Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 22. Tràng giang

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Huyền Mỹ
Ngày gửi: 21h:38' 12-06-2023
Dung lượng: 22.5 MB
Số lượt tải: 435
Số lượt thích: 1 người (Triệu trung trực)
Tràng Giang
Huy Cận

1. Tác giả Huy Cận: ( 1919 – 2005 )
- Tên thật là Cù Huy Cận ,sinh ra trong một gia đình nhà nho
tại làng Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Học trung học ở Huế, học cao đẳng canh nông ở Hà Nội.
- Là một trong những nhà thơ lãng mạng sớm đi với Cách
mạng, thành đạt trong sáng tác thi ca và trên con đường
phụng sự Tổ Quốc.

* Tác phẩm tiêu biểu: Lửa thiêng (1941), Vũ trụ
ca(1942),Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa (1960), Bài
thơ cuộc đời (1963), Ngôi nhà giữa nắng (1978), …
* Phong cách thơ Huy Cận :
- Trước Cách mạng tháng Tám: thơ Huy Cận thấm đẫm
một nỗi buồn. Nhà thơ thường khắc hoạ những cảnh lụi
tàn, bơ vơ, hoang vắng, chia lìa
- Sau Cách mạng tháng Tám: Huy Cận sáng tác dồi dào & có
nhiều đổi mới, tìm thấy sự hoà điệu giữa con người và xã
hội.

Chân dung của Huy Cận theo thời gian

Nhà thơ Huy Cận (trái) và Xuân Diệu (phải)

2. Bài thơ Tràng Giang:
a.Xuất xứ
Trích trong tập Lửa thiêng, 1940
b.Hoàn cảnh sáng tác :
- Theo tác giả, bài thơ được viết vào một buổi chiều mùa
thu năm 1939 , khi tác giả đứng ở bờ Nam bến Chèm nhìn
cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước

C.Nhan đề và lời đề từ:
- Tràng Giang: từ Hán Việt→cổ điển, không gian mênh mông bát
ngát của dòng sông
-Lời đề từ: •Cảnh: trời rộng, sông dài cảm xúc chủ đạo
•Tình: bâng khuâng, nhớ
của bài thơ
d.Bố cục: 2 đoạn
+ Đoạn 1: gồm 3 khổ đầu
Bức tranh thiên nhiên trên sông, bên sông nỗi cô đơn, hòa chung nỗi
sầu nhân thế.
+ Đoạn 2 : khổ cuối
Mượn bức tranh thiên nhiên sông dài trời rộngnỗi buồn cô đơn giữa
kiếp người và tấm lòng thương nhớ quê hương

1/ Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ:
Khổ 1:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng

* Không gian sông nước mênh mông:
- Sóng gợn tràng giang
-Nước song song
-Lạc mấy dòng
* Hình ảnh:
- Con thuyền xuôi mái: thuyền buông trôi theo dòng nước
 cảm giác trễ nại, phó mặc
- Thuyền về nước lại: thuyền-nước vận động trái chiều,
chia lìa, không nối kết gợi nỗi sầu, chia li, tan tác
- Củi một cành khô lạc mấy dòng: sự chìm nổi, cô đơn,
lênh đênh, lạc loài giữa sông nước mênh mông
 những kiếp người nhỏ bé bơ vơ
cảm giác về sự cô đơn, lẻ loi của con người trong trời
đất

* Từ ngữ:
-Buồn điệp điệp
-Sầu trăm ngả

→gợi nỗi buồn thương da diết,
miên man không dứt

Với cách sử dụng từ láy và nghệ thuật đối uyển
chuyển, linh hoạt, âm điệu thơ nhịp nhàng, trầm
buồn,vần gieo gián cáchBức tranh sông nước tràng
giang mênh mông, bát ngát, mang đậm màu sắc cổ
điển, gợi nỗi buồn mênh mang trong lòng ngườinỗi
buồn của nhà thơ lan tỏa khắp sông nước, tâm hồn thi
sĩ đã nhập cảnh trọn vẹn.

* Khổ 2: Cảnh sông nước mênh mông
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Hai câu thơ đầu: cảnh sông nước hoang sơ
-Không gian: cồn nhỏ lơ thơ gợi lên cái vắng lặng,lạnh
lẽo cô đơn đến rợn ngợp
gió đìu hiu
-Âm thanh: tiếng chợ chiều →gợi sự tàn tạ,vắng vẻ
Hai câu thơ sau: Vũ trụ rộng lớn
-Hình ảnh: nắng xuống >< trời lên
sâu chót vót từ ngữ lạ hóa
→gợi chiều dài (sông), rộng (trời), cao, sâu (trời lên)
ngút ngàn của không gian
-Sông dài, trời rộng > < bến cô liêu
(mênh mông, vô cùng)

( nhỏ bé)

→làm tăng thêm sự vắng vẻ, lẻ loi, cô độc

Với cách sử dụng từ độc đáo, âm hưởng trầm
bổng,Huy Cận như muốn lấy âm thanh để xoá
nhoà không gian buồn tẻ hiện hữu nhưng không
được, nỗi buồn chiếm cả không gian, đất trời ,
vũ trụ

* Khổ 3: Cảnh sông nước tĩnh lặng và nỗi buồn nhân thế

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

- Không gian:

Bèo

Dạt

Bờ xanh bãi vàng
Lặng lẽ
Hình ảnh “bèo”, câu hỏi “về đâu”: thân phận, kiếp người nổi trôi
vô định
- Phủ định từ: “không”
đẩy sự cô đơn, lẻ loi lên đến
Không cầu, không đò đỉnh điểm
khao khát tình người, tình đời

Nỗi buồn trước cảnh vật của nhà thơ luôn song hành
và gắn chặt với nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cảnh
quê hương đất nước, trong vòng nô lệ.

**Tóm lại: Ba khổ thơ biểu hiện cho niềm tha
thiết với thiên nhiên tạo vật. Đó là một bức tranh
thiên nhiên thấm đượm tình người, mang nặng
nỗi buồn bâng khuâng, nỗi bơ vơ của kiếp
người, và đằng sau nỗi buồn về sông núi là nỗi
buồn của người dân thuộc địa trước cảnh giang
sơn bị mất chủ quyền

2/ Khổ 4: Tình yêu và nỗi nhớ quê hương

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

* 2 câu thơ đầu: Cảnh hoàng hôn
-Hình ảnh ước lệ,cổ điển: ảnh hưởng của thơ Đường
Lớp lớp mây đùn núi
Bức tranh thiên nhiên
đẹp hùng vĩ, tráng lệ

><

Chim nghiêng cánh nhỏ
Cô đơn, bơ vơ, nhỏ
nhoi đến tội nghiệp

bức tranh chiều tà đẹp hùng vĩ, êm ả,thơ mộng

-Tâm trạng thi nhân: nỗi nhớ quê hương
Lòng quê dợn dợn
Không khói…..nhớ nhà
+Lòng quê: là tình quê, là tấm lòng là toàn tâm toàn ý
hướng về quê hương. Nỗi nhớ quê giống như những đợt
song cứ trào dâng từng đợt
+“Dợn dợn”: Từ láy gợi xúc cảm mãnh liệt, tác động vào xúc
giác của con người  nỗi nhớ quê từ cõi lòng, dội lên
+Khói hoàng hôn: mượn ý của thơ của nhà thơ Thôi Hiệu
“Trên song khói song cho buồn lòng ai”
Nhà thơ Huy Cận không cần phải có khói song trên sông
cũng nhớ nhàNỗi nhớ mãnh liệt, sâu thẳm, da diết
Nhớ quê suy cho cùng là nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình, quê
hương đất nước
Nỗi nhớ quê trở thành một điểm tựu vững chắc trong tâm
hồn thi nhân

 âm hưởng Đường thi nhưng có sự sáng tạo
→nỗi buồn,nhớ quê hương da diết, sâu lắng

Đằng sau nỗi buồn,nỗi sầu trước không gian và
vũ trụ là tâm sự yêu nước thầm kín của một trí
thức bơ vơ,bế tắc trước cuộc đời

III.TỔNG KẾT:
1.Nội dung: Nỗi buồn trước cảnh trời rộng sông dài,tâm
trạng bơ vơ,bế tắt của thi nhân trước cđ,lòng yêu nước
thầm kín
2.Nghệ thuật:
-Thể thơ thất ngôn,thủ pháp tương phản,từ láy,biên
pháp tu từ
-Vẻ đẹp cổ điển, âm điệu trầm buồn,dư ba sâu lắng
-Màu sắc hiện đại trong cách thể hiện tâm trạng và dùng
thi liệu

Huy Cận nói về bài thơ Tràng giang
SUBTOPIC
GOES
HERE
           Một chiều
thu 1939,
tôi đi dạo trên
bờ sông
Cái
•YOUR

(sông Hồng), bằng xe đạp, có đoạn dắt xe đi bộ, thấy
buổi chiều trên đê và trên sông đẹp quá: Nắng chiều
đã nhạt, mây đùn phía núi xa và man mác một nỗi
buồn khó tả, nửa như gần gũi, nửa như xa vời quạnh
hiu. Tôi dừng ở quãng bến Chèm (bây giờ là chân cầu
Thăng Long) và vang lên trong tâm tưởng mấy câu lục
bát:
       Tràng Giang sóng gợn mênh mông
Thuyền trôi xuôi mái, nước song song buồn
      Rêu trôi luồng lại nối luồng
 Về đâu bèo dạt, mây lồng núi xa

• Tôi còn định làm tiếp bài thơ bằng lục bát và đặt tên bài
là Chiều trên sông...
• Nhưng đạp xe về nhà (ở số 40 Hàng Than) lại vang trong
đầu nhạc điệu của thơ bảy chữ, âm hưởng Đường luật
như quyến rũ tai tôi, cổ họng tôi và tôi liền chuyển mấy
câu đầu sang thể bảy âm, bắt được ngay hai câu đầu:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
• Hai câu đầu này sẽ đứng vững nguyên cho đến bản thảo
cuối cùng
• Rồi tôi viết tiếp. câu thứ 3 không khó, nhưng đến câu thứ
4 thì thôi xao
Một chiếc bèo đơn lạc giữa dòng...
Một cánh bèo đơn lạc giữa dòng...
Củi một cành trôi lạc mấy dòng...

• Sau cùng đến bản thảo thứ 14 mới bật ra Củi một
cành trôi khô lạc mấy dòng vừa tự nhiên vừa hàm
ý sâu (đã chết khô rồi mà còn lạc mấy dòng). Chữ
khô hơn hẳn chữ đơn, vì cái ý cô đơn sẽ toát lên từ
toàn bài.
• Đoạn 2 cũng phải tìm, nhưng có sẵn cảnh trước
mắt: Các cồn nhỏ giữa sông... gió hiu hiu... và lại
có trong tâm trí 2 câu của Chinh phụ ngâm,
Non Kỳ lặng lẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gờ
• Cho nên tôi viết ngay được câu Lơ thơ cồn nhỏ gió
đìu hiu nhờ bà Đoàn Thị Điểm... gà cho... nửa câu

Đoạn thứ tư thì tôi học được chữ đùn trong bài
Thu hứng của Đỗ Phủ (bản dịch của Nguyễn Công
Trứ) Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Và tôi viết Lớp lớp
mây cao đùn núi bạc. Cả khổ thơ thứ tư thì tôi buồn
hơnThôi Hiệu nên mới hạ 2 câu: 
Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nhớ câu Yên ba giang thượng sử nhân sầu cốt để
nói mình buồn hơn, cần gì phải có khói, sóng mới nhớ
nhà.
Bài thơ không phải tả cảnh mà tả tâm hồn, trạng
thái tâm hồn, hay nói đúng hơn là mượn cảnh để nói
lòng mình, hồn mình.... Nói đúng hơn nữa là: Hồn đã
nhập vào cảnh cho nên nói đến cảnh là nói đến hồn
vậy.

Thanks for
your listeni
ng
 
Gửi ý kiến