúng của những người khác.
-Trong đau khổ, chị vẫn chắt lọc niềm vui để sống:
+Chị nói về những lần vui vẻ hiếm hoi của gia đình: “ở trên
thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận,
vui vẻ” hay “vui nhất là ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn
no”. Nói về những điều đó “mặt chị ửng sáng lên như một nụ
cười”…
+Chị đánh đổi mọi giá để không phải bỏ lão chồng vũ phu bởi gã
chồng là chỗ dựa quan trọng trong cuộc đời người đàn bà hàng chài nhất
là khi biển động. Chị cần hắn để nuôi con, chị đâu sống cho riêng mình,
còn phải sống vì chúng nữa. Vả lại cũng có lúc sống hoà thuận, vui vẻ…
Khi nghe chánh án Đẩu chủ trương hoà thuận, chị thay đổi cách xưng hô,
khuôn mặt chị chợt ửng sáng lên như một nụ cười”
=> Hạnh phúc của người đàn bà khốn khổ này cũng chính là niềm
hạnh phúc thật lạ lùng và khó hiểu với những người như Phùng,
như Đẩu. Trong vất vả, nhọc nhằn, đau đớn, người đàn bà vẫn
tìm thấy, vẫn chắt chiu được những niềm vui ít ỏi, niềm vui lấp
lánh trong âm thầm, nhẫn nhịn, chịu đựng, hi sinh - Đó là bản
chất tốt đẹp của “NHỮNG BÀ MẸ”
Tóm lại
- Cuộc đời bất hạnh nhưng là người mẹ thương con sâu sắc, hi
sinh chịu đựng, nhẫn nhục vì đàn con; cảm thông thấu hiểu sự
bế tắc của chồng; là người biết chắt chiu hạnh phúc nhỏ nhoi
của đời thường
-Thấu hiểu lẽ đời, cảm thông cho chồng. Bóng dáng của người
phụ nữ VN nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi
sinh. Dù trong hoàn cảnh đói nghèo, lạc hậu, con người vẫn khát
khao hạnh phúc bình dị.
-Không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự việc,
hiện tượng của đời sống. Phải tìm hiểu những nguyên nhân
sâu xa dẫn đến những hành vi của con người trước khi kết luận
về tính cách hay phán xét họ.
→ Phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều
4. Nghệ sĩ Phùng
Khái quát: Nhân vật tư tưởng, hình bóng của tác giả, trước kia là người
lính trong chiến tranh, nay là nghệ sĩ nhiếp ảnh
a. Phùng là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề
- Anh đã phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào.
- Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh
ưng ý.
-> Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì
công việc.
b. Phùng là một nghệ sĩ tài năng, là người nghệ sĩ thật sự rung cảm
trước cái đẹp::
- Anh đã phát hiện bức tranh thiên nhiên giàu giá trị nghệ thuật:
+ Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như “bức tranh mực
tàu của một danh hoạ thời cổ”.
+ “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như
sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”.
+ “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên
chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.
+ Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai
chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh
sáng.
-> Phùng là người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp. Anh thực sự biết quan sát
bằng đôi mắt tinh tường, "nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà
-Cái đẹp đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn
mình.
+ Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo
đức” .
+ Và tưởng chính mình vừa khám phá “cái chân lí của sự hoàn thiện,
khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn".
-> Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm
nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời. Trong hình
ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm
nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên
trong trẻo, tinh khôi.
Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang
cái đẹp đến cho đời.
c.Phùng là người có tấm lòng nhân hậu:
- Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ
đẹp như mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông
thô kệch, dữ dằn, đánh vợ như một phương cách để giải tỏa
những uất ức, khổ đau... Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn
bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất
ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
- Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm
ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy
nhào tới”. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão
đàn ông) đã kịp tới để che chở cho người mẹ .
- Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể
hiện. Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc
ác…Hành động của Phùng cho thấy anh không thể làm ngơ
trước sự bạo hành của cái ác. Anh căm ghét mọi sự áp bức, bất
công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ công bằng
-> Hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp
trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn
thiện” mà nó là những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại
trong cuộc sống.
d. Phùng luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:
- Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh
người đàn ông đánh vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà ở
toà án (vì tình thương con, vì ý thức phải sống cho con, vì mong nuôi
con cho đến khi khôn lớn mà chị chấp nhận gánh lấy cái khổ), Phùng
nhận thức rất nhiều điều qua các cảnh ấy.
+ Đằng sau bức ảnh như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời
cổ” là những điều nghịch lý trong cuộc sống đời thường với biết bao
số phận, bao mảnh đời éo le.
+ Để Phùng chứng kiến hành động vũ phu của người chồng, Nguyễn
Minh Châu muốn phê phán tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng
tối của xã hội đương đại.
+ Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự
xấu xí, nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao
hạnh phúc bình dị đời thường của người phụ nữ còn đói nghèo,
lạc hậu.
+ Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người
đàn bà hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh
“chiếc thuyền ngoài xa” chính là quá trình tự ý thức của Phùng để
hoàn thiện nhân cách của mình.
Truyện không chỉ giàu giá trị nhân đạo mà còn mang đến một
bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:
phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều mới phát hiện ra bản chất
thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
e.Nhân vật Phùng thể hiện quan niệm về nghệ thuật của nhà văn
Nguyễn Minh Châu:
Qua việc khám phá bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” của Phùng, tác giả
muốn đề ra một quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính bao giờ
cũng bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống; người nghệ sĩ
phải có tài năng, có sự lao động miệt mài và phải có sự xúc động trước
cái đẹp thì mới sáng tạo được những tác phẩm có giá trị.
5, Người đàn ông độc ác
a.Khái quát về sự xuất hiện của nhân vật: Trong tác phẩm, người đàn
ông hàng chài chỉ xuất hiện hai lần: lần thứ nhất, dưới đôi mắt của Phùng
khi chứng kiến cảnh đánh vợ tàn bạo của hắn và lần thứ hai là qua lời kể
của người đàn bà (vợ hắn) ở tòa án huyện mà ta biết về lai lịch và
nguyên nhân của sự bạo hành kia.
b. Lai lịch và ngoại hình nhân vật: Trước 1975, người đàn ông này
không đi lính ngụy mà trốn quân dịch cho nên cuộc sống của hắn nghèo
khổ, túng quẫn và gặp người đàn bà hàng chài nên vợ nên chồng.
Lúc bấy giờ, anh ta “là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành
lắm”,
-Ngoại hình: Ngoại hình thô kệch bộc lộ nét dữ dằn: lưng cong và
rộng như một chiếc thuyền, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, hai mắt
độc dữ…→ cuộc sống đói nghèo, lam lũ đã hằn in lên dáng vẻ khắc
khổ của người đàn ông
-Trước kia là anh con trai hiền lành, cục tính, không bao giờ đánh vợ
con. Chính hoàn cảnh sống đó đã làm cho ông ta thay đổi tâm tính trở
thành kẻ vũ phu và coi cái việc đánh vợ như một sự giải tỏa nỗi ẩn ức,
bế tắc trong lòng mình
c.Lời nói và hành động bạo hành của người đàn ông hàng chài:
- Lời nói cộc cằn, hung dữ như quát đối với vợ: “Cứ ngồi yên đấy.
Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”. Đó là lời nói của một kẻ gia
trưởng tự cho mình cái quyền được hành hạ người khác, cứ mở miệng
ra là đòi giết, là muốn người ta chết…Đó đâu phải là lời của một con
người với một con người mà hình như đó là âm thanh của một loài dã
thú
- Hành động đánh vợ của gã đàn ông diễn ra một cách thô bạo “lão rút
trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa….chẳng
nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy…quật tới tấp vào lưng
người đàn bà”. Hành động đánh vợ của gã đàn ông này quá tàn
nhẫn,hành động hung ác, thú tính như đối với một kẻ thù của thời
trung cổ…
- Đi đôi với hành động trên là những lời chửi mắng độc địa của ông ta
về người vợ “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken
két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ
đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông
nhờ!”. Đó là lời của kẻ thất học, vô văn hóa đang khốn cùng vì gánh
nặng của vợ “mày chết đi”, vì gánh nặng của con “chúng mày chết hết
đi” đè lên đôi vai, biến ông ta trở thành kẻ độc ác, ích kỉ, tàn nhẫn
ngay cả đối với những người thân yêu nhất của mình.
- Sự tàn độc của gã đàn ông thuyền diễn như cơm bữa: “ Ba ngày một
trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng
nào như hắn”.
Hành động bạo hành của ông ta đâu phải chỉ có đối với người
đàn bà khốn khổ (vợ hắn) mà còn đối với những đứa trẻ tội
nghiệp (con hắn): “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng
nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai
cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát”. Đó đâu phải
là hành động của một người cha có văn hóa biết giáo dục con cái
mà là hành động man rợ của một con thú không có tính người.
Chính vì thế, nhà văn đã có một so sánh rất hay về gã đàn ông
thuyền chài này: “nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn
nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu
trên bãi cát hoang vắng”.
Tóm lại
-Nhân vật người đàn ông thuyền chài vừa tàn nhẫn nhưng cũng
vừa đau đớn, xót xa của một phận người khốn khổ. Ông ta cũng
là một kẻ đáng thương!
-Người đàn ông là nạn nhân của đói nghèo, lam lũ nên trở thành
kẻ độc ác, hành hạ, thô bạo với vợ con để giải toả tâm lý và nỗi khổ
đời thường. Nhân vật này trở thành điển hình cho bạo lực gia đình
cần lên án. Qua đó tác giả thể hiện cái nhìn của mình về đời sống:
đói nghèo góp phần làm tha hoá nhân cách của con người.
6, Chánh án Đẩu
- Đẩu khuyên người đàn bà nên từ bỏ chồng→ Là người tốt, đầy
thiện chí nhưng lại đơn giản trong cách nghĩ. Anh khuyên người
đàn bà bỏ chồng là xong, mà không biết bà cần một chỗ dựa kiếm
sống để nuôi con khôn lớn.
- Vị “bao công” cứng nhắc, sau đó ngộ ra nhiều điều. Nếu luật
pháp dựa trên sách vở không thể giải quyết được nghịch lí của cuộc
sống. Công lí phải bắt nguồn từ nguyện vọng của quần chúng, phải
có giải pháp thiết thực nâng cao đời sống người dân, giải quyết tận
gốc bi kịch.
7. Các nhân vật khác
a. Chị thằng Phác:
Một cô gái yếu ớt mà can đảm (….). Cô bé là điểm tựa
vững chắc của người mẹ đáng thương, biết chăm sóc, lo toan
khi mẹ phải đến tòa án huyện.
b. Thằng Phác:
Rất thương mẹ. Phác thương mẹ theo kiểu một đứa con
còn nhỏ, theo cái cách một đứa con trai vùng biển: nó “lặng lẽ
đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như
muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ
chằng chịt”, “nó tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền
rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”.
8.Nhan đề văn bản
- Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là biểu tượng của nghệ thụât, đó
là thứ nghệ thụât đạt tới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức mà
chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình được thanh
lọc.
- Chiếc thuyền khi về gần đó lại là hiện thân của cuộc đời lam lũ,
khó nhọc, thậm chí của những éo le, trái ngang và nghịch lí trong
cuộc sống.
- Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng cuộc đời
thì lại rất gần. Người nghệ sĩ cần có một khoảng cách nhất định để
khám phá và thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thụât nhưng
lại cũng cần bám sát cuộc đời để phát hiện ra những sự thật của
cuộc sống.
-Nhan đề là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật !
9.Tấm ảnh trong “bộ lịch năm ấy”.
-Mỗi lần nhìn kĩ vào bức ảnh đen trắng, người nghệ sĩ thấy “hiện
lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai
” (đó là chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời, cũng là biểu
tượng của nghệ thuật). Và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng
thấy “người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh” (đó là hiện
thân của những lam lũ, khốn khó, là sự thật cuộc đời).
-Ý nghĩa: Vẻ đẹp nghệ thuật hài hoà trong vẻ đẹp cuộc đời qua bóng
dáng người đàn bà;Nghệ thuật chân chính không thể tách rời, thoát
li cuộc sống;Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời
III, Tổng kết
1, Nghệ thuật
- Tình huống truyện được xây dựng trên tinh thần của sự mâu thuẫn,
tương phản .Tạo tình huống mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời
sống:
+ Phùng phát hiện ra vẻ đẹp của “chiếc thuyền ngoài xa” trên biển mờ
sương.
+ Phùng lại phát hiện ra tiếp theo sau đó là sự thật tàn nhẫn bên trong
chiếc thuyền.
+ Phùng lại phát hiện ra tiếp theo sau đó là sự thật tàn nhẫn bên trong
chiếc thuyền.
+ Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã nói rõ nguyên
nhân của “ nghịch lí” đó.
Các tình huống truyện cứ thế, nối tiếp nhau trong mạch truyện
và được Nguyễn Minh Châu đẩy lên cao trào, ngày càng xoáy
sâu hơn nữa để phát hiện tính cách con người, phát hiện sự thật
cuộc đời.
- Hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng
- Giọng văn nhỏ nhẹ, thấm thía
- Nhân vật người kể chuyện
- Vẻ đẹp văn xuôi toát ra từ tình yêu thương con người…
- Ngôn ngữ của người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật Phùng,
sự hóa thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra
một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá
đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết
2, Nội dung
- Một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con
người: một cách nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản
chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
- Trái tim nhân hậu của nhà văn
3.Giá trị nhân đạo của tác phẩm:
- Qua hình ảnh người đàn bà, tác giả thể hiện sự quan tâm đến
những con người bất hạnh và khẳng định những phẩm chất tốt
đẹp của họ: Dù khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn khát khao
hạnh phúc bình dị, khát khao cuộc sống no đủ, bình yên.
-Tác giả phê phán nạn bạo hành trong gia đình – một mảng tối
của xã hội đương đại.
4.Chủ đề
Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc
của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật chân chính
phải luôn gắn với cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận
cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc. Tác phẩm
cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia
đình và hậu quả khôn lường của nó.
5. Kêt luận
Từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật về sự thật cuộc đời
đằng sau bức ảnh, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa mang
đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và:
một cách nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật
sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Cách khắc họa nhân vật,
xây dựng cốt truyện, sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo
đã góp phần làm nổi bật chủ đề - tư tưởng của tác phẩm.
Luyện tập:
Quan niệm nghệ thuật của nhà văn nào dưới đây có điểm khác
cơ bản so với quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh
Châu trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa:
A. Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật
không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau
khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than ( Nam Cao)
B.Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những
người cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết phải là sự thực ở
đời ( Vũ Trọng Phụng)
C. Nghệ thuật không phải là sự mô tả thực tại có thực mà là sự
tìm tòi chân lí, lý tưởng. ( G.Xăng)
D. Văn học là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không
vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát , cũng là đích đi tới
của văn học. ( Tố Hữu)
PHÙNG – NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH
Bức ảnh được chọn
Chánh
án
Phát hiện cuả Phùng
Cảnh đẹp
đầy thơ mộng
Cảnh bạo lực
trong gia đình
thuyền chài
Đẩu
Câu chuyện
của người
đàn bà
ở toà án huyện
Cái nhìn đa diện nhiều chiều về cuộc sống và con người
Giờ học đã hết, xin trân trọng cảm ơn
các thầy cô giáo và các em học sinh!
 







Các ý kiến mới nhất