Kỹ năng làm bài Nghị luận văn học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Chu Sỹ Nhất (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:54' 03-05-2023
Dung lượng: 501.5 KB
Số lượt tải: 184
Nguồn: st
Người gửi: Chu Sỹ Nhất (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:54' 03-05-2023
Dung lượng: 501.5 KB
Số lượt tải: 184
Số lượt thích:
0 người
C
KĨ NĂNG LÀM BÀI NLVH
A
I
CH
SẺ
H
N
KI IỆM
H
G
N
I. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Văn bản
Văn học trung đại
Thơ hiện đại Việt Nam sau năm 1945
Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1945
2. Các dạng đề cơ bản:
-Nghị luận về một đoạn trích thơ
-Nghị luận về một đoạn trích truyện
II. Dàn ý các dạng bài thường gặp:
1. Dàn ý bài nghị luận về nhân vật trong tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích):
a. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm;
- Nêu nhiệm vụ nghị luận, nhận xét.
b. Thân bài:
* Phân tích/cảm nhận về nhân vật:
- Hoàn cảnh của nhân vật
- Ngoại hình (nếu có)
- Tính cách và phẩm chất nhân vật (chú ý các sự kiện chính, các biến cố, hành
động, tâm trạng thái độ nhân vật...)
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của hình tượng nhân vật
c. Kết bài:
- Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc.
- Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó
2.Dàn ý bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
* Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ, nêu nhận xét khái
quát về đoạn thơ, bài thơ đó.
* Thân bài: Lần lượt trình bày những cảm nhận, suy nghĩ,
đánh giá về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
* Kết bài: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
Lưu ý:
+ Nắm chắc về vị trí, phong cách sáng tác, đề tài sáng tác
của tác giả.
+ Thuộc lòng bài thơ, nắm được hoàn cảnh sáng tác của bài
thơ.
+ Đặc sắc về nội dung, nghệ thuật: thể thơ, hình ảnh thơ,
mạch cảm xúc; Với đoạn thơ, cần nắm được vị trí của đoạn
đó trong cả bài thơ.
+ Kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, …
+ Thường xuyên trau dồi kiến thức, đọc tài liệu để khi làm
có thể mở rộng, đối chiếu với các đoạn thơ, bài thơ có cùng
đề tài.
III. Các lỗi thường gặp của HS khi làm văn nghị luận
văn học:
1.Lỗi về kiểu bài: Không phân biệt được kiểu bài dẫn đến bài viết thường
giống nhau dù yêu cầu của đề bài rất khác nhau.
2.Lỗi về bố cục: bố cục nội dung không rõ dẫn đến hình thức trình bày lộn
xộn, thiếu mạch lạc.
3.Lỗi về diễn đạt và lập luận:
-lỗi diễn đạt chủ yếu là trình bày không rõ ý (tối nghĩa)
-Lỗi lập luận chủ yếu là do thiếu sự chặt chẽ trong việc xác định ý và vận
dụng không thành thạo các thao tác lập luận.
4.Lỗi về tìm ý và lập dàn ý: đây là loại lỗi rất quan trọng ảnh hưởng đến kết
quả làm bài cũng như rèn luyện tư duy của HS. Lỗi thường gặp là: lạc đề, lạc ý,
ý nghèo nàn…
IV. Cách khắc phục
1.HS cần củng cố kiến thức một cách hệ thống (nên thực hiện qua sơ đồ tư
duy). Đây cũng là bước đầu tiên giúp HS kiểm tra lại kiến thức đã học, nắm
được kiến thức trong tâm, cốt lõi.
2.Ôn tập tất cả các VB (tác phẩm) trong chương trình ngữ văn 9 theo yêu
cầu. Nhưng phải xác định được nội dung ôn luyện theo từng trọng điểm,
tránh dàn trải
3.Học văn theo từng ý, sử dụng các từ khóa một cách ngắn gọn, đơn giản sẽ
giúp HS nhanh hiểu bài nhất, tránh học thuộc lòng và học vẹt. Hệ thống ý
của mỗi bài, mỗi vấn đề càng rành mạch, sắp xếp càng hệ thống và nổi bật thì
càng dễ nhớ
Cách khắc phục
4.Khi luyện đề, cần cho HS thực hiện dưới cả hai hình thức: lập dàn ý chi tiết
và viết thành bài hoàn chỉnh, luyện càng nhiều càng tốt. Đây là hình thức
củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phương pháp làm bài tốt nhất.
5.Khi ôn thi môn ngữ văn, HS nên liên hệ giữa kiến thức trong SGK với thực
tế đời sống, kiến thức sẽ trở nên sinh động, gần gũi và hấp dẫn hơn.
6.Khi làm bài, HS cần đảm bảo đúng cấu trúc của một bài văn, gồm có: MB
(là một đoạn văn khoảng 6-10 dòng), TB (gồm nhiều đoạn văn nhỏ, mỗi ý viết
thành một đoạn văn hòan chỉnh), KB (là một đoạn văn khoảng 6-10 dòng).
Đây là phần có khả năng phân hóa thí sinh cao nên cần viết sâu sắc, tinh tế,
toàn diện.
V. Các lỗi có thể gặp của GV
khi hướng dẫn HS làm văn phần nghị luận văn học:
1.GV quá cẩn thận, quá lo lắng nên hướng dẫn HS học phần phân
tích văn bản quá dài, quá chi tiết khiến HS khó nhớ và thiếu tính
chủ động, sáng tạo
2.GV quá chú trọng vào phần phân tích mà quên đi các yêu cầu căn
bản khác trong chuỗi yêu cầu của một bài làm văn
VI. Những yêu cầu cơ bản về kĩ năng của một bài làm
NLVH theo cấu trúc của Sở GD:
Đề tuyển sinh năm 2022-2023
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, SGK Ngữ văn 9,
tập 1, NXBGDVN, tr.140)
Nội dung
Điểm
Cảm nhận đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng…Nuôi lớn đời ta tự buổi
nào”
5,0
a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
MB nêu được vấn đề, TB triển khai được vấn đề, KB khái quát được vấn đề
0,25
b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Cảm nhận về đoạn thơ “Thuyền ta lái gió…tự buổi nào”
-Thí sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm
-Thí sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm
0,5
c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập
luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, đảm bảo các yêu cầu sau
*Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá, đoạn thơ
0,5
*Cảm nhận về đoạn thơ
-Cảm nhận đầy đủ, sâu sắc về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ: 2,25-2,5đ
-Cảm nhận đầy đủ nhưng chưa sâu hoặc sâu nhưng chưa đầy đủ: 1,5-2,0đ
-Cảm nhận chưa đầy đủ hoặc chung chung, chưa rõ: 0,75-1,25đ
-Cảm nhận sơ lược, lan man, thiếu trọng tâm: 0,25-0,5đ
2,5
*Đánh giá
0,5
d.Chính tả, ngữ pháp
0,25
e.Sáng tạo:
0,5
IV. Cách triển khai phần luận điểm để HS tự học, tự rèn
1. Triển khai bài học dưới dạng khung cột kết hợp với sơ đồ tư
duy (chi tiết khoảng 2 bài)
2.Khi triển khai kiến thức cần chia nghệ thuật, nội dung thật
rành mạch
3.Phần kiến thức cần nhớ của HS phải đầy đủ nhưng ngắn gọn
dưới dạng sơ đồ tư duy
4. Đầu tư thời gian, tâm huyết để hướng dẫn các em viết thành
bài dựa trên cơ sở của sơ đồ tư duy, chấm chữa chi tiết, nhận xét
cụ thể và hướng dẫn các em cách khắc phục
Lưu ý: Muốn làm được điều đó, chúng ta phải dạy thật kĩ về các
BPTT (Điều này cũng giúp ích rất nhiều cho HS làm phần đọchiểu), áp dụng trực tiếp vào các tiết dạy trên lớp học (HS phải
tìm ra các BPTT để cảm nhận, phân tích bài thơ)
VII. BÀI MINH HỌA
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của những câu thơ sau:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
Nghệ thuật
-Hình ảnh thơ giản dị, nhà thơ như
mở rộng mọi giác quan để cảm nhận
mùa thu: hương ổi- khứu giác, gió sexúc giác, sương chùng chình- thị giác
-”Bỗng nhận ra”
-Tín hiệu: “gió se”, “hương ổi”
-Động từ “phả”
Nội dung
-Thể hiện sự rung cảm, đồng điệu của
nhà thơ với cảnh vật
-Cảm xúc đến bất ngờ, tự nhiên như
không hề báo trước
-mùi hương đặc trưng của đồng bằng Bắc
bộ
-Nó đến nhẹ nhàng, bay bổng, thật khẽ,
thật êm
-Nhấn mạnh sự hòa quyện, bay bổng,
nhẹ nhàng
-Hương ổi phải thật sánh, thật đậm đặc,
làn gió heo may se lạnh của mùa thu
mang hương sắc tràn ngập không gian
-Hương ổi thanh khiết, quánh lại, nồng
nàn,
nhẹ ổi
lankhông
trongbị
gió-Hương
động mà chủ động
phả vào làn gió chớm lạnh của mùa thu,
ngỡ ngàng, bâng khuâng
-Nhân hóa “sương chùng
chình”
- “Hình như thu đã về”
-Tạo nên nét rất duyên của mùa thu
-Làn sương mỏng manh như khói đang ngập
ngừng giăng mắc khắp đương thôn, ngõ xóm
-Diễn tả bước đi chầm chậm, nhẹ nhàng mang
thần thái của mùa thu
-Chất chứa bao tâm trạng, như chờ đợi ai, lưu
luyến ai mà ngập ngừng chưa muốn bước qua
cửa ngõ của thời gian
-Một chút hoài nghi, bâng khuâng
-Là tiếng reo vui đầy ngỡ ngàng
-Thu đến bất ngờ làm con người ngất ngây
như đã chờ đợi từ rất lâu mà vẫn vấn vương,
bịn rịn
-Phải chăng nhà thơ đang lảng tránh “mùa
thu” của chính mình?
Nghệ thuật
-Hình ảnh thơ giản dị, nhà thơ như
mở rộng mọi giác quan để cảm nhận
mùa thu: hương ổi- khứu giác, gió sexúc giác, sương chùng chình- thị giác
-”Bỗng nhận ra”
-Tín hiệu: “gió se”, “hương ổi”
-Động từ “phả”
Nội dung
-Thể hiện sự rung cảm, đồng điệu của
nhà thơ với cảnh vật
-Cảm xúc đến bất ngờ, tự nhiên như
không hề báo trước
-mùi hương đặc trưng của đồng bằng Bắc
bộ
-Nó đến nhẹ nhàng, bay bổng, thật khẽ,
thật êm
-Nhấn mạnh sự hòa quyện, bay bổng,
nhẹ nhàng
-Hương ổi phải thật sánh, thật đậm đặc,
làn gió heo may se lạnh của mùa thu
mang hương sắc tràn ngập không gian
-Hương ổi thanh khiết, quánh lại, nồng
nàn,
nhẹ ổi
lankhông
trongbị
gió-Hương
động mà chủ động
phả vào làn gió chớm lạnh của mùa thu,
ngỡ ngàng, bâng khuâng
-Nhân hóa “sương chùng
chình”
- “Hình như thu đã về”
-Tạo nên nét rất duyên của mùa thu
-Làn sương mỏng manh như khói đang ngập
ngừng giăng mắc khắp đương thôn, ngõ xóm
-Diễn tả bước đi chầm chậm, nhẹ nhàng mang
thần thái của mùa thu
-Chất chứa bao tâm trạng, như chờ đợi ai, lưu
luyến ai mà ngập ngừng chưa muốn bước qua
cửa ngõ của thời gian
-Một chút hoài nghi, bâng khuâng
-Là tiếng reo vui đầy ngỡ ngàng
-Thu đến bất ngờ làm con người ngất ngây
như đã chờ đợi từ rất lâu mà vẫn vấn vương,
bịn rịn
-Phải chăng nhà thơ đang lảng tránh “mùa
thu” của chính mình?
Nghệ thuật
-Hình ảnh thơ giản dị, nhà thơ như
mở rộng mọi giác quan để cảm nhận
mùa thu:hương ổi- khứu giác, gió sexúc giác, sương chùng chình- thị giác
-”Bỗng nhận ra”
Nội dung
-Cảm xúc đến bất ngờ, tự nhiên như
không hề báo trước
-Tín hiệu: “gió se”, “hương ổi”
-mùi hương đặc trưng của đồng bằng Bắc
bộ
-Động từ “phả”
-Hương ổi không bị động mà chủ động
phả vào làn gió chớm lạnh của mùa thu,
ngỡ ngàng, bâng khuâng
-Nhân hóa “sương chùng chình”
-Chất chứa bao tâm trạng, như chờ đợi
ai, lưu luyến ai mà ngập ngừng chưa
muốn bước qua cửa ngõ của thời gian
“Hình như thu đã về”
-Phải chăng nhà thơ đang lảng tránh
“mùa thu” của chính mình?
CHÚC CÁC ĐỒNG CHÍ
ÔN TẬP ĐẠT
CHẤT LƯỢNG CAO
TRONG KỲ THI
VÀO THPT
NĂM HỌC 2023- 2024
KĨ NĂNG LÀM BÀI NLVH
A
I
CH
SẺ
H
N
KI IỆM
H
G
N
I. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Văn bản
Văn học trung đại
Thơ hiện đại Việt Nam sau năm 1945
Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1945
2. Các dạng đề cơ bản:
-Nghị luận về một đoạn trích thơ
-Nghị luận về một đoạn trích truyện
II. Dàn ý các dạng bài thường gặp:
1. Dàn ý bài nghị luận về nhân vật trong tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích):
a. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm;
- Nêu nhiệm vụ nghị luận, nhận xét.
b. Thân bài:
* Phân tích/cảm nhận về nhân vật:
- Hoàn cảnh của nhân vật
- Ngoại hình (nếu có)
- Tính cách và phẩm chất nhân vật (chú ý các sự kiện chính, các biến cố, hành
động, tâm trạng thái độ nhân vật...)
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của hình tượng nhân vật
c. Kết bài:
- Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc.
- Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó
2.Dàn ý bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
* Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ, nêu nhận xét khái
quát về đoạn thơ, bài thơ đó.
* Thân bài: Lần lượt trình bày những cảm nhận, suy nghĩ,
đánh giá về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
* Kết bài: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
Lưu ý:
+ Nắm chắc về vị trí, phong cách sáng tác, đề tài sáng tác
của tác giả.
+ Thuộc lòng bài thơ, nắm được hoàn cảnh sáng tác của bài
thơ.
+ Đặc sắc về nội dung, nghệ thuật: thể thơ, hình ảnh thơ,
mạch cảm xúc; Với đoạn thơ, cần nắm được vị trí của đoạn
đó trong cả bài thơ.
+ Kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, …
+ Thường xuyên trau dồi kiến thức, đọc tài liệu để khi làm
có thể mở rộng, đối chiếu với các đoạn thơ, bài thơ có cùng
đề tài.
III. Các lỗi thường gặp của HS khi làm văn nghị luận
văn học:
1.Lỗi về kiểu bài: Không phân biệt được kiểu bài dẫn đến bài viết thường
giống nhau dù yêu cầu của đề bài rất khác nhau.
2.Lỗi về bố cục: bố cục nội dung không rõ dẫn đến hình thức trình bày lộn
xộn, thiếu mạch lạc.
3.Lỗi về diễn đạt và lập luận:
-lỗi diễn đạt chủ yếu là trình bày không rõ ý (tối nghĩa)
-Lỗi lập luận chủ yếu là do thiếu sự chặt chẽ trong việc xác định ý và vận
dụng không thành thạo các thao tác lập luận.
4.Lỗi về tìm ý và lập dàn ý: đây là loại lỗi rất quan trọng ảnh hưởng đến kết
quả làm bài cũng như rèn luyện tư duy của HS. Lỗi thường gặp là: lạc đề, lạc ý,
ý nghèo nàn…
IV. Cách khắc phục
1.HS cần củng cố kiến thức một cách hệ thống (nên thực hiện qua sơ đồ tư
duy). Đây cũng là bước đầu tiên giúp HS kiểm tra lại kiến thức đã học, nắm
được kiến thức trong tâm, cốt lõi.
2.Ôn tập tất cả các VB (tác phẩm) trong chương trình ngữ văn 9 theo yêu
cầu. Nhưng phải xác định được nội dung ôn luyện theo từng trọng điểm,
tránh dàn trải
3.Học văn theo từng ý, sử dụng các từ khóa một cách ngắn gọn, đơn giản sẽ
giúp HS nhanh hiểu bài nhất, tránh học thuộc lòng và học vẹt. Hệ thống ý
của mỗi bài, mỗi vấn đề càng rành mạch, sắp xếp càng hệ thống và nổi bật thì
càng dễ nhớ
Cách khắc phục
4.Khi luyện đề, cần cho HS thực hiện dưới cả hai hình thức: lập dàn ý chi tiết
và viết thành bài hoàn chỉnh, luyện càng nhiều càng tốt. Đây là hình thức
củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phương pháp làm bài tốt nhất.
5.Khi ôn thi môn ngữ văn, HS nên liên hệ giữa kiến thức trong SGK với thực
tế đời sống, kiến thức sẽ trở nên sinh động, gần gũi và hấp dẫn hơn.
6.Khi làm bài, HS cần đảm bảo đúng cấu trúc của một bài văn, gồm có: MB
(là một đoạn văn khoảng 6-10 dòng), TB (gồm nhiều đoạn văn nhỏ, mỗi ý viết
thành một đoạn văn hòan chỉnh), KB (là một đoạn văn khoảng 6-10 dòng).
Đây là phần có khả năng phân hóa thí sinh cao nên cần viết sâu sắc, tinh tế,
toàn diện.
V. Các lỗi có thể gặp của GV
khi hướng dẫn HS làm văn phần nghị luận văn học:
1.GV quá cẩn thận, quá lo lắng nên hướng dẫn HS học phần phân
tích văn bản quá dài, quá chi tiết khiến HS khó nhớ và thiếu tính
chủ động, sáng tạo
2.GV quá chú trọng vào phần phân tích mà quên đi các yêu cầu căn
bản khác trong chuỗi yêu cầu của một bài làm văn
VI. Những yêu cầu cơ bản về kĩ năng của một bài làm
NLVH theo cấu trúc của Sở GD:
Đề tuyển sinh năm 2022-2023
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, SGK Ngữ văn 9,
tập 1, NXBGDVN, tr.140)
Nội dung
Điểm
Cảm nhận đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng…Nuôi lớn đời ta tự buổi
nào”
5,0
a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
MB nêu được vấn đề, TB triển khai được vấn đề, KB khái quát được vấn đề
0,25
b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Cảm nhận về đoạn thơ “Thuyền ta lái gió…tự buổi nào”
-Thí sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm
-Thí sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm
0,5
c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập
luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, đảm bảo các yêu cầu sau
*Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá, đoạn thơ
0,5
*Cảm nhận về đoạn thơ
-Cảm nhận đầy đủ, sâu sắc về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ: 2,25-2,5đ
-Cảm nhận đầy đủ nhưng chưa sâu hoặc sâu nhưng chưa đầy đủ: 1,5-2,0đ
-Cảm nhận chưa đầy đủ hoặc chung chung, chưa rõ: 0,75-1,25đ
-Cảm nhận sơ lược, lan man, thiếu trọng tâm: 0,25-0,5đ
2,5
*Đánh giá
0,5
d.Chính tả, ngữ pháp
0,25
e.Sáng tạo:
0,5
IV. Cách triển khai phần luận điểm để HS tự học, tự rèn
1. Triển khai bài học dưới dạng khung cột kết hợp với sơ đồ tư
duy (chi tiết khoảng 2 bài)
2.Khi triển khai kiến thức cần chia nghệ thuật, nội dung thật
rành mạch
3.Phần kiến thức cần nhớ của HS phải đầy đủ nhưng ngắn gọn
dưới dạng sơ đồ tư duy
4. Đầu tư thời gian, tâm huyết để hướng dẫn các em viết thành
bài dựa trên cơ sở của sơ đồ tư duy, chấm chữa chi tiết, nhận xét
cụ thể và hướng dẫn các em cách khắc phục
Lưu ý: Muốn làm được điều đó, chúng ta phải dạy thật kĩ về các
BPTT (Điều này cũng giúp ích rất nhiều cho HS làm phần đọchiểu), áp dụng trực tiếp vào các tiết dạy trên lớp học (HS phải
tìm ra các BPTT để cảm nhận, phân tích bài thơ)
VII. BÀI MINH HỌA
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của những câu thơ sau:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
Nghệ thuật
-Hình ảnh thơ giản dị, nhà thơ như
mở rộng mọi giác quan để cảm nhận
mùa thu: hương ổi- khứu giác, gió sexúc giác, sương chùng chình- thị giác
-”Bỗng nhận ra”
-Tín hiệu: “gió se”, “hương ổi”
-Động từ “phả”
Nội dung
-Thể hiện sự rung cảm, đồng điệu của
nhà thơ với cảnh vật
-Cảm xúc đến bất ngờ, tự nhiên như
không hề báo trước
-mùi hương đặc trưng của đồng bằng Bắc
bộ
-Nó đến nhẹ nhàng, bay bổng, thật khẽ,
thật êm
-Nhấn mạnh sự hòa quyện, bay bổng,
nhẹ nhàng
-Hương ổi phải thật sánh, thật đậm đặc,
làn gió heo may se lạnh của mùa thu
mang hương sắc tràn ngập không gian
-Hương ổi thanh khiết, quánh lại, nồng
nàn,
nhẹ ổi
lankhông
trongbị
gió-Hương
động mà chủ động
phả vào làn gió chớm lạnh của mùa thu,
ngỡ ngàng, bâng khuâng
-Nhân hóa “sương chùng
chình”
- “Hình như thu đã về”
-Tạo nên nét rất duyên của mùa thu
-Làn sương mỏng manh như khói đang ngập
ngừng giăng mắc khắp đương thôn, ngõ xóm
-Diễn tả bước đi chầm chậm, nhẹ nhàng mang
thần thái của mùa thu
-Chất chứa bao tâm trạng, như chờ đợi ai, lưu
luyến ai mà ngập ngừng chưa muốn bước qua
cửa ngõ của thời gian
-Một chút hoài nghi, bâng khuâng
-Là tiếng reo vui đầy ngỡ ngàng
-Thu đến bất ngờ làm con người ngất ngây
như đã chờ đợi từ rất lâu mà vẫn vấn vương,
bịn rịn
-Phải chăng nhà thơ đang lảng tránh “mùa
thu” của chính mình?
Nghệ thuật
-Hình ảnh thơ giản dị, nhà thơ như
mở rộng mọi giác quan để cảm nhận
mùa thu: hương ổi- khứu giác, gió sexúc giác, sương chùng chình- thị giác
-”Bỗng nhận ra”
-Tín hiệu: “gió se”, “hương ổi”
-Động từ “phả”
Nội dung
-Thể hiện sự rung cảm, đồng điệu của
nhà thơ với cảnh vật
-Cảm xúc đến bất ngờ, tự nhiên như
không hề báo trước
-mùi hương đặc trưng của đồng bằng Bắc
bộ
-Nó đến nhẹ nhàng, bay bổng, thật khẽ,
thật êm
-Nhấn mạnh sự hòa quyện, bay bổng,
nhẹ nhàng
-Hương ổi phải thật sánh, thật đậm đặc,
làn gió heo may se lạnh của mùa thu
mang hương sắc tràn ngập không gian
-Hương ổi thanh khiết, quánh lại, nồng
nàn,
nhẹ ổi
lankhông
trongbị
gió-Hương
động mà chủ động
phả vào làn gió chớm lạnh của mùa thu,
ngỡ ngàng, bâng khuâng
-Nhân hóa “sương chùng
chình”
- “Hình như thu đã về”
-Tạo nên nét rất duyên của mùa thu
-Làn sương mỏng manh như khói đang ngập
ngừng giăng mắc khắp đương thôn, ngõ xóm
-Diễn tả bước đi chầm chậm, nhẹ nhàng mang
thần thái của mùa thu
-Chất chứa bao tâm trạng, như chờ đợi ai, lưu
luyến ai mà ngập ngừng chưa muốn bước qua
cửa ngõ của thời gian
-Một chút hoài nghi, bâng khuâng
-Là tiếng reo vui đầy ngỡ ngàng
-Thu đến bất ngờ làm con người ngất ngây
như đã chờ đợi từ rất lâu mà vẫn vấn vương,
bịn rịn
-Phải chăng nhà thơ đang lảng tránh “mùa
thu” của chính mình?
Nghệ thuật
-Hình ảnh thơ giản dị, nhà thơ như
mở rộng mọi giác quan để cảm nhận
mùa thu:hương ổi- khứu giác, gió sexúc giác, sương chùng chình- thị giác
-”Bỗng nhận ra”
Nội dung
-Cảm xúc đến bất ngờ, tự nhiên như
không hề báo trước
-Tín hiệu: “gió se”, “hương ổi”
-mùi hương đặc trưng của đồng bằng Bắc
bộ
-Động từ “phả”
-Hương ổi không bị động mà chủ động
phả vào làn gió chớm lạnh của mùa thu,
ngỡ ngàng, bâng khuâng
-Nhân hóa “sương chùng chình”
-Chất chứa bao tâm trạng, như chờ đợi
ai, lưu luyến ai mà ngập ngừng chưa
muốn bước qua cửa ngõ của thời gian
“Hình như thu đã về”
-Phải chăng nhà thơ đang lảng tránh
“mùa thu” của chính mình?
CHÚC CÁC ĐỒNG CHÍ
ÔN TẬP ĐẠT
CHẤT LƯỢNG CAO
TRONG KỲ THI
VÀO THPT
NĂM HỌC 2023- 2024
 







Các ý kiến mới nhất